KIẾN NGHỊ VỀ THỰC HIỆN PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH &
SÁCH GIÁO KHOA MÔN NGỮ VĂN THCS
I/NHẬN ĐỊNH CHUNG:
Chương trình Ngữ văn THCS có nhiều ưu điểm như thể hiện rõ tính
mục đích trong việc hướng đến việc thực hiện mục tiêu chung của nhà trường
THCS cũng như ba mục tiêu của bộ môn là mục tiêu kiến thức, mục tiêu kĩ
năng và mục tiêu tình cảm – thái độ. Nó cũng thể hiện rõ sự nhất quán trong
quan điểm xây dựng và phát triển chương trình, đảm bảo quan điểm khoa học,
quan điểm sư phạm và quan điểm thực tiễn. Chương trình tiếp tục xây dựng
theo nguyên tắc tích hợp (dọc và ngang): theo yêu cầu tích hợp dọc, chương
trình chia thành hai vòng, vòng 1 (lớp 6,7), vòng 2 (lớp 8,9). Một số kiểu văn
bản đã học ở vòng 1 được tiếp tục học ở vòng 2 với yêu cầu cao hơn. Theo
yêu cầu tích hợp ngang, chương trình lấy các kiểu văn bản đọc làm trục chính
để liên kết nội dung học tập ở cả ba phần Văn học, Tiếng Việt và Tập làm
văn.
Tuy vậy, khi đi vào cụ thể thể hiện ở sự sắp xếp ở Phân phối chương
trình và Sách giáo khoa - đặc biệt xét từ góc độ người dạy và người học –
Chương trình không tránh khỏi một số vướng mắc cần được bàn thêm.
II/NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH:
1/Do thiếu thời lượng:
Việc không đủ thời gian giảng dạy để chuyển tải kiến thức ở một số
bài học đã tạo ra nhiều khó khăn cho cả người dạy và cả người học.
-Lớp 6:
+Tiết 5: Thánh Gióng (1 tiết)
+Tiết 77: Sông nước Cà Mâu (1 tiết)
-Lớp 7:
+Tiết 17: Sông núi nước Nam, Phò giá về kinh (1 tiết)
+Tiết 121: Ôn tập văn học (1 tiết)
-Lớp 8:
+Tiết 9: Tức nước vỡ bờ (1 tiết)
+Tiết 85: Ngắm trăng, Đi đường (1 tiết)
+Tiết Luyện nói – Bài văn giải thích một vấn đề đặt sau tiết Bài Tập làm văn
số 6 (lập luận giải thích).
*Ở một góc độ khác nhưng vẫn có liên quan đến quy trình dạy các kiểu văn
bản có hiện tượng từ tuần 5 đến tuần 13 học sinh học phần văn biểu cảm (về
sự vật, con người) nhưng chương trình chỉ giới thiệu toàn các văn bản thơ.
Hai văn bản văn xuôi biểu cảm Sài Gòn tôi yêu và Mùa xuân của tôi lại phải
giảng dạy sau tiết Ôn tập văn bản biểu cảm.
Lớp 9:
+Tiết Luyện nói - Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ đặt sau tiết Bài Tập làm
văn số 7.
b/Về trình tự đọc – hiểu tác phẩm:
Nguyên tắc chung của việc cấu trúc các tiết học về một tác phẩm tự sự
(truyện) là đi theo trình tự diễn biến của câu chuyện trong tác phẩm. Ở PPCT
lớp 9, phần học về Truyện Kiều, nguyên tắc này có bị vi phạm. Cụ thể:
-Lớp 9:
+Tiết Mã Giám Sinh mua Kiều lại bị đặt sau tiết Kiều ở lầu Ngưng Bích.
c/Về quy trình thực hiện tiết Kiểm tra tổng hợp (Kiểm tra học kì):
Chỉ thực hiện tiết này khi đã hoàn thành tất cả các tiết ôn tập và kiểm
tra các phần (Tiếng Việt, Tập làm văn, Văn). Ở PPCT, trật tự các tiết có lúc
có sự thay đổi không hợp lí.
Lớp 8:
-2-
+Tiết Ôn tập phần Tập làm văn (139) đặt sau tiết Kiểm tra tổng hợp cuối năm
(tiết 135, 136 - Kiểm tra học kì).
+Tiết Trả bài kiểm tra Tiếng Việt (71) đặt sau tiết Kiểm tra tổng hợp kì I (tiết
67, 68).
Lớp 9:
+Tiết Trả bài kiểm tra Tiếng Việt (86) và Trả bài kiểm tra Văn(87) đặt sau tiết
Kiểm tra tổng hợp học kì I (tiết 82, 83).
+Tiết Trả bài kiểm tra Văn (173) và Trả bài kiểm tra Tiếng Việt (174) đặt sau
phần nào thời lượng giữa Văn, TV và TLV ở trong một bài. Nhưng cố gắng
-3-
không kéo dài bài Văn sang phần TV hay TV sang LV. Chỉ trong trường hợp
đặc biệt mới điều chỉnh như thế.
3/Có một số bài học phải học trong hai tuần khác nhau (vì phải dùng thời
lượng để kiểm tra) cần chú ý đến sự nhất quán của bài học, nhắc lại nội dung
bài đã thực hiện ở tuần trước.
Rõ ràng, người dạy Ngữ văn ở THCS – so với người dạy Ngữ văn ở
THPT - đã không có được các quyền hạn sau đây:
-Quyền được điều chỉnh một cách hợp lí trình tự của một số bài và cả
vấn đề thời lượng dành cho từng bài (miễn là không làm thay đổi tổng số
tiết dạy của mỗi học kì cũng như của toàn năm học).
-Quyền đưa những bài đọc thêm vào nội dung kiểm tra, đánh giá để
nội dung kiểm tra, đánh giá toàn diện, phong phú hơn.
-Quyền nếu xét thấy có những điểm khác biệt giữa SGK, SGV và
PPCT thì người dạy có quyền thực hiện theo PPCT.
2/NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ SÁCH GIÁO KHOA & HƯỚNG GIẢI
QUYÊT:
1/Những vướng mắc:
-Lớp 6:
+Về tranh minh họa chưa sát hợp: Tranh của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm vẽ
Thánh Gióng mặc khố, cởi trần, vác khúc tre mang tính cách điệu không phù
hợp với kiến thức của văn bản Thánh Gióng.
+Về đề văn mơ hồ: Đề 1 trang 34 (“Hãy tưởng tượng cuộc đọ sức giữa Sơn
Tinh và Thủy Tinh trong điều kiện ngày nay với máy xúc, máy ủi, xi-măng
cốt thép, máy bay trực thăng, điện thoại di động, xe lội nước...”).
-Lớp 7:
+Về đề văn mơ hồ: “Cảm xúc về vườn nhà”, “Cảm xúc về con vật nuôi”,
“Cảm xúc về người thân”.
+Về sự quá tải: