Văn học dân gian
Văn học dân gian
Khái niệm văn học dân gian
- Văn học dân gian là một thành tố của văn hoá dân gian, tức là phôncơlo (trí tuệ nhân dân).
- Văn học dân gian còn gọi là văn học truyền miệng hoặc văn học bình dân.
- Văn học dân gian là những sáng tác tập thể truyền miệng của nhân dân, ra đời từ thời viễn
cổ, phát triển qua các thời kì lịch sử, đến cả hiện nay và mai sau. Văn học dân gian có những đặc
trưng riêng so với văn học viết; nó cùng với văn học viết hợp thành nền văn học dân tộc.
Các thể loại văn học dân gian
1. Thơ ca dân gian: tục ngữ, câu đố, ca dao, hò, vè, truyện thơ.
2. Truyện dân gian: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn.
3. Sân khấu dân gian: chèo, tuồng đồ.
Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
1. Tính tập thể (trong sáng tạo, trong lưu truyền, trong sử dụng và cảm thụ...)
2. Tính truyền miệng.
3. Gắn với sinh hoạt xã hội (đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động...)
Giá trị và vai trò của văn học dân gian trong nền văn học dân tộc
1. Văn học dân gian là kho báu về trí tuệ, tâm hồn và thẩm mĩ cao đẹp của nhân dân.
2. Văn học dân gian là ngọn nguồn, là cơ sở kết tinh của văn học dân tộc.
Tát nước đầu đình
Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp cho một thúng sôi vò,
tâm tình mở rộng dần ra. Từ "một" đã thành "đôi" rồi:
"Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo"
Bài ca dao, "bức thông điệp của tình yêu" đã thấm sâu vào tâm hồn người thiếu nữ khi bên tai
nàng một tiếng nói chân tình vang ngân:
"Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau".
Các điệp từ, điệp ngữ: "giúp cho.... giúp cho..." tạo nên ngữ điệu nồng nàn, ý vị, thiết tha, thể
hiện một cách chân thành nỗi ước mơ nên vợ nên chồng mà chàng trai cày đang hướng tới.
2
Văn học dân gian
Cho chim khoe giọng hót. Anh thợ mộc Thanh Hoa khoe tài. Chàng trai cày nói chuyện bỏ
quên cái áo "sứt chỉ đường tà" v.v… Trai gái làng xưa đã tỏ tình, đã giao duyên... đậm đà như
vậy.
Lao động, hạnh phúc lứa đôi, cuộc sống êm đềm hạnh phúc "chồng cày, vợ cấy, con trâu đi
bừa", là ước mong, khát vọng muôn đời của họ. Chân thành, tế nhị ... của chàng trai trong tỏ
tình, trong giao tiếp... là một nét rất đẹp trong tâm hồn để ta trân trọng.
Một số bài tập
Baì 20591
Bình giảng bài ca dao “Tát nước đầu đình”.
BÀI LÀM
“Tát nước đầu đình” còn được nhiều người gọi là “Bài ca xin áo”. Là bài ca tỏ tình, là
tiếng hát giao duyên của anh trai cày sau luỹ tre xanh thuở nào. Trai gái làng quê xưa đã tình tự,
đã giao duyên, đã hát ghẹo nhau nơi sân đình, nơi gốc đa,… để rồi “chín nhớ mười thương”, để
rổi “Yêu nhau cởi áo cho nhau - Về nhà dối mẹ, qua cầu gió bay”. Có ngàn vạn mối tình thì
cũng có ngàn vạn cách tỏ tình “dịu ngọt”;
- “Gặp đây Mận mới hỏi Đào,
Vườn Hồng đã có ai vào hay chưa?...”
“Đôi ta được gặp nhau đây,
Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng”.
Không phải thổ lộ để cầu xin một chút thương hại. Anh đã gợi lên trong lòng thiếu nữ một
tình thương. Cô xúc động khi nghe anh nói. Anh đang cần một người như cô để săn sóc mẹ già,
cần một người đẹp đôi như “em” để xây dựng một tổ ấm gia đình. Chàng trai đã đến với thiếu
nữ bằng tất cả tấm long tin yêu chân thành, chân thật, với tất cả nỗi lòng khao khát tình yêu hạnh
phúc gia đình. Anh là một con người siêng năng chịu khó. Anh là một đứa con hiếu thảo. Anh là
một trai tơ “vợ anh chưa có”. Tiếng nói của anh, gia cảnh của anh “đánh thức” trong lòng thiếu
nữ biết bao tình yêu thương “trong buổi mới lạ lùng” ấy. Và cô hiểu rằng, anh không thể thiếu
cô trong cuộc đời và cô phải đến với anh bằng tất cả tấm lòng yêu thương.
Cái áo “sứt chỉ đường tà” đã đi trọn “một vòng đời” khi anh nhẹ nhàng, nửa kin nửa hở
nói: “Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng”. “Cô ấy” là cô nào, một cách nói bóng gió dễ nghe.
Chữ “cùng”là cách nói “buông”, nghĩa là cùng ăn, cùng ở, cùng nên vợ nên chồng. Anh đang
chăn đơn gối chiếc, thiếu kẻ sửa túi nâng khăn. Anh còn mẹ già: “mẹ già bằng ba lần cửa”, “Mẹ
già như chuối ba hương – Như xôi nếp mật, như đường mía lau”. Từ chỗ gọi bằng “em” khi xin
áo, chàng trai cày đã chuyển sang nói bóng gió: “cô ấy” khi mượn khâu áo “sứt chỉ đường tà”
“Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ tra công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho”.
Anh là một con người chu tất, trọn vẹn trong ứng xử. Anh sống nhân hậu, tình nghĩa thuỷ
chung. Chàng trai nói về chuyện “trả công”, nói về chuyện “giúp cho”. Rất hậu hĩnh. Chỉ khâu
cái áo sứt chỉ đường tà mà anh anh sẽ “giúp cho”: “một thúng xôi vò”, “một con lợn béo”, “một
vò rượu tăm”. Cùng với lời nói, đến đây khoé mắt, đuôi mày, nụ cười, mái tóc… như đều biết
thổ lộ tâm tình, đều cùng tham dự vào cuộc tỏ tình, giao duyên. mỗi lúc một hé lộ, cánh cửa tâm
tình mở rộng dần ra. Từ “một” đã thành “đôi” tự bao giờ rồi”
“Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo”.
