ĐHQG giáo trình ô nhiễm không khí (NXB đại học quốc gia 2007) - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN (IER)
PGS.TS. ĐINH XUÂN THẮNG

GIÁO TRÌNH
Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
(Tái bản lần thứ nhất, 2007)

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TP HỒ CHÍ MINH 2007


LỜI NÓI ĐẦU
Môi trường sống – cái nôi của nhân loại đang ngày càng ô nhiễm trầm trọng
do con người. Cùng với sự phát triển của xã hội, môi trường đang từng bước bò hủy
diệt là mối quan tâm không chỉ riêng của một quốc gia nào. Bảo vệ môi trường là
nghóa vụ của cộng đồng toàn cầu và của Việt Nam nói riêng. Chỉ thò số 36/CT-TW
ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trò Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện đường lối
chỉ đạo đúng đắn đối với công tác bảo vệ và gìn giữ môi trường sống của nước ta.
Hiện trạng môi trường không khí ở nước ta, đặc biệt là trong các khu công nghiệp và
đô thò lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai … đang là mối
lo ngại cho các cơ quan quản lý nhà nước về mặt môi trường cũng như toàn thể dân
cư trong khu vực. Phần lớn các nhà máy xí nghiệp chưa có hệ thống xử lý ô nhiễm
không khí hoặc có nhưng hoạt động không có hiệu quả và mang tính chất đối phó.
Bên cạnh đó, với đặc điểm của một nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mang
tính chất sản xuất nhỏ, công nghiệp lạc hậu, thiếu thốn nguyên vật liệu…, nên ngày
càng thải vào môi trường sống một khối lượng bụi, hơi khí độc và mùi hôi khổng lồ,
gây ảnh hưởng không những cho công nhân trực tiếp sản xuất mà ngay cả dân cư
khu vực lân cận cũng chòu ảnh hưởng đáng kể.
Việc xây dựng đất nước trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với
mức độ gia tăng đáng kể các khu vực đô thò, khu dân cư không có quy hoạch đồng

TP. Hồ Chí Minh, 02/2007
Tác giả

4

http://www.ebook.edu.vn


CHƯƠNG I

GIỚI THIỆU VỀ
Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

1.1. TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
Mosris Neibusger - nhà khí tượng học của một trường đại học ở California đã
trích dẫn từ tạp chí “Today’s Health” do hiệp hội Y học Mỹ xuất bản như sau: “Tất
cả các quốc gia văn minh rồi sẽ đi theo con đường, không phải là những biến động
bất thình lình mà là sự ngẹt thở từ trong bầu không khí chứa chất thải của chính họ”.
Một số nhà sử học đã tiên đoán các giả thiết rằng: “Sự bùng nổ về dân số sẽ kéo
theo các nhu cầu thiết yếu cần nhiều thực phẩm hơn, nhiều nước hơn, cũng như nơi
ở, phương tiện giao thông đi lại và công ăn việc làm. Để thỏa mãn được nhu cầu đó
sẽ không bao giờ chấm dứt được nạn ô nhiễm không khí xung quanh ta”.
Những sông, hồ sạch sẽ từ đời tổ tiên ông bà ta để lại đã nhanh chóng trở thành
các dòng chảy có mùi, những hồ nước thối rữa mà trong đó không một sinh vật nào
dù là nhỏ bé có thể sống nổi. Khả năng tự làm sạch của các dòng chảy hầu như
không còn nữa hoặc với khả năng giảm đi rất nhiều vì các nhân tố gây ô nhiễm gồm
quá nhiều loại nước thải như: nước thải sinh hoạt từ các ống cống, chất giặt tẩy,
thuốc trừ sâu và các chất thải công nghiệp.
Các phương tiện giao thông vận tải như máy bay, tàu hỏa dùng dầu Diesel, khí
thải từ các xe gắn máy, xe ô tô, lò đốt và chất thải rắn cùng thải vào khí quyển của

