Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu Cảm nhận về bài thơ Sang thu của Hữu
Thỉnh.
Mùa thu luôn là đề tài của các nghệ sĩ, nó gợi nhiều cảm xúc đối Với thi nhân.
Theo Xuân Diệu, thu là dáng buồn liêu, là những luồng run rẩy rung rinh lá, đôi
nhánh khô gầy sương mỏng manh. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư là một hình ảnh
mùa thu đầy thơ mộng: Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô. Thu điếu của
Nguyễn Khuyến là sự vắng lặng, yên ả của không gian, là cảnh đẹp nên thơ của
nước hồ thu. Còn Hữu Thỉnh với bài thơ Sang thu, ông đã khắc họa bức tranh mùa
thu tươi đẹp, bức tranh đang ở thời khắc giao mùa với một làn hương mới. Mùa thu
trong bài thơ của Hữu Thỉnh không có dáng vẻ tĩnh mịch, hồn thơ không vương
vấn những cảm xúc buồn như mùa thu ở trong thơ của Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng
Lư, Nguyễn Du hay Xuân Diệu…
Sang thu là một bài thơ gợi tả thiên nhiên tươi đẹp. Đất trời đang chuyển mình từ
cuối hạ sang thu. Mở đầu bài thự là một phát hiện bất ngờ:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Mùa thu đã xuất hiện ở một làng quê Việt Nam. Mùa thu với hương thơm mộc mạc
nhưng đầy hương vị ấm nồng. Hương ổi phả trong gió nhẹ đã làm cho con người
nhận ra ngay mùa thu đang đến. Động từ phả thể hiện một mùi hương nồng nàn,
lan tỏa trong không gian, hòa quyện với làn gió nhẹ để tạo nên một cảm giác thật
đáng yêu. Cảm giác ấy không phải trầm buồn, ướt lệ mà là một cảm giác vui tươi
đến bất ngờ, mới mẻ. Mùa thu đã mang đến hương thơm và sương mờ ướt lạnh.
Sương chùng chình đã tạo nên một phong cảnh đáng yêu. Chùng chình là sự kéo
dài, chậm chạp như muốn chờ muốn đợi ai đây? Cảnh vật cứ dần như thế, mềm
mại như thế và thu đến tự lúc nào không hay. Nhà thơ đã ngỡ ngàng trước cái đến
bất chợt của mùa thu.
Cảm giác bỡ ngỡ ban đầu đã tan biến và nhường chỗ cho sự rung cảm mãnh liệt
trước mùa thu tươi sáng:
Sông bắt đầu dềnh dàng
của thiên nhiên. Cây lá mùa thu vẫn nhuốm buồn vì lá dần ngả sang màu úa theo
qui luật của thiên nhiên nhưng nó vẫn mang một dòng nhựa rạo rực, tràn trề sức
sống. Khi thu đến, nó đã chuẩn bị cho nhiệm vụ mới của mình. Hình ảnh hàng cây
đứng tuổi và ấm đã gợi lên một ý nghĩa sâu xa hơn, đó là hình ảnh con người từng
trải trước những tác động của ngoại cảnh, những biến cố bất thường của cuộc đời.
Với bút pháp tả thực về thiên nhiên, cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ, bài thơ Sang
thu của Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc những cảm nhận mới về mùa thu,
thấy được những chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt của đất trời từ hạ sang thu. Tác
giả đã vẽ nên bức tranh mùa thu quê hương nồng đượm, ấm áp tình người, nó bình
dị mà tươi tắn, sống động, nó tôn thêm vẻ đẹp của đất nước Việt Nam.
Đề bài: Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương
Tình cảm gia đình là một nguồn cảm hứng bất tận đối với các thi sĩ, thế nhưng hầu hết
các bài thơ khi viết về đề tài tình cảm gia đình đều nói về tình mẫu tử. Các tác phẩm
về tình cha con thì có lẽ khá ít. Bài thơ "Nói với con" cuả Y Phương là 1 trong những
tác phẩm đó. Với giọng điệu thổ cẩm ngọt ngào, bài thơ mượn lời người cha nói với
con về tình yêu thương của cha mẹ ,sự đùm bọc của quê hương với con để ngợi ca
truyền thống nghĩa tình, sức sống mạnh mẽ của người dân tộc miền núi.
Ra đời năm 1980, bài thơ như là những lời nói xuất phát từ tấm lòng cha, chứa đựng
đầy yêu thương và sự ấm áp, thể hiện tình cảm gia đình êm ấm, tình quê hương tha
thiết, mang đậm chất dân tộc miền núi trong từng câu chữ. Bài thơ đi từ tình cảm gia
đình rồi mới mở rộng và nâng cao thành tình cảm quê hương, đất nước. Từ những kỷ
niệm gần gũi, gắn bó nhất với mổi con người và nâng lên thành lẽ sống chung.
Bài thơ mở đầu với khung cảnh gia đình ấm cúng, đầy ắp niềm vui:
“Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười”
Khung cảnh ấy đẹp như vẽ, một mái nhà có mẹ có cha và con hạnh phúc vì được sống
đường” là bóng dáng của quê hương luôn dang rộng vòng tay đã được tác giả nhân
hóa, dạy cho con biết rằng núi rừng quê hương, thiên nhiên đã chở che, nuôi dưỡng
con người về cả tâm hồn và lối sống. Con đã lớn lên trong nghĩa tình của quê hương
như thế. Qua những câu thơ vừa tả thực lại vừa đậm chất trữ tình, cha mong con hiểu
những tình cảm cội nguồn đã sinh dưỡng con ,để con yêu cuộc sống hơn . Nhìn con
khôn lớn, suy ngẫm về tình nghĩa làng bản quê nhà, nhà thơ đã nghĩ về cuội nguồn
hạnh phúc, “ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời” và cho con biết chính quê hương đã tạo
cho cha mẹ cuộc sống hạnh phúc, mạnh mẽ, bền lâu. Dặn dò con về quê hương ,về
“đồng mình “, cha càng muốn con phải khắc cốt ghi xương nơi mình đã sống ,đã
trưởng thành .
Không chỉ gọi cho con về nguồn sinh dưỡng, cha còn nói với con về những đức tính
cao đẹp của "người đồng mình":
“Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn”
“ Người đồng mình” không chỉ tình nghĩa và tài hoa mà còn có bao phẩm chất tốt đẹp,
“thương lắm con ơi”. Trong bao gian khổ, khó khăn thử thách, bao niềm vui, nỗi buồn
trong cuộc đời trải dài theo năm tháng, “người đồng mình” đã rèn luyện , hun đúc chí
khí, rèn luyện bản thân. Câu thơ bốn chữ, đối nhau như tục ngữ, đúc kết một thái độ
một phương châm ứng xử cao quý. Lấy chiều “cao” của trời, chiều “xa” của đất để “
đo nỗi buồn”, để “ nuôi chí lớn”. Câu thơ thể hiện một bản lĩnh sống cao đẹp của
người dân miền núi, của con người Việt Nam. Lời tâm tình của người cha nói với con
cũng là lời khuyên răn con phải biết trân trọng mảnh đất quê hương, nơi mình sinh ra
và lớn lên. Người cha tự hào về “người đồng mình” sống vất vả và mạnh mẽ, phóng
khoáng, gắn bó sâu nặng với quê hương dẫu cực nhọc, đói nghèo. Người cha mong
con chung thuỷ với quê hương, biết chấp nhận và vượt qua gian nan thử thách bằng ý
chí, bằng niềm tin vững vàng:
“Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
“Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con”
Người cha đã nhắc con khi “ lên đường” không bao giở sống “ nhỏ bé” trước thiên hạ.
Phải biết lấy cốt cách giản dị, mộc mạc của người lao động để vươn lên. Người cha
mong con có đủ sức mạnh, niềm tin để đối mặt với những khó khăn mà con sẽ phải
gặp, cũng khuyên con bài học đạo lý làm người, mong muốn con phải biết ơn và tự
hào với dân tộc mình, quê hương mình, để đủ tự tin, đủ sức mạnh để vững bước trên
đường đời. Hai tiếng “nghe con” đầy trìu mến, yêu thương kết thúc bài thơ với tấm
lòng thương yêu, kỳ vọng, vừa là lời dặn dò nhắc nhở ý chí tình của người cha đối với
đứa con thân yêu của mình.
Bài thơ có bố cục chặt chẽ, cách dẫn dắt tự nhiên, giọng điệu thiết tha, triều mến, chân
tình và rất mới lạ trong phong cách miền núi với ngôn ngữ “thổ cẩm” rất độc đáo, với
cảm xúc, tư duy rất riêng. “Nói với con” được viết bằng thể thơ tự do bay bổng phù
hợp với mạch cảm xúc tự nhiên tạo ra sự cộng hưởng hài hoà với những cung bậc tình
cảm khác nhau trong lời cha truyền thấm sang con. Lời nhắn nhủ ân cần của người
cha với con mình cũng là nhắn nhủ mà người cha nào cũng muốn con mình mang theo
như một hành trang trong cuộc đời. Qua đó ta phải biết tự hào, giữ gìn và phát huy
truyền thống của dân tộc ta. Đồng thời cũng cần phải biết yêu thương quê hương, gia
đình mình và phải có ý chí, nghị lực vươn lên trước những chướng ngại của cuộc đời.
Đề: Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên
Nếu là con chim chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình.
(Tố Hữu)
dưới bàn tay của anh – một con người lao động chân chính. Nào là căn nhà nhỏ sạch sẽ,
gọn gàng. Nào là những hàng sách được xếp ngay ngắn trên giá. Nào là vườn hoa rực rỡ,
mang đậm hơi thở Sa Pa với "hoa đơn, hoa thược dược, vang tím, đỏ, phấn, tổ ong".
Đặc biệt anh rất hồ hởi, cởi mở với mọi người, gặp mỗi người trên chiếc xe từ Hà Nội lên
Sa Pa, anh vui mừng khôn xiết như gặp lại bạn cũ vậy. Gặp ông họa sĩ và cô kĩ sư, anh
không một chút ngần ngại mời hai người lên nhà chơi. Anh đã tặng cô kĩ sư một bó hoa
thật to "Tôi cắt thêm mấy cành nữa. Rồi cô muốn lấy bao nhiêu nữa tùy ý. Cô cứ cắt một
bó rõ to vào. Có thể cắt hết “nếu cô thích", và anh kể chuyện say mê, hồ hởi như đang
tâm tình với hai người bạn tri kỉ. Sự cởi mở của anh thật đáng trân trọng làm sao!