Bài ca dao - bức thông điệp cầu hôn – đã thấm sâu vào tâm hồn thiếu nữ khi bên tai nàng
một tiếng nói chân tình ngân lên:
“Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.”
Bốn cửa anh chạm bốn hoa,
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.
Bốn cửa anh chạm bốn đèn,
Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ.
Một đèn đọc sách ngâm thơ,
Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.
Lời bình
Tục ngữ có câu: "Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Kinh kì", hoặc: "Thợ mộc xứ Thanh ở quanh
Thuận Quảng". Thợ mộc dù giỏi đến đâu cũng chỉ được gọi là phó cả. Thợ mộc làm cung điện
vua chúa mới được gọi là thợ cả. Xây dựng cung điện thời Lê - Thịnh, thời Nguyễn sau này,
phần lớn là thợ mộc Thanh Hoá. Câu đầu của bài ca dao này có dị bản ghi là "Anh làm thợ mộc
Thanh Hoa". Theo ý chúng tôi là “Anh là thợ mộc Thanh Hoa”; một chữ là biết mấy tự hào khi
chàng trai xưng danh với cô gái. Không phải thợ mộc tầm thường mà là thợ mộc Thanh Hoa xây
dựng cung điện đấy nhé! Hai chữ "khéo thay" cũng là lời tự khen, khoe tài của anh: "Làm cầu,
làm quán, làm nhà ... khéo thay"! Có tài thực mà khoe khoang thì cũng chẳng hay ho gì! Ở đây,
chàng thợ mộc Thanh Hoa khoe tài là để tỏ tình với cô gái mà anh đang yêu, nên rất dễ thương,
được chúng ta đồng tình.
5
Văn học dân gian
Câu 3,4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tài cán gì ở cái việc "bào trơn, đóng bén"... Từ câu thứ
năm trở đi, bằng biện pháp liệt kê, chàng thợ mộc khoe tài chạm trổ của anh. Năm bức chạm con
vật: dê, rồng, mèo, gà, lươn. Hai bức chạm cảnh: hoa và đèn. Có bức chạm tứ linh: rồng, nhưng
đã được cách điệu dân gian hoá, bình dị hoá.
"Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo"
Con lươn có gì đáng chạm? Với tài nghệ điêu luyện, bức chạm lươn vô cùng sống động, tuyệt
khéo:
"Bốn cửa anh chạm bốn lươn
Con thì thắt khúc, con trườn bò ra".
Nghệ thuật cổ phương Đông lấy cái cân xứng làm thành một tiêu trí của cái đẹp. Hội hoạ,
chạm trổ, kiến trúc, thơ văn... hay miêu tả cảnh vật qua bộ tứ bình: tùng, cúc, trúc, mai; xuân, hạ,
rất hay, rất đậm đà” “Gặp đây Mận mới hỏi Đào…”, “Hôm qua em đi hái dâu…”. “Tát nước
đầu đình…”, và “Bài ca chàng thợ mộc”.
Với 20 câu lục bát đi liền một mạch, qua ánh mắt và nụ cười, chàng thợ mộc tài hoa và đa
tình mượn chuyện chạm trổ của mình để tỏ tình với cô thôn nữ.
Bốn câu đầm ấm áp với bao tình quê vơi đầy. Chàng trai đã xưng danh, xưng nghề, xưng
quê hương bản quán. Cũng như nhiều thiếu nữ khác đã bẽn lẽn nói về mình: “Em là cô gái đồng
trinh…”, “Em là con gái kẻ Mơ…”, chàng trai thật đàng hoàng tự tin nói với cô thôn nữ:
“Anh là thợ mộc Thanh Hoa
Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay!
Lựa cột anh dựng đòn tay,
Bào trơn, đóng bén nó ngay một bề.”
Tục ngữ có câu: “Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Kinh kỳ”, hoặc: “Thợ mộc xứ Thanh ở
quanh Thuận Quảng”. Thợ mộc dù tài giỏi đến đâu cũng chỉ được gọi là phó cả. Chỉ có thợ mộc
làm cung điện vua chúa mới được gọi là thợ cả. Xây cung điện thời Lê-Trịnh, thời Nguyên sau
này, phần lớn là thợ mộc Thanh Hoa. Câu đầu của bài ca dao này có dị bản ghi là “Anh làm thợ
mộc Thanh Hoa”, vì quen miệng theo đà 3 chữ “làm” trong câu ca thứ hai nên mới lầm lẫn như
thế! Một chữ “là” biểu lộ biết bao tự hào về quê hương bản quán, về nghề nghiệp truyền thống
của mình. Không phải là một tay “đục đẽo” tầm thường, mà anh chính là thợ mộc Thanh Hoa
từng xây dựng cung điện, nổi danh tài ba. Ba câu tiếp theo, anh tự khẳng định mình là một người
làm ăn giỏi, một thợ mộc giỏi toàn diện, nổi danh tài ba. Ba câu tiếp theo, anh tự khẳng định
mình là một người làm ăn giỏi, một thợ mộc giỏi toàn diện, biết “Làm cầu, làm quán, làm nhà”,
biết “lựa cột dựng đòn tay”, biết “bào trơn đóng bén”. Hai chữ “khéo thay” là tự khen, tự khoe
tài là để tỏ tình với cô gái mà anh đang yêu, nên rất dễ thương và được chúng ta đồng tình. Vả
lại, thói đời xưa nay vẫn thế “Gái tham tài, trai tham sắc”. Câu 3, 4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tài
cán gì ở cái việc “bào trơn, đóng bén…” mà khoe?
Mười câu ca dao tiếp theo, bằng biện pháp liệt kê, anh thợ mộc Thanh Hoa nói với cô
thiếu nữ về nghệ thuật chạm trổ về những con giống. Mỗi con vật được chạm trổ đều có đôi, có
đàn; con nào cũng đều mang một hình thù, một dáng vẻ khác nhau, trong trạng thái động. Nghệ
thuật chạm trổ đạt đến trình độ cực kỳ điêu luyện, sáng tạo, đẹp mắt và hấp dẫn.
Đình đền, cung điện… mới chạm rồng; vật linh thiêng trong nhóm tứ linh: long, li, quy,
Bốn cửa anh chạm bốn lươn,
Con thì thắt khúc, con trườn bò ra.
“Thắt khúc” và “trườn bò ra” là hai nét chạm cực khéo, làm cho con vật đơn sơ, bình dị
được nghệ thuật “thổi hồn vào”. Có thể nói, 5 bức chạm dê, chạm rông, chạm mèo, chạm gà,
chạm lươn, bức nào cũng sống động, khéo léo, tài ba. Qua những bức chạm ấy, anh thợ mộc
Thnh Hoa kín đáo thổ lộ với người bạn tình một nỗi ước mong về cuộc đời có âm dương, có đôi
lứa, có no đủ sung túc, có hoà hợp yên vui, được sống hạnh phúc trong một mái ấm gia đình do
tài năng anh tự vui đắp nên.
Nói ca rồi anh nói gần, anh đã làm cho thiếu nữ “Lặng nghe lời nói như ru…” Chàng thợ
mộc giới thiệu bức chạm hoa”
“Bốn cửa anh chạm bốn hoa,
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen”.
Có hoa thì hương thơm ngào ngạt như hoa sói. Có hoa thì rực rỡ “Nhị vàng, bông trắng, lá
xanh - Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” như hoa sen. Bức chạm này cũng gởi gắm bao nết
tài hoa, thơ mộng, bởi lẽ “Lòng đời chắc nặng lắm – Hoa sói hoài không thôi” (Hoa về - Huy
Cận).
Sau bức chạm hoa là bức chạm đèn. Mỗi cây đèn soi tỏ một nét tâm tình dưới tổ ấm gia
đình hạnh phúc. “Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ” hướng về cô nàng khéo tay hay làm. Cây
8
Văn học dân gian
đèn thứ ba: “Một đèn đọc sách ngâm thơ” chiếu sáng một tâm hồn thanh cao nho nhã. Cây đèn
thứ tư là “cây đèn thần”, cây đèn ước hẹn chờ mong “đèn thương nhớ ai – mà đèn không tắt”,…
Lời tỏ tình thật hồn nhiên, chân tình, duyên dáng”
“Một đèn anh để đợi chờ nàng đây”.
Đó là một tiếng nói yêu thương, nồng nàn, dịu ngọt, một tiếng nói có mùi thơm của hương
hoa, có ánh sáng của lửa đèn và chứa chan hy vọng về ngày mai hạnh phúc.
Tóm lại, bài ca dao “Bài ca chàng thợ mộc” là một trong những bài ca dao tỏ tình hay
nhất, ý vị nhất. Tất cả 20 câu lục bát là lời độc thoại của chàng thợ mộc về quê quán, nghiệp
nghề, về tài hoa… Anh thợ mộc Thanh Hoa khoe tài để tỏ tình. Con người tài hoa, đa tình ấy
mới đáng yêu làm sao!
Văn học dân gian
Em chết đau đớn, oan khuất. Linh hồn không nơi lưng tựa, bơ vơ. Rồi bị các quan slay ở âm
phủ bắt làm sa dạ sa đồng - phu chèo thuyền trên biển ma. Mỗi lần vượt biển là phải trải qua một
hải trình dài 12 rán nước, đay thuỷ quái, mặt biển réo sôi. Các sa dạ sa đồng lúc thì cất tiếng than
hãi hùng, lúc thì hối hả gọi nhau chèo gấp. Lúc các slay lên bờ kéo vào chợ Đường Chu (chợ xứ
ma của Diêm Vương), sa dạ ngồi trên bờ biển than khóc, khiếp sợ nghĩ đến cảnh phải vượt biển
trở lại tiếp theo...
Phân tích đoạn thơ "Chèo thuyền vượt biển"
Ở dương gian, người em trải qua nhiều cái khổ: mồ côi, cô đơn, đói rách, bị anh giết chết một
cách dã man và oan uổng. Xuống địa ngục lại trở thành sa dạ sa đồng, phải trèo thuyền vượt qua
biển dữ, biển ma. Hải trình là 12 rán nước, mỗi rán nước là một cửa tử, rùng rợn vô cùng. Phép
liệt kê tăng cấp cùng với tiếng than khóc, tiếng biển sôi, biển réo tạo nên cảnh chết vô cùng hãi
hùng! Rán thứ chín "mặt biển nước sôi gầm réo", rán thứ mười "nước trời băng băng, làm cho
con thuyền "cánh dầm tung bốn góc". Rán thứ mười một "sóng đuổi sóng xô đi", v.v… Thuỷ
quái, nhất là con "ngọ lồm" - quỷ biển ma - đón đường cắn xé sa dạ sa đồng. Phu chèo thuyền
kinh hãi, cất tiếng khóc than:
"Biển ơi, đừng giết tôi
Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền".
Họ gọi nhau "chèo mau lên, chèo cố" giữa biển ma mịt mù và cái chết nơi cõi âm bủa vây.
Các slay - quan quân lên bờ, có người "ôm hoa", "ôm hương", có người "cầm nón", "cầm ô",
"xách giầy hoa...giầy đẹp", gánh gồng bao của quý "đi lễ người". Còn các sa dạ sa đồng, hồn ma
của người em bất hạnh ngồi trên bờ biển càng cảm thấy cô đơn, nghĩ đường về nhà kinh hãi:
"Chèo thuyền qua lò than, qua biển
Nhìn đường về, nước cuộn ầm rung".
Hết rán nước này qua rán nước khác, chèo thuyền đi rồi lại chèo thuyền về trên biển ma - kết
cấu chuyển dịch nhằm diễn tả những kiếp người luân hồi đau khổ. "Vượt biển" qua giọng đọc và
khấn cầu của thầy cúng, ai đã một lần được nghe mới súc động trước âm điệu thê thiết não nùng,
mới cảm thấy cái khủng khiếp của bể trầm luân và thương sót với những kiếp người đau khổ,
bất hạnh. Truyện thơ "Vượt biển" là tiếng kêu đau thương từ cõi âm vọng về cõi dương. Đó là
nội dung nhân đạo của nó.
