Quá trình hoàn thiện và phát triển của chế độ kế toán Việt Nam - Pdf 15



lời mở đầu
Thực hiện hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN trong điều kiện của cơ chế
thị trờng và xu thế hội nhập quốc tế, công tác kế toán có một vị trí đặc biệt quan
trọng. Hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành của công cụ quản lý kinh tế, tài
chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động
kinh tế.
Trong những năm vừa qua, để phục vụ yêu cầu của công việc đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế, Nhà nớc ta đã thực hiện nhiều biện pháp quan trọng để cải cách và
hoàn thiện hệ thống kế toán của Việt Nam. Hệ thống kế toán của Việt Nam đã có
những đổi mới, tiến bộ, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế.
Trên nền hệ thống kế toán phục vụ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, từ năm
1988 hệ thống kế toán Việt Nam đã đợc thiết lập, xây dựng mới, thoả mãn yêu cầu
kinh tế thị trờng của Việt Nam trên cơ sở vận dụng có chọn lọc các nguyên tắc,
chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc tế. Nhà nớc ta chủ trơng thiết lập nền kinh tế
thị trờng theo định hớng XHCN với bớc đi phù hợp có tính đến vai trò chủ đạo của
kinh tế Nhà nớc.
Yêu cầu đặt ra là phải thúc đẩy kinh tế tăng trởng nhanh, ổn định, thực hiện
điều tiết hợp lý, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân gắn liền với chính
sách xã hội, đảm bảo công bằng xã hội. Quá trình cải cách, phát triển kế toán Việt
Nam cũng cần phải có bớc đi phù hợp với tiến trình cải cách và đổi mới kinh tế.
Yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, yêu cầu của nền kinh tế thị trờng đòi hỏi
phải cải cách triệt để toàn diện hệ thống kế toán của Việt Nam, trong đó sự hoàn
thiện và phát triển của chế độ kế toán Việt Nam giữ một vai trò hết sức quan trọng.
Với mong muốn đợc nâng cao sự hiểu biết của mình về chế độ kế toán Việt
Nam, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này. nhng do thời gian
nghiên cứu và sự hiểu biết còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy em rất mong đợc Thầy góp ý để kiến thức của em ngày càng hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã cung cấp cho em những kiến

trong lĩnh vực tài chính nhà nớc để theo dõi các nghiệp vụ về giao dịch, thanh
toán và buôn bán. Sổ kế toán đã xuất hiện thay cho cách ghi và đánh dấu của thời
nguyên thủy.
Đến thời kỳ phong kiến,sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp với quy mô lớn
gắn liền với sự ra đời của địa chủ và nông dân, với sự ra đời của địa tô phong kiến
Những quan hệ kinh tế mới này đã nảy sinh và tác động đến sự phát triển tiếp
theo của hạch toán kế toán với hệ thống sổ sách phong phú và chi tiết hơn.
Đáng chú ý là thời kỳ t bản chủ nghiã với sự phát triển nhanh chóng của thơng
nghiệp và sau đó cả nông nghiệp. Lúc này các quan hệ trao đổi, buôn bán đợc mở
rộng đặt ra nhu cầu phải hạch toán các mối quan hệ nảy sinh trong quá trình vận
động của các t bản cá biệt. Sự xuất hiện của các đối tợng mới này của kế toán lại
là nguồn gốc cho sự ra đời của phơng pháp đối ứng tài khoản trong kế toán. Cũng
2
từ đó phơng pháp hạch toán kế toán đã đợc hình thành và ứng dụng rộng rãi gồm
một hệ thống hoàn chỉnh : chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp cân đối
kế toán. Tuy nhiên chế độ t hữu về t liệu sản xuất cùng với các quy luật kinh tế t-
ơng ứng lại hạn chế sự phát triển và tính khoa học của hạch toán kế toán. Trong
điều kiện của chủ nghĩa xã hội, với sự xuất hiện của chế độ công hữu về t liệu sản
xuất và với trình độ xã hội hoá cao của nền sản xuất, hạch toán kế toán mới trở
thành môn khoa học chân chính và phát huy đầy đủ vị trí của mình.Về vị trí của
hạch toán dới CNXH V.I.Lênin đã khẳng định : '' CNXH trớc hết là hạch toán ''.
Thật vậy, một nền sản xuất với quy mô ngày càng lớn, với trình độ xã hội hoá và
sức phát triển sản xuất ngày càng cao, với yêu cầu quy luật kinh tế mới phát sinh
không thể không tăng cuờng hạch toán kế toán về mọi mặt. Đồng thời chế độ
XHCN cũng tạo ra những tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng và toàn diện của
hạch toán kế toán.

2)Vai trò, vị trí của thông tin kế toán trong hoạt động quản lý :
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều tìm mọi biện
pháp để sản xuất ra sản phẩm với số lợng nhiều nhất, chất lợng cao nhất, chi phí

dụng số vốn đầu t đó nh thế nào.
Cung cấp thông tin cho các đối tợng cho vay: Ngân hàng, công ty tài chính biết
đợc tình hình thanh toán của doanh nghiệp nh thế nào để đa ra quyết định cho
vay.
Kế toán cũng giúp cho Nhà nớc trong việc hoạch định chính sách, soạn thảo
luật lệ; qua kiểm tra tổng hợp các số liệu kế toán Nhà nớc nắm đợc tình hình
chi phí, lợi nhuận của các đơn vị từ đó đề ra các chính sách về đầu t, thuế vụ
thích hợp.
Cung cấp thông tin cho các cán bộ công nhân viên của đơn vị biết đợc tình
hình phân phối thu nhập và tơng lai của doanh nghiệp nh thế nào
3) Chuyên nghành kế toán, chìa khoá của sự ổn định và duy trì kinh tế ở các
n ớc đang phát triển :
Nghề kế toán là yếu tố quan trọng trong hệ thống kiểm soát cần thiết cho hoạt
động có hiệu quả của chính phủ, các tổ chức của chính phủ, các nghành công
nghiệp và thơng mại. Đặc biệt nghành kế toán đợc cải thiện là yếu tố thiết yếu
nhằm khuyến khích các khoản vay và trợ giúp phát triển và nhằm thu hút thêm đầu
t nớc ngoài trong khu vực t nhân. Điều rõ ràng có thể nhận thấy rằng hiện tại đang
khan hiếm các kế toán viên và thiếu cách thức hạch toán hoàn chỉnh, cả trong khu
vực t hữu và khu vực quốc hữu. Nhận thức này cần phải đợc xem nh một vấn đề
cấp bách. Các chính phủ cần phải thừa nhận sự cần thiết này để có một hạ tầng tài
chính vững chắc và phải công nhận tầm quan trọng về vai trò của các kế toán viên
trong hạ tầng tài chính này về mặt t vấn, báo cáo, đảm bảo độ tin cậy của các
thông tin tài chính, thiết lập cơ chế và hệ thống kiểm soát.
Có một nhận thức chung rằng một cơ cấu kế toán vững mạnh là chìa khoá để
thúc đẩy phát triển kinh tế. Nhng đồng thời cũng có một nhận định rõ ràng rằng
những nguồn lực để tạo ra sự vững mạnh này là hoàn toàn cha đủ.Để có đợc nhận
thức này sẽ phải tốn thời gian và tiền của.Đáng tiếc là cơ cấu kế toán vững mạnh
không đợc xem xét theo tính cấp bách và nguồn lực để tạo ra sự vững mạnh này
thì luôn khan hiếm do phải so sánh các mức đọ u tiên. Hơn nữa ở một số nớc, các
chính sách Chính phủ ở những khu vực không có ảnh hởng đến những giải pháp

làm căn cứ điều chỉnh và chế tài các hành vi, công việc kế toán, giữ vững kỷ cơng,
pháp luật trong chấp hành quy chế tài chính, trình bày và cung cấp thông tin. Sớm
hoàn chỉnh và công bố hệ thống chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán Quốc
gia của Việt Nam trên cơ sở vận dụng có chọn lọc thông lệ và chuẩn mực quốc tế
về kế toán, kiểm toán, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, với năng lực quản
lý kinh tế tài chính của Việt Nam. Đảm bảo thông tin do kế toán xử lý và cung cấp
có độ tin cậy cao, phản ánh trung thực, khách quan và công khai, minh bạch tình
hình tài chính Nhà nớc, tài chính doanh nghiệp. Phát triển mạnh mẽ các hình thức
hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán, sẵn sàng mở cửa hội nhập với các nớc trên
thế giới và trong khu vực. Và cuối cùng, cần khẩn trơng xây dựng đội ngũ chuyên
gia kế toán, kiểm toán giỏi về nghiệp vụ, vững vàng trong xử thế và có đạo đức
nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức nghề kế toán, kiểm toán thể hiện qua tính độc
lập, khách quan, trung thực trong xử lý công việc, trong tạo dựng và đối xử với con
5
số, và là điều kiện mang tính quyết định của lòng tin và chất lợng nghề nghiệp.
Các tổ chức nghề nghiệp (Hội kế toán Việt Nam, Câu lạc bộ kế toán trởng, Hội
đồng Quốc gia về kế toán) cần vơn lên làm tốt chức năng tổ chức huấn luyện
nghiệp vụ, quản lý và kiểm soát đạo đức hành nghề của kế toán viên, kiểm toán
viên. Tin tởng và hy vọng các chuyên gia kế toán, kiểm toán Việt Nam, các tổ
chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán xứng đáng với nghề nghiệp đáng đợc đề cao
và tôn trọng trong kinh tế thị trờng có sự quản lý Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Kế toán và kiểm toán Việt Nam hãy vơn lên và vững vàng trong tầm cao mới của
thế kỷ XXI.
II> Sự phát triển và hoàn thiện của chế độ kế
toán Việt Nam:

1) Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế dẫn đến sự thay đổi chế độ kế toán Việt
Nam:
Năm 2000, năm chuyển giao của hai thế kỷ đã đi qua, đánh dấu bớc phát triển
đáng khích lệ của nền kinh tế và những bớc đổi mới quan trọng trong việc điều

Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1993, hệ thống kế toán Việt Nam đã đợc
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Từ năm 1994 đến nay, ở Việt Nam đã và đang diễn
ra quá trình cải cách một cách toàn diện căn bản hệ thống kế toán nhằm mục tiêu
đáp ứng những yêu cầu mới. Công cuộc cải cách kế toán đợc bắt đầu từ việc
nghiên cứu, xây dựng, ban hành những chế độ kế toán cụ thể gắn liền với việc cải
tiến từ ghi chép, thu nhập, xử lý, đến tổng hợp thông tin kinh tế, tài chính cho
công tác quản lý. Bộ tài chính đã ban hành hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp,
hệ thống chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và một loạt các văn bản kế toán cho
các nghành kinh tế. Công tác kế toán vận hành trong nền kinh tế có hiệu quả hơn,
đảm bảo tính thống nhất chế độ kế toán trong các lĩnh vực, các thành phần kinh tế
tạo điều kiện từng bớc lập lại trật tự kỷ cơng trong công tác kế toán; trình độ cán
bộ kế toán đợc nâng cao tiếp cận đợc chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc tế.
Hiện nay và trong những năm tới, Bộ tài chính sẽ tiến hành những công việc có
tính chất nền tảng, chiến lợc hơn. Đó là phải tạo ra một mô hình có tính hệ thống
tổng thể về tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng, các tổ chức nghề nghiệp, hệ
thống khuôn khổ pháp lý, các chế độ thể lệ, phơng pháp chuyên môn nghiệp vụ
trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và đội ngũ những ngời làm kế toán, kiểm toán
thích ứng với đòi hỏi mới của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và
trong tơng lai. Theo kế hoạch, từ năm 2000 đến năm 2003 sẽ nghiên cứu, soạn
thảo Luật kế toán thay thế Pháp lệnh Kế toán và Thống kê. Sau 10 năm thực hiện,
pháp lệnh kế toán và thống kê đã không còn phù hợp. Việc hoà nhập hai loại hạch
toán kế toán và hạch toán thống kê trong pháp lệnh là không hợp lý, kém hiệu lực
kinh tế thị trờng. Phạm vi và đối tợng điều chỉnh của pháp lệnh cha bao quát, cha
đầy đủ và không phù hợp với tình hình phát triển của đất nớc sau 10 năm đổi mới
theo đờng lối của Đảng; Hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam đang
đợc nghiên cứu, soạn thảo và sẽ ban hành áp dụng từng bớc đáp ứng yêu cầu phản
ánh và quản lý hoạt động kinh tế, tài chính các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện
nay và phải đảm bảo yêu cầu:
Thông tin do kế toán cung cấp là cơ sở tin cậy để nhà nớc điều hành nền kinh
tế vi mô, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp, của các nghành,