phải có biện pháp giải quyết trên toàn thế giới. Tổ chức giáo dục, văn hóa, khoa học
của Liên Hiệp Quốc đã có những hoạt động tích cực trong lónh vực này. Hội thảo
quốc tế của Liên Hiệp Quốc về “con người và môi trường” được tổ chức tại
Stockholm - Th Điển tháng 6/1972 đã tập hợp rất nhiều chuyên gia, các nhà khoa
học, các quan chức của chính phủ các nước trên thế giới nhằm thống nhất cương lónh
hành động chung trong công tác gìn giữ và bảo vệ môi trường. Hội thảo đã khẳng
đònh việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường không chỉ có các nhà khoa học, các
kỹ sư, các quan chức hành chính, các tổ chức thế giới…, mà phải mang tích chất cộng
đồng - tức là mỗi cá nhân, mỗi con người đều phải có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi
trường. Cũng tại hội nghò này người ta thống nhất lấy ngày 5 tháng 6 hàng năm làm
ngày “Môi trường thế giới”.
Trong thông điệp gửi toàn thế giới hãy “Cứu lấy trái đất” – chiến lược cho cuộc
sống bền vững, của Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình
môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) và Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
(WWF) – Grand, Th Sỹ tháng 10 năm 1991, đã nhấn mạnh ba mục tiêu chiến lược
bảo vệ toàn cầu là:

6

http://www.ebook.edu.vn




Phải duy trì các quá trình sinh thái quan trọng của các hệ bảo đảm sự
sống;

• Phải bảo tồn tính đa dạng di truyền;
• Phải sử dụng bền vững bất cứ một loài hay một hệ sinh thái nào.
Để thực hiện được các mục tiêu đó, lời kêu gọi nhấn mạnh phải hành động ngăn


http://www.ebook.edu.vn

7


Tại Việt Nam, vấn đề ô nhiễm môi trường mới được Nhà nước quan tâm và đầu
tư khá nhiều kinh phí trong những năm gần đây. Tuy là một nước lạc hậu, kinh tế
kém phát triển nhưng vấn đề ô nhiễm môi trường cũng gây không ít phiền phức cho
xã hội do nền kinh tế Việt Nam mang một hình thái kinh tế riêng biệt với công nghệ
lạc hậu, nguyên vật liệu thiếu thốn, quy mô nhỏ, nằm xen kẽ trong khu dân cư và
đặc biệt là nguồn kinh phí đầu tư cho công tác gìn giữ và bảo vệ môi trường là khá
hạn hẹp.
Một đặc thù khác là ở những thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, … do mật độ giao thông lớn, các phương tiện công cộng ít hoặc gần như không
phù hợp với thò hiếu người dân nên vấn đề ô nhiễm không khí do giao thông vận tải
gây ra không phải là nhỏ. Theo thống kê mới đây nhất dân số thành phố Hồ Chí
Minh là 6.239.938 người (con số điều tra cuối năm 2005), với mật độ dân số như vậy
việc gây ô nhiễm môi trường do hàng triệu xe máy, hàng trăm ngàn xe tải, xe hơi là
không tránh khỏi.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một phần do nền kinh tế được ngày một
nâng cao, được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mức công tác gìn giữ và bảo vệ
môi trường ở Việt Nam từng bước đã đi vào nề nếp. Song song với việc ra đời của
bộ chủ quản (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nay là Bộ Tài nguyên – Môi
trường) là các hệ thống ngành dọc (các Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường nay
là Sở Tài ngun & Mơi trường) cùng các cơ quan hành chính khác. Điều quan trọng
nhất là sự ra đời của Bộ Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghóa Việt Nam 10/1/1994 và Luật Môi trường sửa đổi được Quốc Hội khóa XI, kỳ
họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, Chủ tòch nước ký ban hành ngày 12/12/2005
và có hiệu lực từ 01/07/2006, công tác bảo vệ môi trường đã được chú trọng trên

đây:
Bảng 1. 1. Thành phần các chất trong không khí khô chưa bò ô nhiễm
Tên chất

Công thức

Tỷ lệ theo thể tích

phân tử

Tổng trọng lượng trong khí
quyển (Triệu tấn)

