HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
MỘT MÔ HÌNH ĐA DẠNG HOÁ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM:
KINH NGHIỆM LIÊN KẾT QUỐC TẾ VÀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA KHOA
QUỐC TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
NGUYỄN Trọng Do và NGÔ Tự Lập *
Tóm tắt:
Kể từ năm 1986, cùng với công cuộc Đổi Mới của cả nước, ngành giáo dục đại học Việt Nam
cũng buộc phải đổi mới nhằm đáp ứng được đòi hỏi của xã hội về số lượng, chất lượng và tính chất
quốc tế của nguồn nhân lực. Quá trình đổi mới này vấp phải nhiều khó khăn, thách thức, trong đó gay
gắt nhất là vấn đề đảm bảo tài chính trong bối cảnh nền kinh tế có trình độ phát triển thấp đồng thời
đang trong quá trình chuyển đổi. Dựa trên việc khảo sát các nền giáo dục đại học chuyển đổi trên thế
giới và kinh nghiệm thực tiễn của Khoa Quốc tế, bài nghiên cứu này nhằm chứng minh rằng đa dạng
hóa các nguồn lực tài chính thông qua xã hội hóa và quốc tế hóa là biện pháp khả thi và tối ưu trong
việc đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam.
I. Đặt vấn đề
Chủ đề của cuộc hội thảo này, “Đóng góp của khoa học xã hội và nhân văn đối với sự phát triển
kinh tế xã hội”, tuy không liên hệ trực tiếp, nhưng có phần giao thoa rất lớn với sứ mệnh của trường đại
học hiện đại, một tổ chức đặc biệt, một không gian đặc biệt, một sản phẩm đặc thù của thời hiện đại,
trong đó tri thức đóng vai trò trung tâm, tạo thành thành nền tảng cho mọi hoạt động của nó. Trường
đại học hiện đại dĩ nhiên không phải là nơi độc quyền về nghiên cứu khoa học, nhưng vai trò của nó
trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn, ngày càng quan trọng. Trường Đại
học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực cho xã hội, trong đó có nhân lực nghiên cứu khoa học, mà chính
nó là một môi trường, một cỗ máy nghiên cứu. Xuất phát từ ý tưởng nền tảng của Kant được Humboldt
phát triển và hiện thực hóa sau đó về tự do học thuật, đại học trở thành một thể chế tự trị của trí tuệ, nơi
các ý tưởng mới được sản sinh, các giải pháp điều chỉnh, cải biến và phát triển xã hội được đề xuất.
Vai trò đặc biệt nói trên của trường đại học thể hiện rõ ràng nhất và hiệu quả nhất chính vào
những giai đoạn thay đổi lớn của đời sống xã hội. Đối với Việt Nam, cũng như đối với đa số các nước
thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, những thập kỷ cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI chính là
cứu khoa học và nhân văn – trong trường hợp này là khoa học quản lý đại học – có thể đóng góp vào sự
phát triển chung.
Nghiên cứu của chúng tôi dựa rất nhiều vào các hoạt động thực tiễn của Khoa Quốc tê, nơi cả
hai tác giả đều đang công tác.
II. Bức tranh khái quát về hiện trạng và những đổi mới trong quản lý của nền Đại học
Việt Nam từ 1986
2.1. Tác động của cải cách
Chính sách Đổi Mới do ĐCS Việt Nam khởi xướng năm 1986, mà nội dung chủ yếu là từ bỏ
đường lối phát triển kế hoạch hóa tập trung kiểu Liên Xô, là một bước ngoặt trong lịch Việt Nam hiện
đại, dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế- xã hội và văn hóa của đất nước.
