ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN (IER)
PGS.TS. ĐINH XUÂN THẮNG
GIÁO TRÌNH
Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
(Tái bản lần thứ nhất, 2007)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TP HỒ CHÍ MINH 2007 3
LỜI NÓI ĐẦU
Môi trường sống – cái nôi của nhân loại đang ngày càng ô nhiễm trầm trọng
do con người. Cùng với sự phát triển của xã hội, môi trường đang từng bước bò hủy
diệt là mối quan tâm không chỉ riêng của một quốc gia nào. Bảo vệ môi trường là
nghóa vụ của cộng đồng toàn cầu và của Việt Nam nói riêng. Chỉ thò số 36/CT-TW
ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trò Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện đường lối
chỉ đạo đúng đắn đối với công tác bảo vệ và gìn giữ môi trường sống của nước ta.
Hiện trạng môi trường không khí ở nước ta, đặc biệt là trong các khu công nghiệp và
thiếu sót. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự quan tâm theo dõi và mong nhận được
nhiều ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp và bạn đọc.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sư Tiến siõ Trần Ngọc Chấn
đã góp ý cho nội dung của cuốn sách.
Chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã
sớm tái bản cuốn sách này.
TP. Hồ Chí Minh, 02/2007
Tác giả
5
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU VỀ
Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.1. TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
Mosris Neibusger - nhà khí tượng học của một trường đại học ở California đã
trích dẫn từ tạp chí “Today’s Health” do hiệp hội Y học Mỹ xuất bản như sau: “Tất
cả các quốc gia văn minh rồi sẽ đi theo con đường, không phải là những biến động
bất thình lình mà là sự ngẹt thở từ trong bầu không khí chứa chất thải của chính họ”.
Một số nhà sử học đã tiên đoán các giả thiết rằng: “Sự bùng nổ về dân số sẽ kéo
theo các nhu cầu thiết yếu cần nhiều thực phẩm hơn, nhiều nước hơn, cũng như nơi
ở, phương tiện giao thông đi lại và công ăn việc làm. Để thỏa mãn được nhu cầu đó
sẽ không bao giờ chấm dứt được nạn ô nhiễm không khí xung quanh ta”.
Những sông, hồ sạch sẽ từ đời tổ tiên ông bà ta để lại đã nhanh chóng trở thành
các dòng chảy có mùi, những hồ nước thối rữa mà trong đó không một sinh vật nào
dù là nhỏ bé có thể sống nổi. Khả năng tự làm sạch của các dòng chảy hầu như
không còn nữa hoặc với khả năng giảm đi rất nhiều vì các nhân tố gây ô nhiễm gồm
quá nhiều loại nước thải như: nước thải sinh hoạt từ các ống cống, chất giặt tẩy,
thuốc trừ sâu và các chất thải công nghiệp.
Các phương tiện giao thông vận tải như máy bay, tàu hỏa dùng dầu Diesel, khí
Stockholm - Th Điển tháng 6/1972 đã tập hợp rất nhiều chuyên gia, các nhà khoa
học, các quan chức của chính phủ các nước trên thế giới nhằm thống nhất cương lónh
hành động chung trong công tác gìn giữ và bảo vệ môi trường. Hội thảo đã khẳng
đònh việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường không chỉ có các nhà khoa học, các
kỹ sư, các quan chức hành chính, các tổ chức thế giới…, mà phải mang tích chất cộng
đồng - tức là mỗi cá nhân, mỗi con người đều phải có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi
trường. Cũng tại hội nghò này người ta thống nhất lấy ngày 5 tháng 6 hàng năm làm
ngày “Môi trường thế giới”.
Trong thông điệp gửi toàn thế giới hãy “Cứu lấy trái đất” – chiến lược cho cuộc
sống bền vững, của Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình
môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) và Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
(WWF) – Grand, Th Sỹ tháng 10 năm 1991, đã nhấn mạnh ba mục tiêu chiến lược
bảo vệ toàn cầu là:
7
• Phải duy trì các quá trình sinh thái quan trọng của các hệ bảo đảm sự
sống;
• Phải bảo tồn tính đa dạng di truyền;
• Phải sử dụng bền vững bất cứ một loài hay một hệ sinh thái nào.