đang đối thoại với cô gái, mặt trời "qua sàn người thương", lúc "sắp lặn", lúc "khuất mây mờ",
mặt trời "không gọi....không chờ", - chẳng khác nào chàng trai - người yêu của cô.
Gánh củi về nhà, cô ngạc nhiên nhìn thấy gói cà, gói xôi, gói thuốc lào... Lúc đầu cô tưởng là
hàng hoá của người Xá mang tới đổi bán. Khi biết là sính lễ "ràng cuốn tình con", cô luống
cuống hoảng sợ, đau khổ "lập cập chạy ra sân"..."nát ruột gan" nghĩ về người yêu. Kêu van bác
trai, bác gái, chú thím, chị em dâu rể, ai cũng bảo: "Không giúp nổi cháu ơi", "không giúp được
em ơi!" Nghe chim cu khuyên giải: "Bố gả chồng cho, đừng chối cô à!".
Như một định mệnh "dầu van xin cha cũng không buông không thả", cô gái tủi thân, tủi phận,
than khóc:
"Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa.
Bằng con chẫu chuộc thôi!"
2. Ý nghĩa, giá trị
- Đoạn thơ phản ánh tục lệ ép duyên, lên án lễ giáo phong kiến về hôn nhân đã chà đạp lên
tình yêu hạnh phúc của người phụ nữ. (Thái)
11
Văn học dân gian
- Đoạn thơ có giá trị nhân đạo, thể hiện sự đồng cảm đối với nỗi đau khổ của người con gái
bị ép duyên.
Trầu Cau
Tóm tắt
Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao sinh được hai người con trai giống nhau như hai giọt
nước, thật khó phân biệt ai là anh, ai là em. Khi hai anh em đến tuổi 17, 18 thì cha mẹ đều qua
đời cả. Anh em lại càng yêu thương nhau nhiều hơn.
Hai anh em đến xin học ông đạo sĩ họ Lưu. Thấy hai anh em chăm chỉ học hành, lại đứng đắn
nên thầy quý như con. Ông đạo sĩ có một cô con gái xinh đẹp tươi giòn, tuổi đã 16, 17 sinh lòng
yêu mến hai chàng trai, muốn kết duyên với người anh như không thể phân biệt được người nào
là anh, người nào là em. Sau đó, cô mới nghĩ ra một kế: dọn 2 bát cháo mà chỉ đặt một đôi đũa
rồi mời hai anh em cung ăn. Người em lễ phép nhường đôi đũa cho người anh ăn trước. Cô gái
xinh đẹp xin phép cha mẹ cho được lấy người anh làm chồng.
Từ ngày lấy vợ, người anh hình như dồn tất cả tình yêu cho vợ nên tình cảm anh em không
đình.
Cái chết của ba người-hai anh em họ Cao và cô gái họ Lưu- chỉ là một sự hoá thân kì diệu:cau
- trầu - vôi. Cây cau toả bóng chở che cho hòn đá, cây trầu quấn chặt lấy thân cau. Cũng như
trầu với cau ăn với tí vôi làm cho miệng thơm môi đỏ. Trầu cau đã gắn bó với lễ hội cổ truyền,
trong thù tiếp của cộng đồng người Việt xa xưa.
2. Lời bình
Dị bản thành văn của truyện "Trầu cau" xuất hiện ở thế kỷ 15 trong "Lĩnh Lam chích quái"
(Truyện Cây Trầu). Nhưng như thế là rất muộn so với nội dung xã hội được phản ánh trong
truyện. Mằc dù các tác giả "Lĩnh Lam chích quái" có cố gắng tô điểm lại thêm đôi nét cho thích
hợp với quan điểm đạo đức thời phong kiến, dị bản này vẫn bảo lưu được cái cốt lõi rất cổ của
truyện kể. Đó là một kiểu truyện kể về sự xung đột của hai quan điểm vì hình thái hôn nhân: một
thuộc chế độ quần hôn (anh em lấy chung một vợ) thời mẫu hệ và một thuộc chế độ hôn nhân và
gia đình lứa đôi thời phụ hệ.
Sự xung đột đó phản ánh một bước tiến xã hội và thể hiện thành tâm trong đau khổ giằng xé
giữa tình anh em và tình yêu trai gái ở trong từng nhân vật của truyện. Tâm trạng ấy đưa đến cái
chết sầu muộn của cả ba người thật là cảm động. Kiểu truyện này phổ biến khắp vùng Đông
Nam Á.
Nhưng cũng như ở nhiều nơi khác, truyện cổ tích thần kì Việt Nam đã lồng đề tài xã hội vào
đề tài thiên nhiên, đã kết thúc bằng đồng nhất các quan hệ tình cảm kia với sự hài hoà của thiên
nhiên (trầu, cau, vôi) gợi nên niềm thương cảm gắn bó giữa những con người chân thành với
nhau, cũng là một nội dung văn hoá lành mạnh của tục ăn trầu ở Việt Nam hàng ngàn năm qua.
Chử Đồng Tử
Tóm tắt
Ngày xưa ở nàng Chử Xá có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nghèo khổ, mò cua
bắt ốc, chỉ có một chiếc khố chung nhau, hễ ai đi đâu thì đóng: Chử Cù Vân ốm sắp chết dặn
con cứ táng trần cho cha. Nhưng khi Chử Cù Vân qua đời thì Chử Đồng Tử đã lấy khố đóng cho
cha rồi mới chôn cất. Ngày ngày Chử Đồng Tử vẫn xuống sông mò cua bắt cá kiếm sống. Thuở
ấy có nàng Tiên Dung, công chúa của vua Hùng thứ ba, nhan sắc tuyệt trần, đã 17, 18 tuổi mà
không chịu lấy chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi. Một hôm, thuyền của nàng đến
khúc sông làng Chử Xá, thấy cảnh sông nước bờ bãi xinh đẹp, nàng bèn ra lệnh cho thị nữ vây
khổ, một cái khố cũng không có, nhưng rất hiếu thảo, chân thật. Hạnh phúc cầm tay rồi mà
chàng vẫn bối rối, muốn chối từ. Với Tiên Dung thì nàng "gặp" và lấy Chử Đồng Tử là do
"duyên trời run rủi", là " tự trời xe duyên". Qua đó, ta thấy truyện Chử Đồng Tử nói lên quan
niệm của nhân dân ta về vấn đề hôn nhân là do duyên số, đồng thời thể hiện ước mơ tự do và
dân chủ trong tình yêu, trong xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Tiên Dung đã chủ động kết duyên với
Chử Đồng Tử vượt qua lễ giáo và đẳng cấp, vượt qua mọi thử thách để bảo vệ hạnh phúc.