Không chỉ có vậy, anh còn rất quan tâm đến mọi người. Quên sao được củ tam thất mà
anh gửi biếu vợ bác lái xe. Quên sao được làn trứng gà mà anh chuẩn bị cho ông họa sĩ
và cô kĩ sư ăn trưa! Những món quà ấy tuy nhỏ nhưng đó chẳng phải là tấm lòng chân
thành, sự nhiệt tình chu đáo ở anh.
Anh là một con người Sống rất giản dị và vô cùng khiêm tốn. Người họa sĩ già bất giác
tìm ra anh chính là nguồn cảm hứng mà bấy lâu nay ông đi tìm, là nguồn khao khát mà
ông chờ đợi. Ông muốn vẽ lại chân dung của anh để hoàn thành kiệt tác của mình. Nhưng
anh thấy day dứt: "Không, không bác? đừng vẽ cháu ! "Để cháu giới thiệu với bác những
người khác đáng cho bác vẽ hơn. Anh luôn nghĩ đến những người xung quanh cũng đang
thầm lặng làm việc và còn tốt hơn mình. Anh đã kể về người kĩ sư ở vườn rau su hào, về
nhà khoa học nghiên cứu sét. Dường như trong từng lời kể ấy, ta luôn bắt gặp đâu đây
ánh mắt cảm phục, tự hào về những con người đang lặng lẽ cống hiến cho Tổ quốc trong
anh. Có lẽ nào sự khiêm tốn ấy lại không khiến ta xúc động?
Lặng lề Sa Pa với những trang viết tinh tế đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng
không phai về vẻ đẹp trong suy nghĩ, trong phong cách sống của anh thanh niên. Sự lặng
lẽ cống hiến cho Tổ quốc của con người bình thường mà cao cả ấy sẽ mãi sưởi ấm trái
tim ta. Bất giác, trước những con người lao động chân chính ấy, ta tự hỏi về lẽ sống, lí
tưởng của thanh niên ngày nay. Liệu những suy nghĩ bây giờ còn giống với những con
người lặng lẽ – những "mùa xuân nho nhỏ" của đất nước:
Sáu, lại thêm vết sẹo đỏ ửng trên mặt giật giật khiến cho bé Thu hoảng sợ , bé đã chạy đi,
vừa chạy vừa kêu thét “má! Má”. Bé Thu là một đứa trẻ, trước mặt có người lạ, lại có
phần đáng sợ bởi vết sẹo trên mặt, sự hoảng hốt của bé, ông Sáu cũng phần nào hiểu
được.Nhưng bởi vì quá hi vọng vào cuộc đoàn viên hạnh phúc này nên khi bị bé Thu
khước từ đón nhận, hoảng sợ chạy vụt đi thì ông Sáu đã “ngạc nhiên, đau đớn và hụt
hẫng”. Sự đau khổ của người cha bị chính con mình từ chối thừa nhận được nhà văn
Nguyễn Quang Sáng miêu tả rất xúc động : “đau đớn khiến mặt anh sầm lại…hai tay
buông thỏng như bị gãy”. Người cha náo nức vì niềm vui được gặp con gái,muốn ôm con
vào lòng với tất cả sự âu yếm dành dụm bao năm xa cách nhưng lại bị đứa con hoảng sợ,
chối từ. Đó chẳng phải nỗi đau đớn, tuyệt vọng nhất của một người cha hay sao?
Hai ngày ở nhà, ông Sáu cũng chẳng dám đi đâu xa, cứ quanh quẩn tìm mọi cách để được
gần con, mong mỏi sự đón nhận của bé Thu. Tuy nhiên, hiện thực diễn ra khiến ông vô
cùng đau lòng, bé Thu không những nhất quyết không chịu nhận ông, mà một chút quan
tâm, chút lễ phép đối với ông cũng không có. Khi được má sai vào gọi ba xuống ăn cơm,
bé Thu cũng gọi cộc lốc, trống không, gọi chỉ vì bắt buộc phải làm vậy: “cơm chín
rồi”.Lúc ấy ông Sáu “vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười”. Tuy là cười đấy, nhưng sao nụ cười
này thật buồn, còn man mác sự thất vọng, bất lực, khổ tâm của người cha. Vì dù bao
nhiêu cố gắng đi nữa thì cũng đều vô vọng, chính đứa con gái ruột thịt mình yêu quý đều
một mực khước từ, thậm chí còn phủ nhận sự xuất hiện của ông.