Trong một thời gian tương đối ngắn, chính sách cải cách này đã biến Việt Nam từ một quốc gia
bị chiến tranh tàn phá nặng nề và liên tục thiếu lương thực trầm trọng thành một trong những nền kinh
tế phát triển vào loại nhanh nhất thế giới. Bất chấp hai cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và 2008,
tốc độ tăng trưởng kinh tế tính trung bình của Việt Nam trong 25 năm qua là trên 7%. Năm 2010, tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt khoảng 102 tỷ đô la Mỹ, gấp 5 lần GDP năm 1986. GDP
30 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
tính theo đầu người cũng tăng đáng kể từ khoảng 140 đô la Mỹ (1976) lên trên 1200 đô la vào năm
2009 1 , đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước nghèo.
Cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng, nền kinh tế Việt Nam cũng được quốc tế hóa nhanh
chóng. Từ năm 1989 đến năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã cấp giấy phép cho 12.575 dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng số vốn là trên 194 tỷ đô la Mỹ. Đồng thời, đầu tư của Việt Nam
cũng tăng đáng kể, đạt 7,7 tỷ đô la Mỹ trong giai đoạn 1989-2009. Tính chất mở của nền kinh tế Việt
Nam còn thể hiện ở sự phụ thuộc của nó vào ngoại thương, với doanh số xuất nhập khẩu hiện tương
đương với 150% GDP.
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
nhân lực 1) có trình độ đại học chất lượng cao, 2) với số lượng ngày càng nhiều, đa dạng và 3) có trình
độ quốc tế hóa phù hợp.
Để thích ứng với những đòi hỏi của tình hình mới, các nhà quản lý giáo dục Việt Nam đã tiến
hành rất nhiều thay đổi, trong đó có cả những thay đổi thành công lẫn những thay đổi thất bại. Những
thay đổi được thực hiện ở tất cả các cấp và lĩnh vực quản lý. Dưới đây là những ví dụ nổi bật nhất.
2.2. Thay đổi về tổ chức hành chính
+ Cơ quan quản lý cấp bộ: Trước năm 1987, ngành giáo dục Việt Nam có ba cơ quan quản lý
cấp bộ, đó là: Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, và Tổng cục Đạy nghề, ngoài ra
còn có Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em.
Năm 1987, theo “Nghị quyết số 782NQ/HĐNN7 ngày 16-02-1987 của Hội đồng Nhà Nước về
việc kiện toàn một bước các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, cử và miễn nhiệm một số thành viên
của Hội đồng Bộ Trưởng”, Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em được sáp nhập vào Bộ Giáo dục, đồng
thời Tổng cục Dạy nghề được sáp nhập vào Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp và Dạy nghề.
Năm 1990, các cơ quan quản lý cấp bộ của ngành giáo dục một lần nữa lại được tái tổ chức. Lần
này, Bộ Giáo dục và Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp và Dạy nghề được hợp nhất để tạo
thành Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Mặc dù trên lý thuyết, Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý các hoạt động trong cả nước,
trên thực tế việc quản lý phức tạp hơn nhiều. Rất nhiều trường đại học và cao đẳng chuyên ngành còn
chịu sự quản lý của các bộ, ngành, tổng cục, địa phương. Chẳng hạn, trường Đại học Luật còn chịu sự
quản lý của Bộ Tư Pháp, Đại học Văn hóa chịu sự quản lý của Bộ Văn hóa…Gần đây, một số Tổng
công ty, Tập đoàn cũng mở trường đại học dưới sự quản lý của họ. Chẳng hạn, Đại học FPT chịu sự
quản lý của Tập đoàn FPT, Đại học Điện lực chịu sự quản lý của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, Đại
học Dầu khí chịu sự quản lý của Tâp đoàn Dầu khí Việt Nam…Ngoài ra, trong hệ thống giáo dục đại
học Việt Nam còn có hai Đại học Quốc gia và ba Đại học Vùng với những quy định riêng sẽ nghiên
cứu dưới đây.
hơn 4.400 trường. Tác giả này cũng cho biết, tỷ lệ sinh viên so với dân số của Việt Nam chỉ bằng một
nửa của Thái Lan và một phần ba của Hàn Quốc 2 . Số liệu của Ngân hàng Thế giới cho biết tỷ lệ sinh
viên so với dân số của Việt Nam năm 2006 là 13% (Vietnam Country Summary 3 ), thấp hơn rất nhiều
so với các nước phát triển, như 70% tại Mỹ, Na Uy, Úc, hay giữa 70%-80% ở Phần Lan, New Zealand
và Thuỵ Điển (Kwiek Marek, 2008).