Tình tiết Chử Đồng Tử cưỡi rồng xuống hạ thế giúp Triệu Việt Vương chiếc vuốt rồng linh
nghiệm... để quân ta chém được tướng giặc là Dương Sằn, Tổ quốc được giải phóng, đã làm cho
truyện cổ tích này thêm vị truyền thuyết thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của nhân dân ta. Con
người Việt Nam dù đi đâu làm đâu cũng nhớ về cội nguồn, tìm mọi cách để giúp nước. Chử
Đồng Tử và Tiên Dung đã sống và hành động như vậy.
Nhà sư Phật quang, cái nón và chiếc gậy nhiệm màu, cung điện tự mọc lên, tự mất đi, Chử
Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời, Chử Đồng Tử giúp Triệu Quang Phục cái vuốt rồng.... đó là
14
Văn học dân gian
yếu tố hoang đường, kì diệu... làm cho truyện cổ tích này vô cùng hấp dẫn. Các địa danh: làng
Chử Xá, bãi Tự Nhiên, đầm Nhất Dạ... nay vẫn còn đó, làm cho truyện cổ tích "Chử Đồng Tử"
tuy mang màu sắc hư ảo, thần kì mà như thật, có thật. Rất thú vị về những tên người, tên đất...
ấy.
Một số bài tập
Baì 17198
Tư liệu: Các lớp truyện Chử Đồng Tử
Bài giải
Chử Đồng Tử là một truyên cổ tích thần kỳ có nguồn gốc lâu đời,bắt rễ sâu trong đời sống vật
chất và đời sống tinh thần của người Việt.Cốt cơ bản của chuyện gồm những chặng chủ yếu
sau :
Thời thơ ấu nghèo khổ của chàng mồ côi làng Chử Xá:
Chặng đường này gồm các chi tiết sau:
- Hai cha con Chử Đồng Tử nghèo đến phải chung nhau chiếc khố ,hễ ai đi đâu thì đóng. (1)
- Cha chết vì thương cha nên Chư Đồng Tử đóng khố cho cha rồi mới chôn.Mình chịu cảnh
tính nhân bản cuả người Việt Nam đang tủm tỉm nụ cười hóm hỉnh ,hồn hậu .Và truyện Chử
Đồng Tử trước hết là truyện cổ tích về chàng đánh cá do hiếu thảo mà sau được hưởng hạnh
phúc.
Cuộc gặp gỡ giữa Chử Đồng Tử với công chúa Tiên Dung:
Nội dung chặng này kể hai sự việc sau:
- Giới thiệu nhân vật Tiên Dung.
- Thái độ và hành động của Tiên Dung trong cuộc gạp gỡ bất ngờ của chàng trai lạ .
Riêng ở chặng này ,nhân vật Tiên Dung đóng vai trò chính ,quả quyết và chủ động ngay
trong những tình thế bất ngờ và bất thường nhất.Trong kho tàng truyện cổ tích các dân tộc trên
thế giới phổ biến kiểu chuyện kể về “chàng trai (hoặc cô gái) nghèo,nhờ tài năng và đức hạnh về
sau lấy được công chúa (hoặc hoàng tử ,vua) và được hưởng hạnh phúc” .Có thể xếp Chử Đồng
Tử vào kiểu chuyện này .Tuy vậy ,so với những truyện cùng hệ thống đề tài ,Chử Đồng Tử vẫn
có nét riêng .Có thể kể ra một số chi tiết thấy ở đây mà không thấy lặp lại ở bất cứ chuyện nào
khác : đó là cái ý “nguyện không lấy chồng”,chỉ thích sống tự do của công chúa (nét tính cách
này ít nhiều mang màu sắc cá tính . Đây là điểm “rất lạ” trong thế giới nhân vật cổ tích),là thái
độ ban đầu sợ hãi từ chối của chàng ngư phủ không mảnh khố che thân trước ngôi vị phò mã
chẳng cầu mà đến bất ngờ .Nhưng có lẽ điều chỉ xẩy ra duy nhất ở chuyện cổ tích này là cái tình
thế thật không bình thường diễn ra cuộc kỳ ngộ của đôi trai gái. Ở đây có tình yêu xuất phát từ
đạo lý ,từ sự kính trọng một tấm gương về chữ hiếu. Ở đây còn có tình yêu nảy nở tự nhiên
trước vẻ đẹp hình hài và tâm hồn giữa một người con gái và một người con trai. Đó là tính nhân
bản sâu sắc của truyện.Những chi tiết không hề lặp lại trong thể loại truyện cổ tích nói chung,chỉ
thấy có ở truyện Chử Đồng Tử đó cho phép ta nghĩ đến nguồn gốc truyền thuyết của truyện cổ
tích này.Nếu như bảo Tiên Dung có bản lĩnh,thái độ mạnh dạn,chủ động trong tình yêu và hôn
nhân,trong giải quyết quan hệ tình với hiếu thì điều ấy vẫn không hề mâu thuẫn với nhận thức
rằng đây là nhân vật tuy có nguồn gốc truyền thuyết nay đã cổ tích hoá để thực hiện chức năng
thể loại mới : làm “phần thưởng” cho chàng trai lao động và hiếu thảo ở làng Chử Xá.Và,như
thế,ta bỗng nhận ra sâu sắc hơn những nét đẹp đẽ, đáng quý của mối kỳ duyên Chử Đồng Tử-
Tiên Dung : đây là cuộc gặp gữ ngẫu nhiên mà tất yếu giữa những con người đều không hề bận
tâm đến những ràng buộc khắt khe của lề thói xã hội,của thứ luân lý đang thống trị thời đại.Một
tình yêu nảy nở hồn nhiên giữa đất trời,sông nước phóng khoáng chỉ có thể là tình yêu nơi
người con có hiều với cha nên chắc chắn được nhân dân yêu mến,kính trọng,vợ chàng là một
công chúa và dù thế nào đi nữa chàng vẫn là một vị phò mã - điều này toạ nên uy tín xã hội cho
chàng.Có thể diễn đạt nội dung cơ bản của truyện theo một cách khác : Truyện kể về cuộc đời
một vị anh hùng văn hóa- anh hùng chinh phục đầm lầy và chúng ta cảm nhận được rằng truyện
Chử Đồng Tử hình thành như kết quả của cả quá trình giao thoa,chuyển hoá lâu dài giữa thần
thoại với truyện cổ tích ( có trải qua giai đoạn là truyền thuyết lịch sử ) . Ở dạng phát triển hoàn
chỉnh ( dạng cổ tích ) , hình tượng Chử Đồng Tử - Tiên Dung quả có phần như có tài liệu đã
nói,phản ánh ước mơ của nhân dân thời phong kiến muốn có những vị chủ làng tài năng đức độ.