Nitơ

N2

78,09

3.850.000.000

Oxy

O2

20,91

1.180.000.000

Argon


Metan

CH4

1,3 “

3.700

Kripton

Kr

1,0 “

15.000

Hydro

H2

0,5 “

180

Nitơ ôxit

N2 O

0,25 “


0,001 “

8
3

Ghi chú: (*) 1 ppm = 0,0001 % thể tích; 1 ppm = M/22,4 mg/m

http://www.ebook.edu.vn

9


hoặc 1 mg/m3 = 22,4/M.
Trong đó:M là phân tử lượng của chất khí;
22,4 là thể tích (tính bằng lít) của một mole chất khí ở điều kiện tiêu
chuẩn (0oC và 1 atm).
Như đã trình bày ở trên, ngoài các thành phần khô nêu trên mà người ta thường
gọi là không khí khô, trong không khí còn chứa một lượng hơi nước nhất đònh. Thông
thường hơi nước tồn tại trong không khí dưới dạng “hơi quá nhiệt”, tức là chúng ở
trạng thái chưa bão hoà. Không khí có thể nhận thêm hơi nước để trở về trạng thái
bão hoà.
Nồng độ bão hoà của hơi nước trong không khí phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt
độ. Lượng hơi nước bão hòa theo nhiệt độ có thể tham khảo bảng 1.2 sau đây:
Bảng 1.2. Nồng độ bão hoà hơi nước phụ thuộc vào nhiệt độ
Nhiệt độ (toC)

Nồng độ hơi nước bão hoà (%)

0


10

http://www.ebook.edu.vn


vật, phá huỷ vật liệu, làm giảm cảnh quan môi trường đều gây ô nhiễm môi trường,
hay nói khác đi là không khí đó đã bò ô nhiễm.
Ô nhiễm không khí có thể là thể pha trộn của các thể rắn, lỏng, khí. Những thể
mà chúng được phân tán rất nhanh nhờ các điều kiện về khí hậu. Khi xảy ra hiện
tượng giảm áp (áùp thấp nhiệt đới) các khối không khí chuyển động làm cho các chất
gây ô nhiễm trở nên đậm đặc, thảm hoạ ô nhiễm có thể xảy ra. Tương tự như vậy,
các chất vô hại dưới tác dụng của áp xuất sẽ bốc lên và có thể trở thành chất gây ô
nhiễm nghiêm trọng cho môi trường không khí khi chúng kết hợp với chất khác cùng
có trong môi trường không khí.
Các nhân tố góp phần tạo nên ô nhiễm không khí bao gồm cả nhân tố tự nhiên
và do con người. Các nhân tố tự nhiên bao gồm các q trình tự nhiên như: động đất,
núi lửa, bão cát sa mạc, cháy rừng, sóng thần hay dịch phấn hoa và q trình thối rữa
của động và thực vật. Thông thường, các nhân tố tự nhiên thường xảy ra ở xa ngoài
tầm kiểm soát của con người.
Các nhân tố ô nhiễm do con người tạo ra thì dễ kiểm soát hơn. Chất gây ô
nhiễm do con người tạo ra thường phát sinh từ quá trình hoạt động cơng nghiệp, giao
thơng vận tải, nơng nghiệp, dịch vụ thương mại, phá rừng và kể cả các hoạt động trong
chiến tranh gây ra. Chất ô nhiễm không khí do con người tạo ra về tổng quan có thể
chia làm các dạng sau: Ơ nhiễm do bụi, hơi khí độc, nhiệt thừa, mùi hơi, chất phóng xạ
và các vi sinh vật.

1.3. MỘT SỐ HIỂM HOẠ VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.3.1. Trên thế giới
Lòch sử nhân loại đã xảy ra khá nhiều hiểm hoạ về ô nhiễm không khí. Có thể