2.4. Vấn đề chất lượng: những thay đổi về mô hình nhà trường
Như trên đã nói, một trong những đặc điểm của nền giáo dục đại học Việt Nam trước 1986 là
quy mô nhỏ và tính đơn ngành và sự thiếu quan tâm về nghiên cứu của phần lớn các cơ sở đào tạo.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thứ bậc của các trường đại học trong các bảng xếp hạng, mà thực tế
còn làm giảm tính năng động và mối gắn kết giữa đại học với thị trường lao động và các ngành sản xuất
– kinh doanh.
Ý thức được điều này, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập 2 Đại học Quốc gia với
những quy chế đặc biệt. Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập ngày 10 tháng 12 năm 1993 trên cơ
sở sáp nhập 3 trường đại học lớn là Đại học tổng hợp Hà Nội, Đại học sư Phạm Hà nội 1 và Đại học sư
phạm ngoại ngữ Hà Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập ngày 27 tháng 01
năm 1995, trên cơ sở sáp nhập 9 trường đại học và phân hiệu đại học, đó là: Trường Đại học Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức, Trường Đại học Bách khoa
Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tài chính Kế toán Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học
2
/> />3
33 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, Phân hiệu Đại
nước ngoài như Việt Nam, vấn đề quốc tế hóa đại học còn cấp bách hơn nhiều. Nhiệm vụ này được tiến
hành bằng nhiều biện pháp khác nhau. Trước hết là nỗ lực gửi sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài – hoạt
động quốc tế hóa chủ yếu của Việt Nam trước năm 1986 và bị suy giảm đáng kể sau khi các nước xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Năm 2000, sau hơn một thập kỷ cải cách tương đối thành công, Việt
34 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Nam đã nỗ lực phục hồi lại hoạt động quan trọng này bằng việc khởi động một dự án, gọi là “Dự Án
322”, có nhiệm vụ hàng năm gửi khoảng 450 sinh viên du học ở nước ngoài bằng một nguồn kinh phí
vào khoảng 100 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra một đề án
thậm chí còn tham vọng hơn, đó là đào tạo 20,000 Tiến sĩ từ 2008 đến 2020, trong đó khoảng 50%
được đào tạo ở nước ngoài.
Biện pháp quan trọng thứ hai là khuyến khích sự tham gia của các có sở đào tạo và nghiên cứu
nước ngoài, kể cả việc mở trường hoặc phân hiệu tại Việt Nam. Trường đại học 100% vốn nước ngoài
đầu tiên được thành lập tại Việt Nam là RMIT, khai giảng lần đầu tiên tại phân hiệu thành phố Hồ Chí
Minh năm 2001 và tại phân hiệu Hà Nội năm 2004.
Nhưng hình thức quốc tế hóa phổ biến hơn là các chương trình liên kết. Hiện nay, các trường
liên kết đào tạo quốc tế không đơn thuần là một giải pháp nhằm cải thiện hoặc quốc tế hóa nền giáo dục
đại học về mặt hàn lâm, mà còn là một giải pháp trong chính sách quản lý tài chính đại học. Chúng tôi
sẽ nghiên cứu kỹ hơn khía cạnh tài chính của liên kết đào tạo đại học trong những phần tiếp theo.
III. Vấn đề quản lý tài chính và đa dạng hóa các nguồn tài chính Đại học ở Việt Nam
Như ở trên đã nói, ba nhiệm vụ quan trọng nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là
nâng cao chất lượng, đa dạng hóa ngành nghề và quốc tế hóa. Cả ba nhiệm vụ này đều đòi hỏi một
nguồn tài chính dồi dào để cải thiện cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo và nghiên cứu của các cơ sở
đào tạo đang tăng lên nhanh chóng. Điều này cực kỳ khó khăn, nếu không nói là bất khả thi nếu chỉ dựa
vào nguồn kinh phí hạn chế từ ngân sách.