Tuy rất buồn nhưng chưa một phút giây nào ông Sáu thôi cố gắng, thôi chăm chút, lo
lắng cho bé Thu. Trong bữa cơm gia đình, vì yêu thương con nên ông Sáu đã gắp cho con
miếng trứng cá to nhất, ngon nhất. Nhưng đáplại cử chỉ ân cần ấy là sự chối bỏ quyết liệt
của con bé, con bé không những không đón nhận nó mà còn dùng đũa hất miếng trứng ra
ngoài. Vì quá tức giận, ông Sáu đã đánh con. Đánh con nhưng lòng người cha còn đau
gấp bội. Vì hành động nóng nảy này mà đến lúc hi sinh, ông Sáu vẫn mang theo sự hối
hận. Đến tận lúc chia tay, lên đường vào chiến trận, ông Sáu vẫn “buồn nẫu ruột”, ông
không dám chạy lại ôm con, bế con vì sợ con bé hoảng sợ. Ông chỉ đưa mắt lên nhìn, cái
nhìn cũng “buồn rầu”. Nhưng thật bất ngờ,vào giây phút cuối cùng, khi sắp phải chia tay,
đã dành hơn nửa cuộc đời của mình để chiến đấu, dù có thương nhớ con nhưng ông cũng
chưa bao giờ từ bỏ, vẫn sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hi sinh, dâng hiến bất cứ lúc nào về
Tổ quốc, quê hương của mình. Ta có thể thấy, dù yêu con nhưng ông Sáu cũng biết được
trách nhiệm lớn lao của mình đối với Tổ Quốc. Vì vậy mà ông gác lại mong muốn được
gặp con, được ôm con vào lòng, thực hiện nghĩa vụ với Tổ quốc thân yêu. Không chỉ
chịu nhiều nỗi đau về thể xác khi chiến đấu, vết tích còn để lại đó là vết thẹo dài trên mặt
mà ông cũng đã hi sinh tính mạng của mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Như vậy, thông qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, nhà văn Nguyễn Quang Sáng không
chỉ làm nổi bật lên sự thiêng liêng của tình cha con, nỗi đau, nỗi mất mát mà chiến tranh
mang lại cho mỗi gia đình. Mà nhà văn còn khắc họa thành công nhân vật ông Sáu, người
chiến sĩ kiên trung, song cũng là một người cha dành cho con mình tình cảm yêu thương
vô bờ bến. Câu chuyện về ông Sáu thật khiến người đọc xúc động, bồi hồi, bởi hình ảnh
ấy quá đẹp, nó chạm vào phần tình cảm sâu thẳm trong trái tim mỗi độc giả, đó là tình
phụ tử thiêng liêng.
Đề :Cảm nghĩ về bài thơ 'Mùa xuân nho nhỏ' của Thanh Hải
Bài làm
Là tác phẩm cuối cùng của nhà thơ Thanh Hải, được viết vào tháng 11 – 1980, bài
thơ Mùa xuân nho nhỏ của ông dã diễn đạt cảm hứng đón nhận thanh sắc, đất trời
mùa xuân, cảm nhận đầy tự hào về bước đi lên thanh xuân cúa đất nước. Đồng
thời, bài thơ cũng là một tâm nguyện dâng hiến sức xuân trong cuộc sống cách
mạng của đất nước.Bài thơ đi theo một mạch cảm xúc bắt đầu từ những cảm xúc
trực tiếp trước vẻ đẹp của sức sống mùa xuân xứ Huế từ đó liên tưởng tới mùa
xuân của đất nước, của cách mạng. Sau đó đẩy mạnh cảm xúc đến những ước
nguyện của bản hoà ca cuộc đời. Và cuối cùng, bài thơ lại trở về với cảm xúc thiết
tha tự hào qua làn điệu dân ca xứ Huế.
Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được phác hoạ bằng vài nét
chấm phá :.
Lộc trải dài nương mạ.
Những câu thơ tạo ra hình ảnh sóng đôi đẹp như hai vế của câu đối mừng xuân nói
về những người chiến sỹ bảo vệ và những người lao động dựng xây đất nước.
“Lộc” theo bước chân người cầm súng ra trận,theo bàn tay người lao động ra đồng
và gieo mùa xuân đến khắp mọi miền đất nước. Có lẽ bởi vậy mà không khí khẩn
trương ,rộn ràng , náo nức lan toả khắp tứ thơ :
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao.
Điệp từ “tất cả” ,từ láy “hối hả”, “xôn xao ” tạo nên nhịp điệu mùa xuân hối hả
,hào hùng ,mở ra những cảm nhận chan chứa tự hào về đất nước :
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước .
Hình ảnh so sánh đẹp : “đất nước như vì sao” toả sáng, luôn vận động và phát triển
không ngừng, có ý nghĩa định hướng ,giục giã mọi người hăng say cống hiến xây
dựng quê hương .
Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về mùa xuân riêng của mỗi cuộc
đời và dạt dào một khát vọng hiến dâng
Ta làm con chim hót
Ta làm một canh hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Nếu ở đầu bài thơ tác giả miêu tả những hình ảnh làm đẹp thêm ,tô điểm thêm cho
mùa xuân là âm thanh náo nức vang trời của tiếng chim chiền chiện và sắc màu tím
biếc dịu dàng của cánh lục bình nhỏ trên sông thì ở đây tứ thơ được lặp lại, tạo ra
sự đối ứng chặt chẽ . Tác giả mong muốn được làm bông hoa toả ngát hương ,con
chim mang tiếng hót và nốt trầm xao xuyến để hiến dâng nhưng không làm mất đi
nét riêng của mỗi người .Đó thực sự là lời tâm niệm chân thành, tha thiết, khiêm
nhường và khát khao được cống hiến phần tinh tuý nhất của mình làm đẹp thêm
thời, bài thơ cũng là một tâm nguyện dâng hiến sức xuân trong cuộc sống cách
mạng của đất nước.