do trên 2,5 triệu chiếc xe hơi và khoảng 30 ngàn xí nghiệp công nghiệp hoạt động
thải vào môi trường lượng hơi khí độc, bụi và mùi hôi rất lớn. Theo thống kê cho
thấy mỗi năm khoảng 4,3 triệu tấn chất thải độc hại thải vào môi trường đã làm cho
nồng độ Ôzon cao hơn tiêu chuẩn cho phép 3 lần. Thành phố đã phải áp dụng biện
pháp khẩn cấp là trường học phổ thông phải đóng cửa, giảm bớt giờ sinh hoạt và làm
việc của người lớn. Tạm ngừng hoạt động của 1 triệu ô tô, hàng trăm nhà máy, xí
nghiệp công nghiệp phải ngừng sản xuất hoặc hoạt động với 3/4 công suất nhằm
giảm lượng hơi khí độc thải vào khí quyển.
Chắc chúng ta hẳn còn nhớ thảm hoạ nhà máy điện nguyên tử Trernobưn của
Ucraina (thuộc Liên Xô cũ) vào năm 1984. Hậu quả của thảm hoạ này không chỉ
gây ảnh hưởng ngay khi xảy ra mà nó còn tiềm ẩn và gây ảnh hưởng rất lâu dài cho
đến nay vẫn chưa khắc phục được. Toàn thế giới đều quan tâm đến tai hoạ này. Phải
mất hàng chục tỷ dollar mới có thể khắc phục hậu quả này.
Ô nhiễm không khí cùng với việc khai thác tài nguyên không hợp lý, chặt phá
rừng bừa bãi…, làm cho tầng ơzon bò thủng, gây nên hiệu ứng nhà kính và đặc biệt là
thay đổi khí hậu toàn cầu gây nên hiện tượng Elnino và Lanina kèm theo những trận
mưa lụt, bão khủng khiếp và hạn hán kéo dài. Kết quả cuối cùng là dẫn đến thiệt
hại nhân mạng tài sản của cộng đồng cùng nạn cháy rừng nghiệm trọng như đã từng
xảy ra tại Bangladesh, Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Indonesia và các nước khác trên thế
giới trong đó có Việt Nam. Kèm theo các hiện tượng này là ô nhiễm nguồn nước, ô

12

http://www.ebook.edu.vn


nhiễm môi trường không khí không chỉ trên phạm vi một nước mà có thể ảnh hưởng
tới các nước lân cận.
1.3.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thật may mắn cho chúng ta là chưa xảy ra thảm hoạ nào gây ảnh


http://www.ebook.edu.vn

13


Minh là 6.239.938 người (con số điều tra cuối năm 2005), đó là chưa kể số dân vãng
lai khơng thống kê được. Đây là thành phố có số dân đông nhất Việt Nam, là trung
tâm văn hoá, khoa học kỹ thuật và giao dòch với nước ngoài thông qua các cảng lớn
như Sài Gòn, Bến Nghé, Tân Cảng … và sân bay Tân Sơn Nhất. Mặt khác, nó còn là
đầu mối giao thông rất quan trọng với các tỉnh miền Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long.
Trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có hàng chục khu công nghiệp
đã và đang hình thành với quy mô hàng chục ngàn hecta như khu công nghiệp Tân
Thuận, Linh Xuân, Linh Trung, Tân Tạo, Vónh Lộc, Lê Minh Xuân, khu công nghiệp
quận Tân Bình… Theo số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy có khoảng
gần 800 xí nghiệp công nghiệp, trên 30.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đang
hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Qua hai đợt kiểm tra của Sở Khoa học Công nghệ Môi trường thành phố Hồ Chí
Minh đối với các nhà máy xí nghiệp lớn đã phân loại và đánh giá được 85 nhà máy,
xí nghiệp được liệt kê vào “sách đen”, đó là những nhà máy, xí nghiệp có mức độ ô
nhiễm nặng cần phải giải quyết tức thời. Qua thực tế đó có thể thấy tải lượng các
chất ô nhiễm do các nhà máy, xí nghiệp này thải ra rất lớn, nồng độ các chất ô
nhiễm thường cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Bảng 1.3. dưới đây cho chúng ta thấy
các số liệu đó.
Bảng 1.3. Hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí của một số nhà máy ở thành
phố Hồ Chí Minh
Tên nhà máy

Tải lượng


3

3

3

(tấn/năm)

(mg/m )

(mg/m )

(mg/m )

(dBA)