Chi tiêu cho giáo dục nói chung, và cho giáo dục đại học nói riêng, của Việt Nam chiếm một tỷ
11,89
12,04
12,63
11,83
10,89
12,12
13,46
12,85
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam 4
4
/>
35 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Trong bức tranh chúng đó, chi tiêu cho giáo dục đại học của Việt Nam, tính theo phần trăm
GPD, cũng thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia khác. Theo Đặng Quế Anh, chi tiêu cho giáo dục
đại học ở Việt Nam năm 2002 chiếm 0,41% GDP, thấp hơn nhiều so mức mức bình quân của thế giới
Nguồn: European Higher Education in a Worldwide Perspective, do Marek Kwiek trích dẫn
Đan
Mạch
1,8
Tỷ lệ đầu tư thấp cho giáo dục đại học ở Việt Nam có lý do là GDP tính theo đầu người còn
tương đối thấp (mới đạt khoảng hơn 1200 USD vào năm 2010), Việt Nam buộc phải phải ưu tiên cho
các chi tiêu cấp bách khác như y tế, giao thông…
Với tỷ lệ đầu tư thấp như vậy, trong khi giá trị tuyệt đối của GDP đã thấp, trên thực tế, tình
trạng thiếu hụt tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam diễn ra rất trầm trọng. Trong bối cảnh số
trường và sinh viên tăng lên nhanh hơn nhiều so với tốc tộc tăng GDP, suất đầu tư cho một sinh viên ở
mức rất thấp. Trong bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ ngày 07/06/2010, ông Đào Trọng Thi, chủ
nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, cho biết rằng suất
đầu tư cho một sinh viên tại trường công cách đây năm sáu năm vào khoảng 6.000.000 đồng (khoảng
200 Euros)/sinh viên, nay chỉ đạt khoảng 2.500.000 đồng (Khoảng 80 Euros)/sinh viên 5 . Đó là mức đầu
tư hết sức thấp nếu so sánh không chỉ với mức đầu tư ở các nước phát triển (Chẳng hạn: Na Uy: 12.000
Euros; Đan Mạch: 13.600 Euros; Thụy Điển: 14.000 Euros; Thụy Sĩ: 19.000 Euros – Theo Marek
Kwiek). Chính vì lý do đó, tất cả các trường đại học Việt Nam đều đang bị lạc hậu nhanh chóng về cơ
sở vật chất.
Tình trạng thiếu hụt tài chính cũng dẫn đến tình trạng thu nhập thấp của giảng viên khiến cho
nhiều trí thức giỏi có xu hướng lựa chọn những ngành nghề có thu nhập cao hơn. Thu nhập thấp cũng là
một lý do khiến tình trạng tiêu cực trong giáo dục cũng trở nên nghiêm trọng.
Nhà nước Việt Nam từ lâu đã ý thức được vấn đề này. Năm 1987, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa
ra một chính sách tài chính mới theo hướng đa dạng hóa các nguồn tài chính, được gọi là “xã hội hóa
giáo dục”. Cần phải nói là trái với cách hiểu thông thường ở phương Tây, “xã hội hóa” ở Việt Nam về
5
/>
36 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
Long), khu vực ngoài công lập đã có 77 trường đại học và cao đẳng trong tổng số 403 trường. Hơn nữa,
theo các thống kê, tốc độ phát triển của khu vực ngoài công lập ngày càng tăng lên trong những năm
gần đây (xem bảng 3). Khu vực đại học ngoài công lập có ba hình thức khác nhau, đó là trường bán
công (semi-public), trường dân lập (people-founded) và trường tư. Trường bán công là trường do nhà
nước và các tổ chức kinh tế - xã hội hoặc cá nhân cùng làm. Thông thường các trường bán công được
nhà nước xây dựng và trang bị cơ sở hạ tầng, còn chi thường xuyên dựa vào nguồn thu từ học phí.