Dấu vết thần thoại còn sót lại ở truyện cổ tích này sẽ còn lộ ra lần nữa ở chi tiết (3) : giải thích
sự tạo thành đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên như là kết quả của một phép kỳ diệu có pha chút ảnh
hưởng của Đạo giáo là điều dễ hiểu,bởi lẽ văn hoá phương Bắc,trong đó có tôn giáo,sớm thâm
nhập nước ta ngay từ thời Bắc thuộc.Có điều người bình dân Việt Nam tiếp thu ảnh hưởng cảu
Đạo giáo mà ít quan tâm đến khía cạnh lý thuyết triết học của nó như tầng lớp trí thức và tầng
17
Văn học dân gian
lớp quý tộc.Họ bắt gặp ở Đạo giáo cái phần khuyến khích con người sống một cách tích
cực,phấn đấu cho hạnh phúc ở ngay kiếp này.Cái phần mà người bình dân muốn hướng đến ấy
cũng là để chống lại những ràng buộc khắt khe của Nho giáo.Những con người ưa sống phóng
khoáng,tự do,khắt khao hạnh phúc,tình yêu,biết tận hưởng lạc thú lành mạnh của cuộc đời như
Chử Đồng Tử,Tiên Dung sẽ tìm được suy tôn là “ Chử Đạo tổ “ (ông tổ của Đạo giáo Việt Nam)
thì cả hai vợ chồng chàng vẫn là biểu tượng cho ước mơ của những người nông dân Việt Nam
( chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp kết hợp với ngư nghiệp ) đã nỗ lực dựng nên những xóm
làng rải rác suốt vùng rìa châu thổ sông Hồng ngay từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc chi tiết
nửa đêm hai người biến mất khỏi vòng vây của quân triều đình rất có ý nghĩa : sử dụng mô típ “
hoá thân “ ,truyện biểu lộ thái độ phản kháng của nhân dân đối với chế độ phong kiến ngay từ
thuở manh nha.
Đời sau đã suy tôn Chử Đồng Tử lên hàng bốn vị thánh bất tử của Việt Nam.Cũng đời sau đã
dựng những ngôi đền tưởng nhớ công lao giúp dân,cứu nước của vợ chồng Chử Đồng Tử,tiêu
biểu nhất là đền thờ ở thôn Đa Hoà,xã Bình Minh,huyện Khoái Châu,tỉnh Hưng Yên và đền Dạ
Trạch ở ngay trên vùng đầm Nhất Dạ khi xưa. Ở những nơi này,trên bàn thờ,ngoài tượng vợ
- Chử Đồng Tử:Con nhà nghèo,nhưng hiếu thảo, tự lao động kiếm sống.Hai cha con chỉ có
một cái khố.Tấm lòng hiếu thảo của chàng thể hiện tập trung ở việc cha mất:
Cù Vân bị ốm nặng,khi sắp chết dạn con rằng:
- Bố chết,con cứ tang bố,còn cái khố con cứ dữ mà dùng.
Cù Vân chết,Chử Đồng Tử không nỡ để cha trần truồng,lấy khố đóng cho cha,rồi mới chôn.
Chư Đồng Tư dã không nghe lời cha dặn,nhưng vẫn là người con chí hiếu.Tấm long yêu
thương,hiếu thảo ấy là phẩm chất cao quý ở chàng.
- Tiên Dung:Nàng xinh đẹp.Là con vua,Tiên Dung dược sống trong nhung lụa,ngà ngọc.Song,
nàng lai thích hoà nhập cùng thiên nhiên, đất trời,tuổi đã mười bẩy,mười tám ma không chịu lấy
chồng,chỉ thích chèo thuyền đi theo sông núi.Con vua,nhưng sống phóng khoáng ,tự do:Thấy bãi
song rộng rãi ,lại có lác đác bụi cây lớn toả bong mát êm dịu,Tiên Dung lấy làm ưa thích,ra lệnh
cho thuyền ghé vào,rồi chọn 1 chỗ có bóng mát ,sai thị nữ chăng màn tứ vi để tắm…
2. Cuộc hôn nhân đẹp,hợp tự nhiên của hai người có phẩm chất cao quý:
- Hôn nhân bắt đầu từ cuộc gặp gõ tình cờ,sống ở giữa thiên nhiên tươi đẹp , đất trời giao
hoà.Một người sống bên cồn cát ven song,một người thích dao du xem hình bóng sông núi .
- Tiên Dung đến tuổi cập kê nhưng không chịu lấy chồng.Chử Đồng Tử dã trưởng thành,song
chưa có vợ.Hôn nhân tuy bất ngờ nhưng hợp lẽ tự nhiên.