Dệt Việt Thắng

11,26

153,73

35,25

0,59

0,20

0,083


0,22

96–100

Dệt Thành Công

-

126,8

26,9

-

-

-

84 – 97

Dệt Thắng Lợi

-

116,6

25,7

-


0,42

0,30

0,015

90

Dệt may Gia Đònh

0,64

42,4

-

-

-

-

-

14

http://www.ebook.edu.vn



-

2,82

48,08

11,02

0,51

0,14

0,021

-

-

160 –200

21,4

-

-

-

-


-

Rượu Bình Tây

1,02

0,58

67,84

-

-

-

-

XK Cầu Tre

-

117,8

25,9

0,2

0,35


-

-

-

Bột giặt VISO

3,53

56,52

11,02

0,53

0,33

0,03

-

Bột giặt TICO

1,0

95,4

21


29,74

0,85

0,53

1,01

-

Thép Nhà Bè

114,31

44,09

20,22

0,77

0,55

0,96

-

Thép Tân Bình

98,6


583

128

-

-

-

-

140,4

1.900

436

5,2

0,45

-

-

Cement QK.7

181


-

63

14,2

-

-

-

-

Thuốc lá Sàigòn

-

98

20,6

-

-

-

-


http://www.ebook.edu.vn

15


Về giao thông vận tải, theo số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy một
số lượng xe cộ khổng lồ đang lưu hành trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Có thể
tham khảo số liệu dưới đây:
Bảng 1.4. Thống kê số lượng xe tại tp Hồ Chí Minh (số liệu 1997) (chiếc)
Loại xe

Năm 1993

Năm1994

Năm 1995

Năm 1996

Năm 1997

Xe gắn máy

866.000

954.738

1.004.000

1.098.899


110.711

Vành đai trong

117.195

199.017

Nội thành

106.836

668.280

Toàn thành

387.093

978.008

Nguồn số liệu: Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tp Hồ Chí Minh
Trên cơ sở các số liệu trên có thể tính toán sơ bộ lượng khí thải thải ra do các
phương tiện trên trong các năm 1996 và 1997 như sau:
Bảng 1.6. Tải lượng ô nhiễm theo lượng nhiên liệu bán ra năm 1996 (tấn/năm)
Chỉ tiêu ô nhiễm

Xe chạy dầu

Xe chạy xăng


26.241
186

Nguồn số liệu: Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tp Hồ Chí Minh
16

http://www.ebook.edu.vn


Bảng 1.7. Tải lượng ô nhiễm theo lượng nhiên liệu bán ra năm 1997 (tấn/năm)
Chỉ tiêu ô nhiễm

Xe chạy dầu

Xe chạy xăng

Tổng cộng

Bụi

1.551

2.755

4.306

SO2

7.217


-

203

203

Nguồn số liệu: Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tp Hồ Chí Minh.
Một điều đáng chú ý là trong ô nhiễm giao thông vận tải, do đặc điểm là nguồn
đường nên rất khó kiểm soát và phạm vi ô nhiễm lan rất nhanh gây ảnh hưởng xấu
đến dân cư hai ven đường. Có thể tham khảo số liệu sau đây:
Bảng 1.8. Năm 1997 tải lượng ô nhiễm theo hành trình và loại xe (tấn/năm)
Chỉ tiêu ô nhiễm

Xe chạy dầu

Xe chạy xăng

Tổng cộng

B

686

1.328

2.014

SO2


Chì

-

98

98

Nguồn số liệu: Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tp Hồ Chí Minh
Báo cáo của Sở Khoa học Công nghệ Môi trường thành phố Hồ Chí Minh tháng
2 năm 1997 về “Hoạt động môi trường thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy chất lượng
môi trường không khí bò ô nhiễm chủ yếu là từ các ngành công nghiệp hoá chất,
luyện kim, vật liệu xây dựng, năng lượng, giao thông vận tải và các hoạt động có
liên quan đến đốt các loại nhiên liệu đặc biệt là dầu DO.
Toàn thành phố có 688 con đường lớn nhỏ với tổng chiều dài 811km, có trên
600 hẻm nhỏ hẹp với tổng chiều dài 813km. Số lượng nút giao thông là 9.814, số nút
có khả năng gây ùn tắc 1.102 nên rất dễ gây hiện tượng ùn tắc về giao thông thậm
http://www.ebook.edu.vn

17


chí ngay cả trong các giờ không phải cao điểm. Với đặc điểm đường nhỏ hẹp, mặt
khác, các phương tiện giao thông chủ yếu là xe gắn máy và các loại xe hơi, xe đạp
và số lượng tăng rất nhanh hàng năm, do vậy tình trạng ô nhiễm giao thông tăng lên
cũng khá nhanh.
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài 28.01.04 (1985) do Kỹ sư Đỗ Trần Đính và
Tiến siõ Phạm Đức Nguyên tiến hành cho thấy ô nhiễm do bụi và tiếng ồn khu vực
thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Biên Hoà là lớn nhất vùng Đông Nam Bộ.
Đường đẳng trò bụi lắng 40 mg/m3 bao quanh khu vực giáp ranh quận 1 và quận 5.