Trường dân lập do các tổ chức kinh tế - xã hội và nghề nghiệp lập ra và đầu tư, hoạt động dựa vào
nguồn thu từ học phí. Các trường tư do các cá nhân thành lập, đầu tư và sở hữu.
37 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Bảng 3: Số trường đại học và cao đẳng của Việt Nam
2000
2001
2002
Tổng số
178
191
202
Công lập
148
168
179
322
275
369
305
393
322
403
326
27
29
34
47
64
71
77
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2009, cả nước có 1.796.200 sinh viên,
trong đó 248.800 theo học tại các trường đại học ngoài công lập. Trong10 năm qua, số sinh viên tại các
trường công lập tăng 5.2%, trong khi đó số sinh viên tại các trường ngoài công lập tăng 17%. Bảng (4)
dưới đây mô tả sự gia tăng về số lượng sinh viên đại học và cao đẳng ở Việt Nam trong giai đoạn 20002009.
111.9
137.1
137.8
160.4
209.5
188.8
218.2
248.8
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Hướng quan trọng thứ ba trong chính sách đa dạng hóa các nguồn lực tài chính cho đại học là
kêu gọi đầu tư nước ngoài thông qua việc mở trường hoặc chi nhánh tại Việt Nam hoặc tổ chức các
chương trình đào tạo liên kết. Việc kêu gọi các trường đại học nước ngoài đầu tư mở trường nước ngoài
từng được nhiều nước áp dụng nhưng không nhiều trường hợp nào thành công. Lý do, theo tôi, chủ yếu
là chính sách. Một ví dụ là Hàn Quốc. Theo Kiyong Byun và Minjung, Hàn Quốc tuyên bố mở thị
trường giáo dục đại học năm 1996, một năm sau khi gia nhập WTO. Luật Trường Tư (Private School
Act) sửa đổi năm 1997 chính thức cho phép các tổ chức nước ngoài mở trường tại Hàn Quốc. Tuy
nhiên, với những ràng buộc khá ngặt nghèo, đặc biệt là chỉ cho phép các tổ chức phi lợi nhuận mở
trường (nghĩa là các trường nước ngoài không có quyền chuyển lợi nhuận ra khỏi Hàn Quốc) khiến cho
rất ít, nếu không nói là không hề có, đối tác nước ngoài quan tâm đến việc mở trường tại nước này. Mãi
đến giữa thập niên 2000, chính phủ Hàn Quốc mới thay đổi quan điểm. “Luật đặc biệt về thành lập và
vận hành các tổ chức giáo dục 2005” (Special Act on the Establishment and Operation of Foreign
Educational Institutions in 2005) mới nới lỏng các hạn chế đối với các tổ chức giáo dục nước ngoài,
những môi trường học thuật và nghiên cứu tiên tiến trong khi các trường đại học Việt Nam chưa có đủ
điều kiện đầu tư, hoặc cần phải có thời gian để đầu tư hoàn chỉnh.
Từ khi chương trình liên kết đào tạo đầu tiên, chương trình MTESOL liên kết giữa Đại học
Ngoại ngữ Hà Nội và Đại học Victoria (Úc), được cấp phép năm 1998, các chương trình liên kết đào
tạo quốc tế đã phát triển nhanh chóng. Năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố danh sách 112
chương trình liên kết được Bộ cấp giấy phép. Danh sách này chưa kể mấy chục chương trình đang được
tổ chức tại ĐHQG Hà Nội, ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh, ĐH Thái Nguyên, ĐH Đà Năng, và ĐH
Huế, những đại học Vùng có quyền cấp giấy phép cho các chương trình liên kết quốc tế.