Để thực hiện được các mục tiêu đó, lời kêu gọi nhấn mạnh phải hành động ngăn
chặn nạn ô nhiễm môi trường. “Tất cả các chính phủ cần phải ban hành nguyên tắc
phòng ngừa. Đó là giảm hoặc nơi nào đó có điều kiện thì ngăn chặn việc thải bỏ bừa
bãi các chất thải độc hại. Tốt nhất là dành việc bảo vệ đất, không khí, sông ngòi và
biển cho một cơ quan. Phải vận dụng cả các biện pháp kích thích bằng kinh tế và
quy chế. Tất cả các chính quyền thành phố, công xưởng, công nghiệp và nông dân
đều phải đóng góp cho công việc đó”.
“Việc thải ra các chất SO
x
, NO
x,
Tại Việt Nam, vấn đề ô nhiễm môi trường mới được Nhà nước quan tâm và đầu
tư khá nhiều kinh phí trong những năm gần đây. Tuy là một nước lạc hậu, kinh tế
kém phát triển nhưng vấn đề ô nhiễm môi trường cũng gây không ít phiền phức cho
xã hội do nền kinh tế Việt Nam mang một hình thái kinh tế riêng biệt với công nghệ
lạc hậu, nguyên vật liệu thiếu thốn, quy mô nhỏ, nằm xen kẽ trong khu dân cư và
đặc biệt là nguồn kinh phí đầu tư cho công tác gìn giữ và bảo vệ môi trường là khá
hạn hẹp.
Một đặc thù khác là ở những thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, … do mật độ giao thông lớn, các phương tiện công cộng ít hoặc gần như không
phù hợp với thò hiếu người dân nên vấn đề ô nhiễm không khí do giao thông vận tải
gây ra không phải là nhỏ. Theo thống kê mới đây nhất dân số thành phố Hồ Chí
Minh là 6.239.938 người (con số điều tra cuối năm 2005), với mật độ dân số như vậy
việc gây ô nhiễm môi trường do hàng triệu xe máy, hàng trăm ngàn xe tải, xe hơi là
không tránh khỏi.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một phần do nền kinh tế được ngày một
nâng cao, được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mức công tác gìn giữ và bảo vệ
môi trường ở Việt Nam từng bước đã đi vào nề nếp. Song song với việc ra đời của
bộ chủ quản (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nay là Bộ Tài nguyên – Môi
trường) là các hệ thống ngành dọc (các Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường nay
là Sở Tài ngun & Mơi trường) cùng các cơ quan hành chính khác. Điều quan trọng
nhất là sự ra đời của Bộ Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghóa Việt Nam 10/1/1994 và Luật Môi trường sửa đổi được Quốc Hội khóa XI, kỳ
họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, Chủ tòch nước ký ban hành ngày 12/12/2005
và có hiệu lực từ 01/07/2006, công tác bảo vệ môi trường đã được chú trọng trên
phạm vi cả nước. Các công tác giám sát, xử lý môi trường được thực hiện cho hầu
hết các cơ sở, xí nghiệp, nhà máy đã, đang và sẽ xây dựng trong tương lai. Song
song đó là hàng loạt các văn bản, nghò đònh dưới luật của các cơ quan Nhà nước và
các đòa phương nhằm thực hiện tốt Bộ Luật nêu trên.
1.2. CÁC TÁC NHÂN GÂY Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.2.1. Không khí “sạch”
Oxy
O
2
20,91 1.180.000.000
Argon
Ar 0,93 65.000.000
Cacrbon dioxit
CO
2
0,032 2.500.000
Neon
Ne 18ppm (*) 64.000
Heli
He 5,2 “ 3.700
Metan
CH
4
1,3 “ 3.700
Kripton
Kr 1,0 “ 15.000
Hydro
H
2
0,5 “ 180
Nitơ ôxit
N
2
O 0,25 “ 1.900
Cacrbonmonoxít
CO 0,10 “ 500
độ. Lượng hơi nước bão hòa theo nhiệt độ có thể tham khảo bảng 1.2 sau đây:
Bảng 1.2. Nồng độ bão hoà hơi nước phụ thuộc vào nhiệt độ
Nhiệt độ (t
o
C) Nồng độ hơi nước bão hoà (%)
0
10
20
25
30
0,6
1,2
2,3
3,1
4,2
Lượng hơi nước chứa trong không khí có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề ô nhiễm
môi trường. Cùng với các yếu tố khác của khí quyển, chúng có thể là môi trường tạo
nên các phản ứng hoá học giữa các chất ô nhiễm với nhau đặc biệt là với các chất
khí có tính “háo nước” dễ tạo thành các axit, đây là nguyên nhân tạo nên các trận
mưa axit mà chúng ta thường nhắc đến.