- Cuộc hôn nhân chủ động giữa những người dám sống và dám yêu,nhất là với Tiên
Dung.Nàng chấp nhận lấy Chử Đồng Tử là chấp nhận từ bỏ thân phận cao sang của mình và
chấp nhận cuộc sống lao động nghèo khổ của người dân thường.Truyện kể rằng,khi thấy đám
binh lính và thị nư của Tiên Dung,Chư Đồng Tử vì không có khố mặc nên sợ hãi vội vứt vó vào
bụi,chạy lên bãi,bới cát vùi mình xuống ,rồi lấy cát phủ lên.Khi bị Tiên Dung phát hiện trong bãi
tắm của nàng,Chử Đồng Tử càng sợ hơn .Thế nhưng ,nàng đã nói với chàng : Tôi đã nguyện
không lấy chồng ,nay duyên trời run rủi ,lại gặp chàng chốn này ,mới biết không cưỡng lại với
trời rồi nhất quyết lấy Chử Đồng Tử làm chồng.Mặc Chử Đồng Tử có đồng ý hay không ,Tiên
Dung đã sai người đưa quần áo cho Chử Đồng Tử mặc và sai tì nữ sửa soạn tiệc hoa.Thuyết
phục được Đồng Tử ,Tiên Dung tổ chức tiệc hoa ngay trong ngày hôm ấy .Các tình tiết đó chính
tỏ Tiên Dung là người cương quyết chủ động tìm kiếm hạnh phúccủa mình và cuộc hôn nhân
nghệ thuật thì bao giờ cũng có sự hư cấu,bịa đặt.Vả lại,truyện cổ tích được nhân dân lao động
sáng tạo ra nhằm gửi gắm ước mơ,nguyện vọng của mình,hay đúc kết những kinh nghiệm,bài
học ở đời.Như vậy,dù là chuyện bịa,nhưng tính chân thực của nó không hề giảm đi.Những điều
nhân dân gửi gắm,nhắn nhủ chứ không phải là bản thân câu chuỵên được kể mới là mục đích
của sáng tác.
- Những câu chuyện càng ly kỳ,hay có nhiều nét cường điệu,phóng đại thì càng hấp dẫn người
nghe và được truyền tụng từ đời này sang đời khác.Vì thế,nghe kể truyện cổ tích,người nghe
không cần phải lý giải sự hợp lý hay không của các sự kiện,tình tiết. Điều đó có nghĩa,những
truyện cổ tích nào càng vô lý,càng có vẻ trẻ con bao nhiêu thì sức hấp dẫn của nó lớn bấy nhiêu.
20
Văn học dân gian
2.Phân tích truyện cổ tích làm theo vợ dặn để sáng tỏ ý kiến của nhà văn A.France:
a. Làm theo vợ dặn là một chuỗi liên kết các sự việc “vô lý” xoay quanh anh chàng ngốc:
- Anh đi buôn vịt gà nhưng không phân biệt được L “vịt trời” và “vịt nhà”.Hậu quả là bị bọn
trẻ chăn trâu lừa:Ngốc ta ngồi tại bờ đầm canh chừng bầy vịt [vịt trời].Chưa quá trưa,anh đã lội
xuống nước để lùa vịt về,thì bầy vịt nhác thấy bóng người ,bay vụt lên trời,một chốc mất
biến.Ngốc ta tưng hửng , đành trở về,kể lại với vợ...
- Ngốc đi buôn lợn . “Rút kinh nghiệm” của lần buôn vịt,theo lời vợ dạn ,anh giơ gậy lên dứ
vào mấy con lợn.Mấy con lợn thấy vậy sợ quá nhẩy tót ra ngoài rặc,rồi chạy vào bụi mất cả.ngốc
lãnh đủ hậu quả :Người hàng lợn bèn nắm lấy áo anh bắt vạ.Có bao nhiêu tiền vốn mang đi ,anh
phải lấy ra đền.
- Ngốc đi buôn nồi đất.Nhớ lời vợ dặn lần mất lợn,Ngốc đàng hoàng đi giữa đường,chẳng
thèm tránh bầy trâu.Bầy trâu húc cho vỡ cả gánh nồi đất.
- Ngốc lại đi buôn vôi đá mới nung.Lần trước làm vỡ nồi đất vợ dậngpwj phải những con vật
thì tránh đi.Lần này trông thấy con chuột chết giữa đường ,Ngốc lẩm bẩm :Chà chà,có con vật
này nằm cản đường ta ,ta phải tránh nó mới được.Anh ta lội xuống ruộng nước để tránh
- Như vậy , ở truyện cổ tích Làm theo vợ dặn sự vố lý đầy dẫy từ lúc bắt đầu cho đến khi
kết truyện đã hàm chứa những cái lý mà nhân dân ta muốn gửi gắm và cùng với sự ngờ nghệch ,
ngốc nghếch hơn cả “trẻ thơ” của chàng ngốc đã khiến câu truyện trở lên hấp dẫn , được người
đời vẫn thường kể đi kể lại .”Qua những hành động của anh ta ,người đọc tưởng như dáng điệu
một con người hoảng hồn buồn rầu , ngơ ngác, vì không hiểu sao mình toàn gặp phải những
chuyện như vậy ,mặc dù luôn luôn “làm theo vợ dặn” (Tràn Gia Linh).
Bài ca chàng Đam Săn
Xuất xứ
"Bài ca chàng Đam Săn" là sử thi anh hùng của tộc người Ê đê ở Tây Nguyên. Tác phẩm
được nhiều người sưu tầm tuy lời kể có khác nhau ít nhiều, nhưng cốt truyện đều giống nhau.
Tóm tắt
Theo tục "nối dây", Đam Săn phải lấy hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí làm vợ. Anh đã chống
lại, nhưng bị trời lấy ống điếu gõ vào đầu 7 lần "Đam Săn chết lịm, rồi Trời cho sống lại". Cuối
cùng Đam Săn phải làm theo lời Trời. Đam Săn trở thành tù trưởng giàu mạnh, danh tiếng vang
lừng rừng núi, "đầu đội khăn kép, vai mang túi da". Đam Săn đã cùng bộ tộc đánh thắng hai tù
trưởng hùng mạnh khác là Mơtao Grứ và Mơtao Mơxây, bắt được nhiều nô lệ, thu được nhiều
tài sản quý báu. Ngang tàn coi thường thần linh, Đam Săn chặt cây thần. Chặt mãi cây mới đổ.