IV. Đa dạng hóa các nguồn lực tài chính thông qua Quốc tế hóa tại Khoa Quốc tế - Đại
học Quốc gia Hà Nội
Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, tiền thân là Khoa Quốc tế Việt-Nga trực thuộc
ĐHQGHN, được thành lập vào tháng 7 năm 2002, là cơ sở đào tạo đặc biệt của ĐHQGHN, có nhiệm
39 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
vụ thực hiện các thí điểm về xã hội hóa và quốc tế hóa giáo dục đại học. Tám năm hoạt động và phát
triển của Khoa Quốc tế không chỉ phản ánh một cách cụ thể mà còn là bằng chứng về hiệu qủa của
những thay đổi trong chính sách quản lý tài chính đại học nói trên.
Về mặt tài chính, Khoa Quốc tế có những đặc điểm chính sau đây:
1. Là cơ sở đào tạo công nhưng hoàn toàn không được cấp kinh phí từ nguồn ngân sách nhà
nước.
2. Toàn bộ chi phí đầu tư và hoạt động dựa vào các nguồn thu đa dạng, bao gồm học phí, tài trợ,
viện trợ, hiến tặng và dịch vụ.
3. Phi lợi nhuận (toàn bộ các nguồn thu dùng để xây dựng cơ sở vật chất, vận hành và thực hiện
các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và ĐHQGHN).
2.1. Sơ lược về quá trình phát triển của Khoa Quốc tế
Tống số
1825
Dự bị
đại học
393
Đại học
Sau đại học
Ngắn hạn
778
518
136
Chuyển tiếp ra
nước ngoài
400
Ngoài ra, hiện có 136 sinh viên nước ngoài (Canada, Nga, Trung Quốc, Lào và Hàn Quốc), chủ
yếu theo học các khóa ngắn hạn. Với quy mô tuyển sinh hàng năm vào khoảng 550 sinh viên đại học và
dự bị đại học và 200 học viên cao học, số sinh viên và học viên của Khoa Quốc tế sẽ tiếp tục gia tăng
trong năm tiếp theo.
2.2. Hiệu quả đa dạng hóa cơ chế tài chính tại Khoa Quốc tế
Hoạt động tài chính đóng vai trò hậu cần nền tảng cho sự phát triển của Khoa đồng thời cũng là
một đặc điểm riêng biệt của Khoa Quốc tế so với các đơn vị thành viên khác của ĐHQGHN nói riêng
góp tài chính hợp lí của người học, thực hiện chính sách học phí linh hoạt theo ngành, bậc và mô hình
đào tạo. Thành công của Khoa dựa trên nguyên tắc tạo cơ hội nghề nghiệp tối đa cho người học, đảm
bảo lấy thu bù chi đồng thời tạo nguồn tài chính phòng tránh rủi ro.
Khoa Quốc tế đã và đang tìm kiếm và khai thác các nguồn tài chính từ các doanh nghiệp cũng
như các tổ chức xã hội và phi chính phủ để có thêm các nguồn lực phục vụ đào tạo và chuyển giao công
nghệ giáo dục, bao gồm: thiết bị - vật tư, phòng thực hành, thí nghiệm, các nguồn học liệu, các nguồn
học bổng hỗ trợ người học. Sự cải thiện các nguồn tài chính cũng cho phép Khoa có được chính sách
tiền lương và cơ chế tiền công hợp lí để tạo việc làm cho khoảng 150 người Việt Nam và khoảng 50
người nước ngoài. Chính sách lương và tiền công này đã góp phần giúp Khoa Quốc tế thu hút được một
lực lượng giảng viên và chuyên gia giỏi, qua đó xây dựng được đội ngũ giảng viên có trình độ quốc tế.
Các số liệu trong bảng (6) cho thấy trong những năm qua, quy mô, nguồn lực tài chính của Khoa
không ngừng tăng lên (quy mô nguồn thu sự nghiệp năm 2009 đã tăng 7,4 lần so với năm 2005).
Ngoài nguồn thu sự nghiệp, trong những năm vừa qua Khoa Quốc tế còn nhận được các nguồn tài
trợ, viện trợ của các trường đại học đối tác, các đơn vị ở nước ngoài:
- Quỹ học bổng do Đại học HELP, Malaysia cấp cho sinh viên của Khoa học chương trình đại học,
giá trị tương đương 5% tổng số tiền Đại học HELP nhận được để thực hiện các nhiệm vụ theo Thoả thuận
giữa Khoa Quốc tế và Đại học HELP, giá trị hàng năm khoảng 200 triệu.