Bài thơ đi theo một mạch cảm xúc bắt đầu từ những cảm xúc trực tiếp trước vẻ đẹp
của sức sống mùa xuân xứ Huế từ đó liên tưởng tới mùa xuân của đất nước, của
cách mạng. Sau đó đẩy mạnh cảm xúc đến những ước nguyện của bản hoà ca cuộc
đời. Và cuối cùng, bài thơ lại trở về với cảm xúc thiết tha tự hào qua làn điệu dân
ca xứ Huế.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế tươi
mát đẹp đẽ để từ đó bộc lộ những cảm hứng say đắm, đón nhận thanh sắc đất trời
mùa xuân:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tim biếc
Chỉ bằng một vài nét phác hoạ, bức tranh mùa xuân quê hương đã hiện lên với một
khoảng không gian khoáng đãng, cao rộng, êm dịu và đầy chất thơ. Bức tranh ấy
được mở ra bằng chiều dài của dòng sông, chiều cao của bầu trời và chiều sâu của
cảm xúc. Bức tranh là một sự pha trộn đặc biệt của màu sắc. Nó có sắc tím biếc,
tươi tắn, đằm thắm của một bông hoa đang mọc giữa dòng sông xanh. Bằng việc sử
dụng đảo ngữ từ mọc lên đầu cùng với việc sử dụng lượng từ một tác giả đả nhấn
mạnh sự xuất hiện đột ngột, bất ngờ cùng với sức sống mạnh mẽ căng tràn của sức
xuân thể hiện qua hình ảnh bông hoa. Màu tím biếc như có sức lan toả cả mặt sông
xanh, hoà quyện với nhau tạo cảm giác dịu mát hài hoà, vừa là tín hiệu của mùa
xuân, vừa là vẻ đẹp tinh tuý của đất trời. Hơn thế nữa, bức tranh mùa xuân còn ghi
vào lòng người những âm thanh lảnh lót của con chim chiền chiện, khiến cho niềm
xúc động bồi hồi, xốn xang chợt bật thành tiếng hỏi:
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Tất cả như xôn xao…
Cả dân tộc đang hứng sức sống mới trước mùa xuân nhiệm màu. Tất cả đang vội
vã, khẩn trương trong công việc để cống hiến, xây dựng đất nước. Và thêm nữa, từ
xôn xao như diễn đạt một sự thay đổi, một sự biến chuyển trong tâm hồn mỗi con
người trước mùa xuân. Tất cả mọi người đang đóng gop những mùa xuân nhỏ bé
của mình cho mùa xuân của đất nước:
Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
Mùa xuân của đất nước được cảm nhận trong sự tổng kết chiều dài lịch sử bốn
nghìn năm với bao vất vả, gian lao và đất nước được so sánh với vì sao, nguồn
sáng kì diệu của thiên hà, vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên vũ trụ. Đất nước ấy
như một bà mẹ tảo tần, vất vả, qua bao gian lao thử thách vẫn kiêu hãnh, ngoan
cường cứ đi lên phía trước không chỉ bằng sức mạnh của hôm nay mà bằng sức
mạnh của bốn nghìn năm lịch sử. Câu thơ như là một điểm nhấn, lời tổng kết về
sức sống mãnh liệt của đất nước đồng thời ẩn chứa niềm tự hào, niềm tin của tác
giả vào cuộc đời và đất nước.
Khổ thơ thứ tư, năm là hai khổ thơ bộc lộ rõ nhất chủ đề của bài thơ đó là ước
nguyện thiết tha muốn hoà đồng cùng mùa xuân đất nước, ước nguyện dâng hiến
tài sức cho đời. Và trước tiên, ước nguyện của nhà thơ là ước nguyện muốn hoà
đồng cùng thiên nhiên đất nước:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoa ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Ở khố thơ này đã có sự lặp lại cấu trúc ngữ pháp, bắt gặp những hình ảnh bông
hoa, con chim, những tín hiệu mùa xuân ở khổ thứ nhất. Trong muôn ngàn điều
ước, tác giả chỉ ước làm một tiếng chim trong muôn ngàn giọng hót để gọi xuân
về, một bông hoa trong muôn triệu đoá hoa để tô điểm cho mùa xuân. Những ước
Bài thơ ít nói đến Huế nhưng người đọc vẫn nhận ra một điều, bài thơ vẫn đậm đà
chất Huế. Chất Huế nằm trong cảnh sắc nên thơ trong tâm hồn dịu dàng, đàm thắm
trong những bài thơ ngũ ngôn, trong những bài dân ca Huế. Và đặc biệt chất Huế
đậm đà ở khổ cuối trong tiếng hát, tình yêu nước non, tình yêu quê hương đất nước
Mùa xuân tôi xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
Nếu những khổ thơ trên là những suy ngẫm cảm động về ước nguyện dâng hiến thì
khổ thơ cuối nhà thơ lại muốn được cất lên tiếng hát thiết tha dựa trên lời ca buồn
bã của câu Nam ai Nam bình, Thanh Hải đã chuyển thành một nội dung đằm thắm
chất Huế, vừa hoà chung cùng nước non.