Cây đổ quật chết cả hai nàng Hơ Nhí và Hơ Bhí. Anh vác rìu đi lên trời, cầu xin Trời cứu sống
vợ anh. Đang sống trong yên vui giàu có, Đam Săn lại lên đường đi bắt Nữ thần Mặt Trời để có
"hai vợ lẽ... vợ thật đẹp”. Cuộc cầu hôn thất bại, anh trở lại quê nhà, bị chết lún giữa rừng của bà
Sun Y Rít. Đam Săn chết, cháu Đam Săn ra đời, lại theo tục "nối dây" đi tiếp hành trình của cậu
chàng, dấn thân vào cuộc chiến đấu mới.
Giảng văn
Đi bắt nữ thần Mặt Trời
1. Xuất xứ và ý tưởng chủ đạo
Đoạn trích "Đam Săn đi bắt nữ thần Mặt Trời" nằm trong chương 7 "Bài ca chàng Đam Săn"
22
Văn học dân gian
Đoạn sử thi này nói lên khát vọng và dũng khí, lòng quả cảm của người anh hùng Đam Săn
được bộ tộc ngưỡng mộ.
được vương quốc nữ thần Mặt Trời. Người Ê đê xưa và nay vô cùng tự hào về hành trình của
Đam Săn. Cách giải thích hiện tượng tự nhiên, Mặt Trời và ánh sáng của người Ê đê xa xưa rất
kì diệu.
Đoạn Đam Săn đi bắt nữ thần Mặt Trời là đoạn hay nhất tràng lệ nhất, bi tráng nhất trong sử
23
Văn học dân gian
thi "Bài ca chàng Đam Săn". Nghệ thuật phóng đại và so sánh được sử dụng trong miêu tả và
chuyện kể rất thần tình, đầy ấn tượng.
Một số bài tập
Baì 17196
Phân tích hình tượng người anh hùng Đam San trong đoạn trích Đi bắt Nữ thần Mặt Trời(sư thi
Đam San).
Gợi ý làm bài:
1. Để làm tốt bài văn,học sinh cần nắm vững những kỹ năng phân tích một vật trong tác phẩm
tự sự.Tuy nhiên, ở đây là Đam San,nhân vật chính của một tác phẩm sử thi.Do đó,phải hiểu rõ
đạc trưng của thể loại sử thi,nhất à những đặc trưng của hình tượng anh hùng trong tác phẩm:
- Sử thi là những sáng tác tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng,có ý nghĩa quyết định đối với
đời sống tư tưởng và vận mệnh của một cộng đồng,dân tộc và nhân dân.Tác phẩm được sáng tác
nhằm mục đích biểu hiện ý thức cộng đồng của nhân dân,dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của
mình.Chính vì thế,nội dung của sử thi bao giờ cũng là các sụ kiện mang tính toàn dân,toàn dân
tộc,không phải là những câu chuyện riêng tư,ca nhân.
- Sử thi tập trung xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng, tức là người đại diện cho sức mạnh
của cộng đồng,của dân tộc. Ở Đam San,người anh hùng là hiện thân của một tù trưởng giàu
mạnh,có tài năng vẻ đẹp,lập nên nhiều chiến công phi thường.Phẩm chất của Đam San cũng như
các anh hùng khác ở các tác phẩm sử thi là phẩm chất của dân tộc,bộ lạc,của nhân dân.Họ mang
tầm cỡ và vẻ đẹp dân tộc.Nói cách khác,khi xây dựng hình tượng anh hùng,sử thi nhằm đề
cao,thậm chí phóng đại,sức mạnh cộng đồng trong các cuộc chiến tranh hay quá trình dựng xây
đất nước.
- Do yêu cấu biểu hiện y thức cộng đồng,sức mạnh dân tộc,nghệ thuật của sử thi có những đặc
- Mặc kệ ! Để tôi kiếm một lối đi.Tôi sẽ đi tới chỗ tôi muốn ! Gặp hùm tôi sẽ giết hùm.
Không ai ngăn cản được ý định của Đam San.Hành động đi bắt Nữ thần Mặt Trời là đỉnh cao
trong khát vọng chinh phục thiên nhiên của Đam San. Đến khi phải gục ngã trong rừng sáp
đen,khát vọng của Đam San không tắt.Chàng hoài thai để tiếp tục thực hiện khát vọng của
mình.Do đó,hành động mang tính cách liều lĩnh với ước vọng ngây thơ của Đam San không
khiến chàng đối lập với bộ tộc của mình.Trái lại,nó ngời sáng lý tưởng của cả bộ tộc nên chàng
tái sinh để trở thành tù trưởng mới.
- Đam San là người anh hùng của bộ tộc,người đại diện cho cả cộng đồng nên tất cả câu
chuyện trong bản sử thi đều xoay quanh chàng, đều góp phần tôn vinh,ca ngợi Đam San.Vì
thế,hình tượng anh hùng Đam San đậm chất phi thường,trở thành vẻ đẹp hoành tráng, đời
đời.Hình tượng nghệ thuật Đam San là biểu hiện tập trung nhất cho đặc trưng thể loại sư thi ở
tác phẩm này.
Baì 17195
Tóm tắt tác phẩm sử thi Đam San và xác định vị trí,giá trị của đoạn trích Đi bắt nữ thần mặt
trời?
Gợi ý làm bài :
1. Đam San là thiên sử nổi tiếng của dân tộc Ê Đê ở nước ta.Tác phẩm này có tên đầy đủ là Bài
ca Đam San ( tiếng Ê Đê : Klei khan Y Đam San).Từ năm 1929,một dich giả người Pháp tên là
Léopold Sabatier đã dịch sang tiếng Pháp và xuất bản ở Paris.Đam San có 8 hồi,kể về những
chiến công oanh liệt và khát vọng tự do của một tù trưởng cùng tên.
Theo tập tục hôn nhân cổ của người Êđê,tục “ nối dây “ , Đam San buộc phải lấy cả hai chị
25