- Đại học Nantes, Cộng hoà Pháp hỗ trợ toàn bộ chi phí giảng dạy của giảng viên do Đại học
Nantes cử tới Khoa tham gia chương trình đào tạo Bác sỹ Nha Khoa liên kết giữa Khoa và Đại học Nantes,
giá trị 108.000 Euro/ năm.
- Tháng 6/2010 Quỹ “Thế giới Nga” viện trợ kinh phí đầu tư phòng đọc “Thế giới Nga” tại Khoa
Quốc tế khoảng 39.000 (USD) và hỗ trợ kinh phí để duy trì và phát triển hoạt động của phòng đọc này, giá
trị trung bình hàng năm khoảng 15.000 USD.
- Trong khuôn khổ chương trình đào tạo Bác sỹ Nha Khoa, Đại học Nantes viện trợ cho Khoa toàn
bộ thiết bị thực hành tiền lâm sàng; các trường đại học đối tác, tổ chức viện trợ sách, cơ sở học liệu (băng,
đĩa, thư viện điện tử…).
- Giai đoạn 2011-2014, Quỹ học bổng của Liên minh Châu Âu Erasmus Mundus, cấp cho cán bộ,
sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh của Khoa Quốc tế và ĐHQGHN 16 suất học bổng, giá trị tương
đương 384.000 Euro.
- Cơ quan Đại học Pháp ngữ (AUF) đã ký văn bản cam kết hỗ trợ một số chương trình đào tạo
Giá trị
Cơ
cấu
nguồn
thu %
Năm 2008
Năm 2009
Cơ
cấu
nguồn
thu %
Giá trị
Cơ
cấu
nguồn
thu %
1,356
3
1,748
2
Nguồn thu sự nghiệp
Thu sự
nghiệp
8,372
100
13,967
100
24,933
93.7
Nguồn tài trợ, viện trợ của các đơn vị trong và ngoài nước
Học
bổng,
Viện
trợ
Tổng
cộng
8,372
100
13,967
Quốc tế khẳng định rằng chính sách đa dạng hóa các nguồn lực tài chính sẽ được tiếp tục thực hiện sau
khi được nâng cấp lên thành trường đại học thành viên của ĐHQGHN. Bảng (7) thể hiện kế hoạch tài
chính dự kiến của trường trong 10 năm tới.
Bảng 7: Kế hoạch tài chính giai đoạn 2010-2020
43 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Đơn vị tính: triệu đồng
Nguồn thu sự nghiệp
Nguồn tài trợ, viện trợ của các
đơn vị trong và ngoài nước
Chi sự nghiệp (chi thường
(viện trợ bằng tài sản, cấp học
xuyên, chi chuyển cho đối tác bổng và cung cấp nguồn nhân
theo hợp đồng)
lực)
Năm tài
chính
Thu sự nghiệp (thu
học phí LKĐT, thu
khác)
2010
2014
139.100
136.320
6.800
2015
153.000
150.000
4.000
2016
168.300
164.930
4.400
2017
185.130
181.430
Nantes cấp cho chương trình đào tạo Bác sỹ Nha khoa, Quỹ “Thế giới Nga” viện trợ
kinh
phí đầu tư phòng đọc tại Khoa Quốc tế, Quỹ học bổng liên minh Châu Âu Erasmus Mundus và tài trợ
của Cơ quan Đại học Pháp ngữ AUF.
Hồ sơ “Dự án đầu tư thành lập Trường Đại học Quốc tế trên cơ sở nâng cấp Khoa Quốc tế
thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội’ khẳng định rằng “với nguồn lực tài chính hiện có và dự kiến quy mô
tài chính trong những năm đầu sau khi được thành lập, Trường Đại học Quốc tế sẽ có cơ sở, nguồn lực
tài chính mạnh. Cùng với cơ chế tự chủ cao, đây là điều kiện rất quan trọng để Trường thực hiện tốt sứ
mạng của mình”.