1.2.2. Các tác nhân gây ô nhiễm không khí
Ở trên chúng ta đã đề cập đến khái niệm không khí sạch, như vậy : Thế nào là
không khí bò ô nhiễm? Có thể hiểu một cách tương đối như sau:
Bên cạnh các thành phần chính của không khí, bất kỳ một chất nào ở dạng rắn,
lỏng, khí được thải vào môi trường không khí với nồng độ vừa đủ gây ảnh hưởng tới
sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng, phát triển của động, thực
11
vật, phá huỷ vật liệu, làm giảm cảnh quan môi trường đều gây ô nhiễm môi trường,
hay nói khác đi là không khí đó đã bò ô nhiễm.
Tại nước Mỹ vào tháng 8 năm 1969 không khí ô nhiễm bò “tù hãm” lâu ngày đã
bao phủ từ miền Chicago và Milwankee tới New Orleans và Philadelphia gây rất
12
nhiều thiệt hại. Thảm hoạ lớn nhất do ô nhiễm không khí xảy ra trong thời gian gần
đây nhất, đó là vụ rò rỉ khí MIC (khí Metyl–iso–cyanate) của liên hiệp sản xuất
phân bón ở Bhopal thuộc Ấn Độ vào năm 1984. Khoảng trên 2 triệu người đã bò
nhiễm độc, trong đó có 5.000 người chết và 50.000 người bò nhiễm độc trầm trọng,
rất nhiều người bò mù… Khí MIC là loại khí độc được dùng trong thuốc trừ sâu. Nó
tác dụng với nước rất nhanh, thâm nhập vào đường hô hấp gây nên bệnh phổi phù
thũng. Rất nhiều người ở Bhopal đã chết vì phổi của họ chứa đầy nước. Cứ 3 trẻ em
mà mẹ của chúng có thai trong thời gian đó thì chỉ có một em được sống sót. Rất
nhiều em sinh ra bò dò tật. Thực vật cũng bò ảnh hưởng nghiêm trọng, ở phạm vi 3,5
km
2
bao quanh nhà máy, cây cối đều bò chết hoặc vàng lá, năng suất thu hoạch của
các loại cây ăn trái, củ rất thấp.
Thành phố Mexico, thủ đô của Mexico với 20 triệu dân là thành phố đông dân
nhất thế giới và cũng là nơi ô nhiễm môi trường không khí vào loại bậc nhất thế
giới. Tháng 3 năm 1992, dân chúng thành phố đã trải qua những ngày rất khó khăn
do trên 2,5 triệu chiếc xe hơi và khoảng 30 ngàn xí nghiệp công nghiệp hoạt động
thải vào môi trường lượng hơi khí độc, bụi và mùi hôi rất lớn. Theo thống kê cho
thấy mỗi năm khoảng 4,3 triệu tấn chất thải độc hại thải vào môi trường đã làm cho
nồng độ Ôzon cao hơn tiêu chuẩn cho phép 3 lần. Thành phố đã phải áp dụng biện
pháp khẩn cấp là trường học phổ thông phải đóng cửa, giảm bớt giờ sinh hoạt và làm
việc của người lớn. Tạm ngừng hoạt động của 1 triệu ô tô, hàng trăm nhà máy, xí
nghiệp công nghiệp phải ngừng sản xuất hoặc hoạt động với 3/4 công suất nhằm
giảm lượng hơi khí độc thải vào khí quyển.