Lời ca như vang vọng, gợi mở ra một cái tình nhỏ bé trong cái ngàn dặm rộng lớn,
mênh mang nhưng vẫn rất gần gũi, tràn đầy yêu thương và ấm áp. Tiếng hát đằm
thắm hiền hoà xen vối những tiếng phách giòn giã, tươi vui đã kết lại bài thơ. Bài
thơ khơi lên là dòng sông là tiếng chim hót vang trời xứ Huế. Kết thúc lại là nước
non và tiếng hát tươi vui cả tình yêu nước non ngàn dặm, tình yêu quê hương đất
nước.
Bài thơ được viết theo thể thơ năm tiếng, có nhạc điệu trong sáng, thiết tha gần gũi
vừa thể hiện nguyện ước chân thành, tha thiết vừa như dựng lên một lẽ sống cao
đẹp, cống hiến hết mình, bền bỉ mà âm thầm, lặng lẽ.
*************************************
Đề bài: Cảm nhận bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.
I. Mở bài:Bác Hồ là tên gọi thân yêu vang âm trong trái tim bao người, là niềm tin,
là sức mạnh, làphẩm giá của con ngư ời Việt Nam, một người bạn lớn đối với tâm
hồn mỗi con người,đối với thiên nhiên tạo vật... Sự vĩ đại, vẻ đẹp của Bác, lòng
kính yêu với Bác đã trởthành cảm hứng cho các các nghệ sĩ sáng tạo ra các tác
lâu.=> Câu thơ không có một dụng công nghệ thuật nào nhưng lại vô cùng gợi
cảm, dồn nénbiết bao cảm xúc. Cách xưng hô và cách dùng từ của Viễn Phương
giúp cho người đọccảm nhận được tình cảm xúc động, nhớ thương của một người
con đối với cha. Đó khôngchỉ là tình cảm riêng của nhà thơ mà còn là tình cảm
chung của dân tộc Việt Nam. Thế hệnày tiếp nối thế hệ khác song tất cả đều có
chung một tình cảm như thế với Bác Hồ kínhyêu.- Cái hay của khổ thơ không chỉ ở
từ ngữ bình dị mà còn ở hình ảnh cây tre vô cùng thânthuộc. Chắc nhà thơ phải đến
xếp hàng từ rất sớm mới thấy đư ợc hàng tre trong sươngnhư vậy. Những “hàng tre
xanh xanh Việt Nam” ấy chính là hình ảnh tư ợng trưng cholàng quê, cho con
người Việt Nam bền bỉ, cần cù, chịu thương chịu khó. Tác giả bật lênmột tiếng “Ôi
!” vừa đầy thương cảm vừa mang vẻ tự hào. Thương cảm vì dân tộc ta phảitrải qua
bao nhiêu “bão táp mưa sa ”, khó khăn gian khổ trong cuộc đời. Tự hào vì tre
vẫn“đứng thẳng hàng” như người Việt ta luôn kiên cường, bất khuất trước mọi
gian lao, thửthách. Đức tính cao quý ấy cũng đư ợc thể hiện trong thơ Nguyễn Duy
: “Thân gầy guộc,lá mong manh / Mà sao nên luy nên thành tre ơi”. Nhưng Viễn
Phương không chỉ cangợi đất nư ớc, con người Việt Nam mà còn muốn nói đến
mối liên kết giữa Bác với quê2 hương, với người dân. Ngày xưa, Bác từ giã làng
quê với hàng tre xanh để ra đi tìmđường cứu nước, và bây giờ Bác lại trở về giữa
vòng tay của quê hương, giữa những conngười cần cù, chịu khó. Những “hàng tre
bát ngát” bao quanh lăng như vòng tay của quêhương, của Tổ quốc đang bao bọc
lấy vị lãnh tụ vĩ đại, như hình dáng những người concủa dân tộc đang đứng canh
giấc ngủ c ủa Ngư ời. Nghệ thuật ẩn dụ ấy vừa hay vừa tạo sựkết nối chặt chẽ vì
cây tre, Bác và đất nước có mối liên hệ đặc biệt.=> Chỉ một khổ thơ ngắn thôi
nhưng cũng đủ để thể hiện những cảm xúc chânthành, thiêng liêng của nhà thơ và
cũng là của nhân dân đối với Bác kính yêu.2. Cảm xúc c ủa nhà thơ khi đứng trước
lăng Bác:- Nhà thơ đã sử dụng một ẩn dụ nghệ thuật tuyệt đẹp để nói lên cảm nhận
của mình khiđứng trư ớc lăng Bác:Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một
mặt trời trong lăng rất đỏ.+ Hình ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh thực.
ảnh ẩn dụ đẹp và sáng tạo:“tràng hoa”._ Chúng ta có thể hiểu “tràng hoa” ở đây
theo nghĩa thực là những bông hoa tư ơi thắmkết thành vòng hoa được những
người con khắp nơi trên đất nư ớc và thế giới về thămdâng lên Bác để bày tỏ tình
cảm, tấm lòng nhớ thương, yêu quý, tự hào của mình._ “Tràng hoa” ở đây còn
mang nghĩa ẩn dụ chỉ từng người một đang xếp hàng viếng lăngBác mỗi ngày là
một bông hoa ngát thơm. Những dòng người bất tận đang ngày ngày vàolăng viếng
Bác nối kết nhau thành những tràng hoa bất tận. Những bông hoa – tràng hoarực rỡ
đó dưới ánh mặt trời của Bác đã trở thành những bông hoa – tràng hoa đẹp
nhấtdâng lên “bảy mươi chín mùa xuân” – 79 năm cuộc đời của Người.-> Hình
ảnh thơ trên biểu lộ tấm lòng thành kính, và biết ơn sâu sắc của nhà thơ,của nhân
dân đối với Bác Hồ.3. Cảm xúc c ủa nhà thơ khi vào trong lăng:- Vào trong lăng,
khung cảnh và không khí như ngưng kết cả thời gian, không gian. Hìnhảnh thơ đã
diễn tả thật chính xác, tinh tế sự yên tĩnh, trang nghiêm cùng ánh sáng dịu
nhẹ,trong trẻo của không gian trong lăng Bác.- Đứng trước Bác, nhà thơ cảm nhận
Người đang ngủ giấc ngủ bình yên, thanh thản giữavầng trăng sáng dịu hiền.- Hình
ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền” gợi cho chúng ta nghĩ đến tâm hồn, cách sống
caođẹp, thanh cao, sáng trong của Bác và những vần thơ tràn ngập ánh trăng của
Người.Trăng với Bác đã từng vào thơ Bác trong nhà lao, trên chiến trận, giờ đây
trăng cũng đếnđể giữ giấc ngủ ngàn thu cho Ngư ời. -> Chỉ có thể bằng trí tưởng
tượng, sự thấu hiểu vàyêu quí những vẻ đẹp trong nhân cách của Hồ Chí Minh thì
nhà thơ mới sáng tạo nênđược những ảnh thơ đẹp như vậy!- Tâm trạng xúc động
của nhà thơ được biểu hiện bằng một hình ảnh ẩn dụ sâu xa: “Vẫnbiết trời xanh là
mãi mãi”.+ “Trời xanh” trước tiên đư ợc hiểu theo nghĩa tả thực đó là hình thiên
nhiên mà chúng tahằng ngày vẫn đang chiêm ngưỡng, nó tồn tại mãi mãi và vĩnh
hằng.+ Mặt khác, “trời xanh” còn là một hình ảnh ẩn dụ sâu xa: Bác vẫn còn mãi
với non sôngđất nước, như “trời xanh” vĩnh hằng. Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bác
sống như trời đất củata”, bởi Bác đã hóa thân thành thiên nhiên, đất nước và dân
tộc.- Dù tin như thế nhưng mấy chục triệu người dân Việt Nam vẫn đau xót và
thiết, mãnh liệt của tác giả.+ Nhà thơ ao ước được hóa thân thành con chim nhỏ cất
tiếng hót làm vui lăng Bác,thành đóa hoa đem sắc hương, điểm tô cho vườn hoa
quanh lăng.+ Đặc biệt là ư ớc nguyện “Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này” để
nhập vào hàng trebát ngát, canh giữ giấc ngủ thiên thu của Ngư ời. Hình ảnh cây
tre có tính chất tượngtrưng một lần nữa nhắc lại khiến bài thơ có kết cấu đầu cuối
tương ứng. Hình ảnh hàngtre quanh lăng Bác đư ợc lặp ở câu thơ cuối như mang
thêm nghĩa mới, tạo ấn tượng sâusắc, làm dòng cảm xúc được trọn vẹn. “Cây tre
trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiệnlòng kính yêu, sự trung thành vô hạn với Bác,
nguyện mãi mãi đi theo con đườ ng cáchmạng mà Người đã đưa đường chỉ lối. Đó
là lời hứa thủy chung của riêng nhà thơ vàcũng là ý nguyện của đồng miền Nam,
của mỗi chúng ta nói chung với Bác.5. Đánh giá về nghệ thuật:- Bài thơ thành
công bởi Viễn Phương đã chọn đư ợc một hình thức và giọng điệu phùhợp với nội
dung trữ tình. Đó là giọng điều vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đauxót,
tự hào, thể hiện rất đúng tâm trạng của nhà thơ và mọi người khi vào lăng viếng
Bác.- Thể thơ tám chữ xen kẽ những dòng thơ bảy hoặc chín chữ. Cách gieo vần
khá linhhoạt, có khi là vần liền, có khi là vần cách. Nhịp thơ chậm rãi, diễn tả sự
trang nghiêm vàcảm xúc thành kính. Riêng ở khổ thơ cuối, nhịp thơ nhanh hơn.
Điệp ngữ “muốn làm”được lặp lại ba lần, thể hiện mong ước thiết tha và nỗi lưu
luyến không rời của tác giả.- Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo. Nhà thơ kết hợp giữa
hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ,tượng trưng. Đặc sắc nhất là những hình ảnh ẩn dụ
có tính chất biểu tư ợng: “mặt trờitrong lăng”, “tràng hoa”, “trời xanh”, “vầng
trăng” vừa quen thuộc, gần gũi, vừ a trangnghiêm, sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và
giá trị biểu cảm rất lớn.