13.000
12.500
10.015

http://www.ebook.edu.vn


Lý Thường Kiệt

11.306
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên – ĐHQGTPHCM

Mức độ lưu thông của các loại xe gia tăng, mặc dù thành phố đã có nhiều biện
pháp khác nhau như cấm xe giờ cao điểm, xây dựng nhiều nút giao thông, mở rộng
đường, giải tỏa lòng lề đường nhưng qua kết qủa giám sát của các trạm giám sát
quốc gia cho thấy mức độ ô nhiễm không khí vẫn ngày một gia tăng. Theo kết quả
giám sát của trạm quan trắc quốc gia thuộc Viện Môi trường và Tài nguyên – Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh nồng độ một số chất ô nhiễm như bụi, SO2,
tiếng ồn…, đã vượt tiêu chuẩn cho phép.
Bảng 1.10. Nồng độ các chất ô nhiễm tại một số điểm trong tp Hồ Chí Minh (4/1997)
Bụi

Điểm đo

CO
3

Chì
3

10,37
11,78
10,31

0,0022
0,0023
0,0017

0,083
0,0063
0,029

Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên – ĐHQGTPHCM
Theo các số liệu giám sát gần đây nhất cho thấy nồng độ bụi của các điểm
giám sát đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Các chỉ số ô nhiễm khác đều có xu hướng
tăng hơn so với những năm trước.
Bảng 1.11. Nồng độ các chất ô nhiễm tại một số điểm trong tp Hồ Chí Minh (7/1999)
Bụi
(mg/m3)

Điểm đo

CO
(mg/m3)

Chì
(mg/m3)

NO2
(mg/m3)

Về lónh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mức độ gây ô nhiễm môi trường
không khí cũng không kém phần quan trọng. Qua hai đợt kiểm tra thành phố đã
thống kê được 84 nhà máy, xí nghiệp được liệt kê vào “sách đen” để xử lý. Các loại

http://www.ebook.edu.vn

19


xí nghiệp như hoá chất, dệt nhuộm, chế biến thực phẩm, sản xuất giấy, nhà máy
điện, thuốc trừ sâu, sản xuất thép, mỳ ăn liền, sản xuất vật liệu xây dựng… thường
nằm trong diện đó. Ví dụ: nhà máy điện Thủ Đức mỗi ngày đốt 1.000 tấn dầu FO và
750 tấn dầu DO để phát điện; Mỗi năm thải ra 1.078 tấn bụi;, 13.872 tấn SO2;
4.687,2 tấn NO2. Nhà máy hoá chất Tân Bình sản xuất các sản phẩm H2SO4 và phèn
nhôm. Nhà máy sử dụng một số lượng rất lớn lưu huỳnh, quặng bôxit, dầu FO. Các
chất ô nhiễm thải ra môi trường không khí bao gồm: SO2 và SO3 = 160 đến 200
tấn/năm; 21,4 tấn NO2; đó là chưa kể lượng bụi phèn và tiếng ồn. Nhà máy cement
Hà Tiên thải ra lượng khí thải từ lò hơi với lượng bụi 140,4 tấn/năm, NO2 = 436
tấn/năm, ngoài ra còn lượng bụi cement thải ra rất lớn chưa có số liệu đo đạc chính
xác về chúng.
Bên cạnh các xí nghiệp công nghiệp lớn như nêu trên, với trên 30.000 cơ sở tiểu
thủ công nghiệp và cơ sở sản xuất hoạt động đang làm cho môi trường không khí
thành phố bò ô nhiễm nặng nề không kém. Trong những năm gần đây, với chính
sách dãn dân, xây dựng thêm nhiều khu công nghiệp lớn, giải toả bớt các cơ sở gây
ô nhiễm nặng của thành phố đã đạt được những thành tích nhất đònh. Tuy nhiên, các
khu vực ô nhiễm nặng như khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thuộc phường
19, 20 Tân Bình, khu vực Suối Cái, Xuân Trường, Suối Nhum Thủ Đức, Quận 6,
Quận 8, 11 và Quận 5…, vẫn còn là những nơi có mức độ ô nhiễm không khí rất cao.
Theo những con số thống kê gần đây cho thấy dân số thành phố tính đến năm
2005 là 6.239.938 người với mức độ tăng hàng năm khoảng trên 110.000 người chưa