Chắc chúng ta hẳn còn nhớ thảm hoạ nhà máy điện nguyên tử Trernobưn của
Ucraina (thuộc Liên Xô cũ) vào năm 1984. Hậu quả của thảm hoạ này không chỉ
giá hiện trạng ô nhiễm môi trường mới được các cơ quan chức năng thực hiện trong
những năm của thập niên 90 thông qua các trạm quan trắc quốc gia, các mạng lưới
kiểm soát và giám sát ô nhiễm môi trường của các tỉnh, các khu công nghiệp. Vì thế
chưa có đủ số liệu để đánh giá một cách đầy đủ tình hình ô nhiễm không khí của
nước ta. Mặt khác, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước nên diện mạo khu đô thò và công nghiệp thay đổi rất nhanh, do vậy phải
thường xuyên cập nhật thông tin, điều tra, giám sát bổ sung thì mới có cơ sở để đánh
giá và đề xuất các chính sách quản lý và giám sát thích hợp. Tuy nhiên, theo những
số liệu ban đầu cũng có thể sơ bộ cho thấy tình hình ô nhiễm không khí tại một số
đô thò và khu công nghiệp điển hình như sau.
1.4.1. Tình trạng ô nhiễm không khí tại TP Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1945 chỉ có khoảng 400.000 dân cư sinh
sống (kể cả Chợ Lớn), các hoạt động về giao thông vận tải chủ yếu bằng xe thồ, ghe
thuyền, số lượng xe hơi không đáng kể, chủ yếu chỉ có một số thương gia giàu có và
thực dân Pháp lúc đương thời. Theo thống kê mới nhất dân số thành phố Hồ Chí
14
Minh là 6.239.938 người (con số điều tra cuối năm 2005), đó là chưa kể số dân vãng
lai khơng thống kê được. Đây là thành phố có số dân đông nhất Việt Nam, là trung
tâm văn hoá, khoa học kỹ thuật và giao dòch với nước ngoài thông qua các cảng lớn
như Sài Gòn, Bến Nghé, Tân Cảng … và sân bay Tân Sơn Nhất. Mặt khác, nó còn là
đầu mối giao thông rất quan trọng với các tỉnh miền Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long.
Trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có hàng chục khu công nghiệp
đã và đang hình thành với quy mô hàng chục ngàn hecta như khu công nghiệp Tân
Thuận, Linh Xuân, Linh Trung, Tân Tạo, Vónh Lộc, Lê Minh Xuân, khu công nghiệp
quận Tân Bình… Theo số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy có khoảng
gần 800 xí nghiệp công nghiệp, trên 30.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đang
hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Qua hai đợt kiểm tra của Sở Khoa học Công nghệ Môi trường thành phố Hồ Chí
(mg/m
3
)
Nồng độ
NO
2
(mg/m
3
)
Tiếng
ồn
(dBA)
Dệt Việt Thắng
Dệt Phước Long
Dệt Phong Phú
Dệt Thành Công
Dệt Thắng Lợi
Dệt Chấn Á
Dệt Quyết Thắng
Dệt may Gia Đònh
11,26
5,28
8,45
-
-
-
11,26
0,64
153,73
-
0,083
0,13
0,22
-
-
0,08
0,015
-
90
96–100
96–100
84 – 97
84 – 96
108
90
-
15
Giấy Vónh Huê
Giấy Xuân Đức
Giấy Liksin
Hoá chất T.Bình
Vissan
Saigon Vewong
Rượu Bình Tây
XK Cầu Tre
Vifon
Bia Sài Gòn
Bột giặt VISO
1078,8
-
140,4
181
3,6
-
-
1,8
19,22
-
48,08
160 –200
0,03
0,9
0,58
117,8
233,2
408,7
56,52
95,4
79,5
129,71
44,09
56,4
13.872
583
1.900
48
-
63
-
-
-
0,2
0,19
-
0,53
0,48
-
0,85
0,77
-
0,41
-
5,2
46,2
8,6
-
-
4,1
0,32
0,14
0,14
-
-
-
-
0,35
0,245
-
0,71
-
-
-
-
-
-
0,095
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
85–100
-
-
-
95 - 110
90–105
-
Vành đai trong
Nội thành
Toàn thành
163.062
117.195
106.836
387.093
110.711
199.017
668.280
978.008
Nguồn số liệu: Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tp Hồ Chí Minh
Trên cơ sở các số liệu trên có thể tính toán sơ bộ lượng khí thải thải ra do các
phương tiện trên trong các năm 1996 và 1997 như sau:
Bảng 1.6. Tải lượng ô nhiễm theo lượng nhiên liệu bán ra năm 1996 (tấn/năm)
Chỉ tiêu ô nhiễm Xe chạy dầu Xe chạy xăng Tổng cộng
Bụi
SO
2
NO
x
CO
HC
Chì
1.672
7.783
21.404
10.895
19.849
10.103
4.330
-
2.755
2.360
15.741
236.100
23.610
203
4.306
9.577
35.590
246.203
27.940
203
Nguồn số liệu: Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tp Hồ Chí Minh.