Một là, hệ thống các văn bản pháp luật đợc ban hành và có hiệu lực thi hành,
nh các bộ luật, sắc luật, pháp lệnh,nghị định, thông t, quyết định của các cơ
quan Nhà nớc có thẩm quyền.
Hai là, việc tổ chức thực hiện, đảm bảo hiệu lực thực tế của các văn bản pháp
luật đó.
Hai mặt này là hai bộ phận hữu cơ trong một chỉnh thể, có quan hệ tơng tác, thúc
đẩy lẫn nhau và bổ sung cho nhau. Nếu hệ thống các văn bản pháp luật (còn thờng
đợc gọi là khung pháp lý) cha thật hoàn hảo, mà công tác tổ chức thực hiện tốt thì
vẫn có thể đạt hiệu quả khá trong đời sống kinh tế xã hội, đồng thời còn góp phần
sớm điều chỉnh, bổ khuyết những bất cập về cơ chế chính sách, luật pháp. Nguợc
lại, với một hệ thống khung pháp lý khi hoàn chỉnh, u việt mà việc tổ chức thực thi
không nghiêm, kém tự giác và hiệu lực, thì tình trạng vi pham pháp luật, tham
nhũng, tiêu cực vẫn có đất phát triển. Những thành tích vừa đạt đợc trong phong
trào cả nớc sôi nổi hởng ứng th của Tổng bí th Lê Khả Phiêu kêu gọi thực hành tiết
8
kiệm, chống tham nhũng, tiêu cực, cho thấy việc tăng cờng pháp chế XHCN có vai
trò then chốt trong công tác này.
Liên hệ vào lĩnh vực của chúng ta cũng thấy rõ hai khía cạnh. Phần lớn trong
những mô hình quản lý, kinh doanh tốt và trong những cuộc đấu tranh chống tham
nhũng, tiêu cực thành công đều có vai trò công tác kế toán và kiểm toán. Những
cũng đáng tiếc là, trong không ít vụ việc sai phạm cũng đều hiện diện trách nhiệm
kế toán trởng, kế toán viên. Đau buồn hơn là có những trờng hợp, khi vui vẻ tiêu
xài, chi phí, ăn chia, kế toán trởng chỉ là một thành viên nho nhỏ, nhng khi vỡ lở
thì phải gánh chịu hầu hết trách nhiệm với những hình phạt nặng nề. Kiểm nghiệm
lại thực tế những vụ vi phạm pháp luật, có những trờng hợp kế toán chủ động thực
hiện hoặc tham gia, nhng rất nhiều trờng hợp là do bị động, ép buộc, bất khả
kháng. Trong nhiều nguyên nhân của hiện tợng tiêu cực đó, có phần do pháp chế
nói chung và khung pháp lý nói riêng chậm đợc đổi mới và thiếu đầy đủ, đồng bộ.
Giờ đây, cùng với cả nớc, giới kế toán, kiểm toán chúng ta có thêm điều kiện
tích cực tham gia tiến trình hoàn thiện pháp chế XHCN. Hoàn thiện khung pháp

toán đã hình thành và phát triển mạnh ở Việt Nam, cả 6 công ty kiểm toán
quốc tế lớn đã đợc phép hoạt động ở Việt Nam từ năm 1991 dới hình thức
100% vốn nớc ngoài hoặc liên doanh với công ty kiểm toán Việt Nam. Đến nay
ở Việt Nam đã có 19 công ty dịch vụ kế toán và kiểm toán cùng nhiều chi
nhánh và văn phòng đại diện hoạt động trong cả nớc, cung cấp các dịch vụ t
vấn tài chính, t vấn thuế, quản trị kinh doanh kiểm toán cho các công ty và các
dự án.
Chức danh kiểm toán viên hành nghề độc lập (CA, CPA) đã đợc thừa nhận.
Chính phủ Việt Nam đã thành lập Hội đồng thi tuyển kiểm toán viên quốc gia.
Từ năm 1994, Hội đồng đã tổ chức thi tuyển cho hàng nghìn lợt ngời và đã cấp
chứng chỉ trúng tuyển kiểm toán viên cấp Nhà nớc cho gần 400 ngời (cả ngời
Việt Nam và ngời nớc ngoài).
Các tổ chức nghề nghiệp kế toán đã đợc thành lập và hoạt động khá hiêu quả.
_ Câu lạc bộ kế toán trởng: Thành lập năm 1989, hiện có 700 hội viên là kế
toán trởng doanh nghiệp và các đơn vị hành chính sự nghiệp trong cả nớc.
_ Hội kế toán Việt Nam (VAA): Đợc thành lập từ năm 1994 với sự tham gia
của hàng nghìn hội viên là các kế toán viên, kiểm toán viên và nhà quản lý
kinh tế, cán bộ giảng dạy các trờng ĐH kinh tế. Nhiều Phân hội, Chi hội kế
toán các nghành, lĩnh vực và địa phơng đã hoạt động có hiệu quả.
Hội đồng quốc gia về kế toán (National Council For Accountancy) đã đợc
thành lập vào năm 1999, làm nhiệm vụ t vấn cho Bộ trởng tài chính về kế toán,
kiểm toán.
Đã công bố 10/33 chuẩn mực kiểm toán. Đang tích cực soạn thảo, hoàn thiện
và chuẩn bị công bố tiếp các chuẩn mực kế toán quốc gia (VAS) và chuẩn mực
kiểm toán quốc gia (VAS).
3.2) Những công việc đang và sẽ tiếp tục triển khai:
Xây dựng và ban hành Luật kế toán Việt Nam, tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho
hoạt động kế toán, kiểm toán của Việt Nam. Đây cũng là đòi hỏi hội nhập và tự
do hoá tài chính.
Soạn thảo và công bố các chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc gia. Vấn đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status