80.186

Xe bus, xe lam

2.190

3.836

4.379

20

http://www.ebook.edu.vn

2003
2.809.853
130.848
4.894

2004
3.115.838
228.300
5.389


Nguồn: Sở Giao thông Công chánh thành phố. HCM
Có thể nói mức độ ô nhiễm môi trường của thành phố Hồ Chí Minh là cao nhất
so với tất cả các thành phố, các tỉnh khác trong cả nước.
1.4.2. Tình hình ô nhiễm môi trường không khí tại Hà Nội


http://www.ebook.edu.vn

21


Bảng 1.13 dưới đây cho thấy kết quả khảo sát của 4 quận nội thành nêu trên.
Bảng 1.13. Tình hình ô nhiễm môi trường không khí 4 quận nội thành Hà Nội
Bụi
(mg/m3)

SO2
(mg/m3)

CO2
(mg/m3)

CO
(mg/m3)

Quận Đống Đa

0,3 – 1

0,15 – 0,3

6 – 10

2–5


600.000 xe gắn máy 2 bánh, 150 xe bus các loại. Hàng năm số lượng xe ở Hà Nội
tăng lên rất nhanh, khoảng 17 – 20 % /năm. Dự báo đến năm 2.000 số xe ở Hà Nội
tăng lên rất nhanh so với năm 1996 (2,35 lần), trong đó ô tô con tăng 2,35 lần, xe tải
62 lần và xe bus 1,23 lần.
Tại một số tuyến đường như Mai Động, Lò Đúc, Minh Khai, Giải Phóng, Ngã
Tư Sở, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân… nồng độ các chất ô nhiễm so với tiêu chuẩn cho
phép (TCVN – 1995) cao hơn rất nhiều lần.
Nồng độ SO2 tại Ngã Tư Sở lên đến 1,5 – 7,5 mg/m3, vượt tiêu chuẩn cho phép
3 – 15 lần.
Về tiếng ồn do các phương tiện giao thông gây ra trung bình trên các tuyến
đường từ 75 – 79 dBA, đây là mức ồn tương đối lớn, tương đương với mức ồn của các
thành phố khác trên thế giới.
Một đặc điểm cần lưu ý nữa là do các dòch vụ ăn uống, chế biến thức ăn và chợ
nhỏ nhiều nên lượng vi khuẩn tồn tại trong không khí khá nhiều. Qua khảo sát ở một
số đường phố phía Nam thành phố thì cứ 10 lít không khí chứa 282 – 386 con vi
khuẩn gây bệnh khác nhau, trong khi đó tại Berlin (Đức) sau thế chiến thứ 2 số
lượng vi khuẩn trong 10 lít không khí chỉ là 1 con.
Mức độ tồn tại các loại vi khuẩn trong không khí cao có thể dẫn đến dòch bệnh
22

http://www.ebook.edu.vn


và ảnh hưởng đến sức khỏe của dân cư xung quanh cao hơn các nơi khác.
1.4.3. Ô nhiễm không khí ở thành phố Hải Phòng
Thành phố Hải Phòng với dân số trên 400.000 người, đường sá chật hẹp, tổ chức
giao thông không khác gì Hà Nội nên ô nhiễm môi trường không khí gây ra không
khác gì Hà Nội. Mặt khác, đây lại là một hải cảng lớn thường xuyên đón các tàu chở
hàng xuất và nhập khẩu vào các tỉnh phía Bắc và là trung tâm phân phối hàng đi các
tỉnh phía Bắc nên mật độ giao thông tăng khá cao.