Một điều đáng chú ý là trong ô nhiễm giao thông vận tải, do đặc điểm là nguồn
đường nên rất khó kiểm soát và phạm vi ô nhiễm lan rất nhanh gây ảnh hưởng xấu
đến dân cư hai ven đường. Có thể tham khảo số liệu sau đây:
Bảng 1.8. Năm 1997 tải lượng ô nhiễm theo hành trình và loại xe (tấn/năm)
Chỉ tiêu ô nhiễm Xe chạy dầu Xe chạy xăng Tổng cộng
B
SO
2
NO
x
CO
18
chí ngay cả trong các giờ không phải cao điểm. Với đặc điểm đường nhỏ hẹp, mặt
khác, các phương tiện giao thông chủ yếu là xe gắn máy và các loại xe hơi, xe đạp
và số lượng tăng rất nhanh hàng năm, do vậy tình trạng ô nhiễm giao thông tăng lên
cũng khá nhanh.
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài 28.01.04 (1985) do Kỹ sư Đỗ Trần Đính và
Tiến siõ Phạm Đức Nguyên tiến hành cho thấy ô nhiễm do bụi và tiếng ồn khu vực
thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Biên Hoà là lớn nhất vùng Đông Nam Bộ.
Đường đẳng trò bụi lắng 40 mg/m
3
bao quanh khu vực giáp ranh quận 1 và quận 5.
Trên đường Trần Hưng Đạo, từ ngã tư Nguyễn Văn Cừ đến ngã tư Nguyễn Tri
Phương là khu vực ô nhiễm bụi lớn nhất thành phố, nồng độ bụi vượt từ 3 đến 4 lần
tiêu chuẩn cho phép. Đường đẳng trò bụi lắng 30 mg/m
3
bao quanh khu vực từ chợ
Bến Thành đến thò trấn An Lạc và xa cảng miền Tây. Đường đẳng trò bụi lắng 20
mg/m
3
(vượt trò số cho phép khoảng 2 lần) bao gồm toàn bộ khu vực dân cư còn lại
của thành phố trừ Thảo Cầm Viên, Phú Thọ Hòa và khu vực Thanh Đa.
Về ô nhiễm do SO
2
, đường đẳng trò nồng độ SO
2
= 0,8 mg/m
3
bao phủ toàn bộ
khu vực chợ Bến Thành, chợ Bình Tây. Ngã tư Trần Hưng Đạo và Nguyễn Tri
Phương là nơi ô nhiễm SO
12.500
10.015
19
Lý Thường Kiệt 11.306
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên – ĐHQGTPHCM
Mức độ lưu thông của các loại xe gia tăng, mặc dù thành phố đã có nhiều biện
pháp khác nhau như cấm xe giờ cao điểm, xây dựng nhiều nút giao thông, mở rộng
đường, giải tỏa lòng lề đường nhưng qua kết qủa giám sát của các trạm giám sát
quốc gia cho thấy mức độ ô nhiễm không khí vẫn ngày một gia tăng. Theo kết quả
giám sát của trạm quan trắc quốc gia thuộc Viện Môi trường và Tài nguyên – Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh nồng độ một số chất ô nhiễm như bụi, SO
2
,
tiếng ồn…, đã vượt tiêu chuẩn cho phép.