V. Kết luận: Đa dạng hóa các nguồn lực tài chính thông qua xã hội và Quốc tế hóa ở khu
vực công lập
44 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
5.1. Đa dạng hóa các nguồn tài chính thông qua xã hội hóa và quốc tế hóa là biện pháp tối
ưu đối với nền đại học Việt Nam
Đảm bảo tài chính cho đại học là một vấn đề cực kỳ nan giải của hầu hết các quốc gia, kể cả
những quốc gia có nền đại học phát triển đã được đầu tư lớn từ hàng thế kỷ. Nền giáo dục đại học Pháp
chẳng hạn, theo các nghiên cứu gần đây, hiện kém sức cạnh tranh hơn so với các trường đại học của
nhiều nước khác, nhất là Hoa Kỳ. Do không thu học phí, các đại học Pháp luôn luôn phải vật lộn với
tình trạng thiếu hụt tài chính, dẫn đến sự lạc hậu về cơ sở vật chất. Tờ “The Economist” số ngày 5
tháng Bảy, 2007, dẫn lời tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy: “Tại sao ở Pháp lại không có những giảng
đường xứng với tên gọi của nó, không có sân thể thao, một điểm kỳ lạ nữa: không có những thư viện
mở cửa vào chủ nhật?” (“WHY in France are there no campuses worthy of the name, no sports
grounds, and another extraordinary thing: no libraries that open on Sundays?”). 6 Có thể những lời nói
này hơi cường điệu, nhưng có một thực tế là nền đại học Pháp đang đứng trước vấn đề nan giải: áp
Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng sinh viên và ngành nghề đào tạo ở Khoa Quốc tế cho thấy
nhu cầu của xã hội đối với loại hình đào tạo này rất lớn, đồng thời cũng chứng tỏ rằng chi phí học tập ở
Khoa là tương đối phù hợp với khả năng tài chính của người dân. Với việc lựa chọn đối tác nước ngoài
và chính sách học phí hợp lý, liên kết đào tạo không chỉ đáp ứng mục đích trước mắt là giải quyết nơi
học và đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc tế hóa chất lượng cao cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, tiếp
nhận chuyển giao công nghệ giáo dục tiên tiến, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và góp phần hiện đại hóa
nền giáo dục đại học Việt Nam và còn là một biện pháp thu hút tài chính trong và ngoài nước cho
nhiệm vụ phát triển của đơn vị mà không cần đến ngân sách nhà nước cấp. Điều này có nghĩa là
chương trình xã hội hóa sẽ cho phép nhà nước tập trung đầu tư vào các trường và các ngành nghề trọng
điểm, tạo đột phá cho nền giáo dục Việt Nam.
Tóm lại, sự đa dạng hóa các nguồn lực tài chính là giải pháp tối ưu hiện tại cũng như lâu dài để
phát triển nền giáo dục đại học Việt Nam cả về quy mô, chất lượng và tính quốc tế.
46 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO
HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Altbach, Philip G., “Peripheries and Centres: Research Universities in Developing Countries”,
Higher Education Management and Policy, Volume 19, No 2. 2007, pp 111-128.
2. Byun, Kiyong & Minjung Kim, “Shifting Patterns of the Government’s Policies for the
Internationalization of Korean Higher Education”, Journal of Studies in International Education,
XX(X), July 6, 2010. pp.1-20.
3. Đào Trọng Thi, “Cần giải thể một số trường đại học”, phỏng vấn, Tuổi trẻ,
/>4. The Economist, “French higher education”, />5. The Economist, “Shaking them up: A much-needed but still half-hearted set of reforms”,
/>6. Đặng, Quế Anh, “Recent Higher Education Reforms in Vietnam: the Role of the World Bank”,
Master thesis, Danish School of Education, Aarhus University, />7. Kant, Immanuel, The Conflict of the Faculties [1798], trans. Mary J. Gregor, New York: Abaris
Books, 1979.