23


xuất tư nhân.
Trong các khu công nghiệp hoặc các nhà máy nêu trên, nồng độ các chất ô
nhiễm rất cao, có nơi vượt tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần. Phạm vi bò ô nhiễm
cũng rất rộng, có nơi lên tới hàng chục km.
Ví dụ Nhà máy cement Hoàng Thạch, với chiều cao ống khói 87 m, trước đây
khi hệ thống lọc bụi tónh điện hoạt động tốt, lượng bụi thải ra ngoài tuy có nồng độ
cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhưng không nhiều. Trong những năm 1986 đến 1988,
do hệ thống lọc bụi bụi hỏng, không khí trong khu vực bò ô nhiễm rất nặng nề.
Lượng bụi thải ra mỗi ngày trung bình là 100 tấn, có nơi cách xa 10 đến 15 km vẫn
bò ô nhiễm. Qua kết quả nghiên cứu của một số đề tài trước đây ở miền Bắc cho
thấy, nồng độ bụi ở các xã xung quanh nhà máy rất cao. Ví dụ xã Minh Tân (Huyện
Kim Môn) cách nhà máy 0,5 đến 2 km nồng độ bụi trong không khí mùa hè tới 9,2
mg/m3, mùa đông 1,2 mg/m3. Bụi lắng trên mặt đất mùa hè từ 110 đến 417 g/m2
/tháng, mùa Đông từ 13 đến 163 mg/m2/ tháng. Ở xã Kim Sơn thuộc huyện Đông
Triều cách xa 5 đến 10 km, nồng độ bụi mùa hè là 0,65 đến 0,75 mg/m3, mùa đông
từ 0,65 đến 0,8 mg/m3; bụi lắng trên mặt đất mùa hè là 107 đến 128 g/m2 /tháng,
mùa đông là 69 đến 91 g/m2/tháng. Nồng độ SO2 ở các xã đều lớn, có nơi rất lớn như
xã Minh Tân đạt 1,67 đến 2,61 mg/m3.
Tại vùng mỏ Quảng Ninh, vựa than lớn nhất cả nước tình trạng ô nhiễm môi
trường không khí cũng đang ở mức báo động. Nồng độ bụi có cỡ hạt 5 μm (bụi gây
bệnh hô hấp) chiếm tỷ lệ rất cao, ở hầm lò là 70 đến 95 %, còn ở các nhà máy sàng,
tuyển thì thay đổi theo mùa, mùa mưa thời tiết ẩm tỷ lệ này là 50 đến 60 %, mùa
khô tỷ lệ này là 60 đến 8 %. Hàm lượng SiO2 (các tác nhân gây bệnh bụi phổi)
chiếm tỷ lệ 16 đến 30 % trong bụi than. Do đó tỷ lệ công nhân mắc các bệnh về
đường tai mũi họng chiếm 80 % trong tổng số người được khám, còn số người bò
bệnh bụi phổi chiếm tới 85 % trên tổng số công nhân mắc bệnh bụi phổi trong ngành
công nghiệp. Ở một số mỏ than hầm lò như Mạo Khê, Hà Lầm, Thống Nhất nồng độ

cho phép hàng trăm lần.
Ở một số các khu công nghiệp khác, nồng độ các chất ô nhiễm cũng rất cao,
theo kết quả sơ bộ điều tra của các cơ quan quản lý và giám sát môi trường cho thấy
một số kết quả sau,
Bảng 1.15. Ô nhiễm môi trường không khí ở một số nhà máy ở miền Bắc
Tên nhà máy

Điểm đo

Chất ô nhiễm

Nồng độ (mg/m3)

Hoá chất Việt Trì

Phối liệu thuốc 666

Bụi 666

0,8

Phân đạm Hà Bắc

Máy tạo khí

CO

150 – 170

Phân xưởng urê


Cl2

5

Accu Vónh Phú
Phân lân Văn Điển
Vicaco

Về tiếng ồn trong các nhà máy như Cơ Khí Duyên Hải, xe lửa Gia Lâm, Dệt
Nam Đònh, Dệt Vónh Phú, Cơ khí Cẩm Phả…, tiếng ồn lên đến 100 đến 115 dBA, còn
trong các khu dân cư là 60 đến 70 dBA, vượt tiêu chuẩn cho phép hàng chục dBA.
Sau năm 1985, hàng loạt các khu công nghiệp đã hình thành, thu hút hàng ngàn
các nhà đầu tư chủ yếu là nước ngoài và một số nhà đầu tư trong nước tập trung ở
một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương,
Tây Ninh, Long An, Bà Ròa – Vũng Tàu, vv... Việc quản lý chặt chẽ ngay từ đầu về
ô nhiễm môi trường đã hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường
không khí nói riêng rất nhiều. Đây là một thành tích đáng kể của các cơ quan quản
lý và giám sát môi trường trên đòa bàn cả nước.
Câu hỏi kiểm tra và đánh giá:
1. Thế nào là không khí “sạch”?
2. Các tác nhân nào gây ô nhiễm không khí?
Tài liệu tham khảo:
Tiếng Việt

http://www.ebook.edu.vn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status