Bảng 1.10. Nồng độ các chất ô nhiễm tại một số điểm trong tp Hồ Chí Minh (4/1997)
Điểm đo
Bụi
(mg/m
3
)
CO
(mg/m
3
)
Chì
(mg/m
3
)
NO
Điểm đo
Bụi
(mg/m
3
)
CO
(mg/m
3
)
Chì
(mg/m
3
)
NO
2
(mg/m
3
)
Đinh Tiên Hoàng – Điện Biên Phủ
Hàng Xanh
Phú Lâm
1.87
1,14
0,63
17,29
6,96
6,77
0,0032
0,0023
3
= 160 đến 200
tấn/năm; 21,4 tấn NO
2
; đó là chưa kể lượng bụi phèn và tiếng ồn. Nhà máy cement
Hà Tiên thải ra lượng khí thải từ lò hơi với lượng bụi 140,4 tấn/năm, NO
2
= 436
tấn/năm, ngoài ra còn lượng bụi cement thải ra rất lớn chưa có số liệu đo đạc chính
xác về chúng.
Bên cạnh các xí nghiệp công nghiệp lớn như nêu trên, với trên 30.000 cơ sở tiểu
thủ công nghiệp và cơ sở sản xuất hoạt động đang làm cho môi trường không khí
thành phố bò ô nhiễm nặng nề không kém. Trong những năm gần đây, với chính
sách dãn dân, xây dựng thêm nhiều khu công nghiệp lớn, giải toả bớt các cơ sở gây
ô nhiễm nặng của thành phố đã đạt được những thành tích nhất đònh. Tuy nhiên, các
khu vực ô nhiễm nặng như khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thuộc phường
19, 20 Tân Bình, khu vực Suối Cái, Xuân Trường, Suối Nhum Thủ Đức, Quận 6,
Quận 8, 11 và Quận 5…, vẫn còn là những nơi có mức độ ô nhiễm không khí rất cao.
Theo những con số thống kê gần đây cho thấy dân số thành phố tính đến năm
2005 là 6.239.938 người với mức độ tăng hàng năm khoảng trên 110.000 người chưa
kể số dân nhập cư không hợp pháp và khách vãng lai đã gây áp lực rất lớn về nhu
cầu đi lại của người dân thành phố. Mạng lưới giao thông công cộng của thành phố
cùng với hệ thống đường xá chưa được quy hoạch và phát triển đồng bộ mặc dù
thành phố đã có nhiều chính sách ưu tiên cho lónh vực này đầu tư thêm các phương
tiện xe bus, có chính sách trợ giá cho xe bus, tăng cường sửa chữa mạng lưới đường
xá, xây dựng các vòng xoay, cầu vượt… nhưng vẫn không hạn chế được mức độ ô
nhiễm môi trường không khí ngày càng gia tăng hiện nay. Có thể minh hoạ sự gia
tăng số lượng phương tiện giao thông qua bảng 1.12. sau đây:
Bảng 1.12. Thống kê số lượng phương tiện vận chuyển ở TP. HCM (ĐV: chiếc)
Loại phương tiện
gấp 6 lần tiêu chuẩn cho phép, vì vậy Nhà nước đã quyết đònh đóng
cửa.
Thượng Đình – khu công nghiệp lớn nhất Hà Nội bao gồm 22 xí nghiệp, nhà
máy lớn, nhỏ trước đây nằm xa khu dân cư, nay hàng loạt khu dân cư xung quanh
mọc lên như Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Kim Giang…, mặt khác, các nhà
máy, xí nghiệp lại nằm xen kẽ trong khu dân cư, cơ quan, trường học nên mức độ
ảnh hưởng rất lớn.
Quận Hai Bà Trưng trước đây các xí nghiệp công nghiệp nằm ở vùng ven nội
thành, nay do mức độ đô thò hoá phát triển nhanh dẫn đến tình trạng các nhà máy, xí
nghiệp lại nằm xen kẽ trong khu dân cư. Ví dụ Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo,
Rượu bia Hà Nội, Dệt kim Đông Xuân, Dệt 8 tháng 3, Hoá chất Ba Nhất, Cơ khí Mai
Động… Nồng độ bụi và hơi khí độc ở các khu vực trên vượt quá tiêu chuẩn cho phép
từ 7 đến 8 lần, có nơi đến 15 hoặc 16 lần. Theo số liệu thống kê và đo đạc trên 110
xí nghiệp công nghiệp của nội thành thuộc 4 quận đã cho thấy kết quả đáng lo ngại.
22
Bảng 1.13 dưới đây cho thấy kết quả khảo sát của 4 quận nội thành nêu trên.
Bảng 1.13. Tình hình ô nhiễm môi trường không khí 4 quận nội thành Hà Nội
Tên Quận
Bụi
(mg/m
3
)
SO
2
(mg/m
3
)
CO
quản lý.
Về giao thông vận tải, tuy mật độ xe không lớn, các tuyến đường chính chỉ
khoảng 1.500 – 3.000 xe/giờ như do đường hẹp, mặt đường xấu, không phân tuyến
rõ ràng nên các phương tiện phải luôn thay đổi tốc độ, đặc biệt ở một số nút giao
thông như Cửa Nam, Ngã Tư Sở, Khâm Thiên…, các xe phải dừng lâu nên lượng
khói thải sinh ra rất lớn. Theo thống kê của Sở Giao thông Công chánh Hà Nội, năm
1996 ở Hà Nội có khoảng 65.000 ô tô các loại, 1.200 xe lam, 1.150 xe Bông Sen,
600.000 xe gắn máy 2 bánh, 150 xe bus các loại. Hàng năm số lượng xe ở Hà Nội
tăng lên rất nhanh, khoảng 17 – 20 % /năm. Dự báo đến năm 2.000 số xe ở Hà Nội
tăng lên rất nhanh so với năm 1996 (2,35 lần), trong đó ô tô con tăng 2,35 lần, xe tải
62 lần và xe bus 1,23 lần.
Tại một số tuyến đường như Mai Động, Lò Đúc, Minh Khai, Giải Phóng, Ngã
Tư Sở, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân… nồng độ các chất ô nhiễm so với tiêu chuẩn cho
phép (TCVN – 1995) cao hơn rất nhiều lần.
Nồng độ SO
2
tại Ngã Tư Sở lên đến 1,5 – 7,5 mg/m
3
, vượt tiêu chuẩn cho phép
3 – 15 lần.
Về tiếng ồn do các phương tiện giao thông gây ra trung bình trên các tuyến
đường từ 75 – 79 dBA, đây là mức ồn tương đối lớn, tương đương với mức ồn của các
thành phố khác trên thế giới.
Một đặc điểm cần lưu ý nữa là do các dòch vụ ăn uống, chế biến thức ăn và chợ
nhỏ nhiều nên lượng vi khuẩn tồn tại trong không khí khá nhiều. Qua khảo sát ở một
số đường phố phía Nam thành phố thì cứ 10 lít không khí chứa 282 – 386 con vi
khuẩn gây bệnh khác nhau, trong khi đó tại Berlin (Đức) sau thế chiến thứ 2 số
lượng vi khuẩn trong 10 lít không khí chỉ là 1 con.
Mức độ tồn tại các loại vi khuẩn trong không khí cao có thể dẫn đến dòch bệnh
công nghiệp như vùng mỏ Quảng Ninh, khu gang thép Thái Nguyên, khu công
nghiệp Việt Trì, Hải Phòng… Bên cạnh đó còn một số nhà máy lớn với mức độ ô
nhiễm khá trầm trọng như Nhà máy cement Hoàng Thạch, Nhà máy nhiệt điện Ninh
Bình, Phân đạm Hà Bắc, Phân lân Văn Điển, vv… Ở miền Nam, lớn nhất là khu công
nghiệp Biên Hoà (nay đổi thành Biên Hoà 1) thuộc tỉnh Đồng Nai, ngoài ra còn khá
nhiều nhà máy nằm rải rác xen kẽ trong các khu dân cư như khu vực quận Tân Bình
với các nhà máy Hoá chất Tân Bình, Dầu ăn Tân Bình, Mì Vifon, Dệt Thắng Lợi,
khu các nhà máy dệt Phước Long, Việt Thắng thuộc huyện Thủ Đức, Hoá chất Thủ
Đức, vv… Đó là chưa kể hàng chục ngàn cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và sản
24
xuất tư nhân.
Trong các khu công nghiệp hoặc các nhà máy nêu trên, nồng độ các chất ô
nhiễm rất cao, có nơi vượt tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần. Phạm vi bò ô nhiễm
cũng rất rộng, có nơi lên tới hàng chục km.
Ví dụ Nhà máy cement Hoàng Thạch, với chiều cao ống khói 87 m, trước đây
khi hệ thống lọc bụi tónh điện hoạt động tốt, lượng bụi thải ra ngoài tuy có nồng độ
cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhưng không nhiều. Trong những năm 1986 đến 1988,
do hệ thống lọc bụi bụi hỏng, không khí trong khu vực bò ô nhiễm rất nặng nề.
Lượng bụi thải ra mỗi ngày trung bình là 100 tấn, có nơi cách xa 10 đến 15 km vẫn
bò ô nhiễm. Qua kết quả nghiên cứu của một số đề tài trước đây ở miền Bắc cho
thấy, nồng độ bụi ở các xã xung quanh nhà máy rất cao. Ví dụ xã Minh Tân (Huyện
Kim Môn) cách nhà máy 0,5 đến 2 km nồng độ bụi trong không khí mùa hè tới 9,2
mg/m
3
, mùa đông 1,2 mg/m
3.
Bụi lắng trên mặt đất mùa hè từ 110 đến 417 g/m
2
bụi đều vượt tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần. Bảng 1.14 cho chúng ta thấy điều
đó.
Bảng 1.14. Nồng độ bụi tại một số hầm lò (mg/m
3
)
Lò chợ
Nồng độ bụi trong không khí
(mg/m
3
)
Thống Nhất
Vàng Danh
Hà Lầm
33
58,2
128
25
Mạo Khê 77,7
Ở mỏ lộ thiên nồng độ bụi còøn cao hơn rất nhiều, có nơi vượt quá tiêu chuẩn
cho phép hàng trăm lần.
Ở một số các khu công nghiệp khác, nồng độ các chất ô nhiễm cũng rất cao,
theo kết quả sơ bộ điều tra của các cơ quan quản lý và giám sát môi trường cho thấy
một số kết quả sau,
Bảng 1.15. Ô nhiễm môi trường không khí ở một số nhà máy ở miền Bắc
Tên nhà máy Điểm đo Chất ô nhiễm Nồng độ (mg/m
3
)
Hoá chất Việt Trì
Phân đạm Hà Bắc
0,03
40 – 110
0,8 – 4
5
Về tiếng ồn trong các nhà máy như Cơ Khí Duyên Hải, xe lửa Gia Lâm, Dệt
Nam Đònh, Dệt Vónh Phú, Cơ khí Cẩm Phả…, tiếng ồn lên đến 100 đến 115 dBA, còn
trong các khu dân cư là 60 đến 70 dBA, vượt tiêu chuẩn cho phép hàng chục dBA.
Sau năm 1985, hàng loạt các khu công nghiệp đã hình thành, thu hút hàng ngàn
các nhà đầu tư chủ yếu là nước ngoài và một số nhà đầu tư trong nước tập trung ở
một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương,
Tây Ninh, Long An, Bà Ròa – Vũng Tàu, vv... Việc quản lý chặt chẽ ngay từ đầu về
ô nhiễm môi trường đã hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường
không khí nói riêng rất nhiều. Đây là một thành tích đáng kể của các cơ quan quản
lý và giám sát môi trường trên đòa bàn cả nước.
Câu hỏi kiểm tra và đánh giá:
1. Thế nào là không khí “sạch”?
2. Các tác nhân nào gây ô nhiễm không khí?
Tài liệu tham khảo:
Tiếng Việt
26
1. Trần Ngọc Chấn, Ô nhiễm không khí và kỹ thuật xử lý, Nhà xuất bản Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội, 2000 – 2001.
2. Phạm Ngọc Đăng, Môi trường không khí, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật,
Hà Nội, 1997.
Tiếng Anh
3. Henry C. Perkins, Air pollution, Aerospace and Mechanical Engineering
Department University of Arizona, 1974.