III.Kết bài: “Viếng lăng Bác” là một bài thơ hay bởi nó được tạo ra từ những cảm
xúc, rung độngchân thành của trái tim nhà thơ, đồng thời cũng là tiếng lòng của tất
cả chúng ta. Cuộcđời và sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ như một thiên thần thoại
của thế kỉ hai mư ơi.Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người Việt Nam đẹp nhất! Nhà
thơ Pita Rôđrighết của đấtnước Cu-Ba anh em đã tự hào khẳng định: Hồ Chí Minh
ngôi sao xa xôi” là hình ảnh những con người dũng cảm, có tinh thần trách nhiệm
cao, có tình đồng chí, đồng đội sáng ngời, có tâm hồn trong trẻo, giàu mơ mộng, và
nhạy cảm. Tất cả những vẻ đẹp ấy được thể hiện tập trung nhất ở nhân vật Phương
Định, và chủ yếu qua đời sống nội tâm của cô.
2. Hoàn cảnh sống và chiến đấu đầy gian khổ:
- Phương Định cùng những người đồng đội của mình ở trong một cái hang dưới
chân cao điểm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn, nơi tập
trung nhiều nhất bom đạn, sự nguy hiểm và ác liệt, từng ngày từng giờ phải đối
mặt với bom rơi, đạn nổ. Có biết bao thương tích vì bom đạn giặc: “Đường bị đánh
lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn. Hai bên đường không có lá xanh. Chỉ có những
thân cây bị tước khô cháy. Những cây nhiều rễ nằm lăn lóc. Những tảng đá to. Một
vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất”. Đó là hiện thực
đầy mùi chiến tranh, không có màu xanh của sự sống, chỉ thấy thần chết luôn rình
rập.
- Công việc của các cô đặc biệt nguy hiểm. Họ phải chạy trên cao điểm giữa ban
ngày, phơi mình ra giữa vùng trọng điểm đánh phá của máy bay địch để đo và ước
tính khối lượng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom.
Nhiệm vụ của họ thật quan trọng nhưng cũng đầy gian khổ, hi sinh, phải mạo hiểm
với cái chết, luôn căng thẳng thần kinh, đòi hỏi sự dũng cảm và bình tĩnh hết sức.
3. Vẻ đẹp của Phương Định:
- Cuộc sống gian khổ giữa chiến trường ác liệt, công việc đầy nguy hiểm và luôn
phải đối mặt với cái chết, nhưng Phương Định vẫn giữ được sự hồn nhiên, trong
sáng của tuổi trẻ, luôn thể hiện tinh thần dũng cảm không sợ hi sinh, lòng lạc quan
và tình đồng đội gắn bó sâu sắc. Cô ngời sáng lên vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng
cách mạng trong chiến đấu, vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ.
a. Lí tưởng sống cao đẹp, tinh thần dũng cảm:
- Vẻ đẹp của nhân vật Phương Định được tỏa sáng ở lí tưởng sống cao đẹp và tinh
thần dũng cảm, không sợ gian khổ, hi sinh
chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng
mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom
nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Tiếp đó, là cái giây phút căng thẳng chờ đợi tiếng
nổ của quả bom. Phương Định có nghĩ đến cái chết nhưng là “một cái chết mờ
nhạt, không cụ thể”, còn cái chính vẫn là: “liệu mìn có nổ, bom có nổ không?”.
Đây là một trách nhiệm rất cao trong công việc, là lòng dũng cảm vô song. Có thể
khẳng định rằng: Phương Định và những đồng đội của cô thực sự là những người
anh hùng, nhưng là những anh hùng mà không tự biết. Chính điều đó, khiến cho
nhân vật Phương Định trở nên đáng mến.
b. Tính hồn nhiên, mơ mộng, và tinh nghịch của Phương Định:
- Nét nổi bật và cũng là điểm hấp dẫn nhất ở Phương Định chính là vẻ đẹp của một
tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và mơ mộng:
+ Phương Định là nữ sinh của thủ đô thanh lịch bước vào chiến trường. Cô có một
thời học sinh – cái thời áo trắng ngây thơ, hồn nhiên và vô tư sống bên mẹ trong
một căn buồm nhỏ ở một đường phố yên tĩnh. Những hoài niệm của cô về thời học
trò thật đáng yêu, luôn sống trong cô ngay giữa chiến trường dữ dội. Nó vừa là
niềm khao khát, vừa làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt
của chiến tranh.
+ Sau những giây phút căng thẳng ở cao điểm, xong việc là thở phào chạy vào
hàng, là sà ngay vào một thế giới khác – thế giới con gái với những mơ mộng: nằm
dài trên nền ẩm, lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ, có thể
nghe, có thể nghĩ ngợi lung tung… Phương Định mê hát và thích nhiều bài hát:
những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận; thích dân ca
quan họ mềm mại, dịu dàng; thích Ca-chiu-sa của hồng quân Liên Xô; thích ngồi
bó gối mơ màng trước lời bài hát dân ca Ý trữ tình… Thích hát, Phương Định còn
bịa ra lời mà hát, ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Rõ ràng, thích hát là nét
tâm lí của thời đại – cái thời tiếng hát át tiếng bom, nhưng đây cũng là nét cá tính ở
Phương Định hé lộ vẻ đẹp phong phú của tâm hồn. Trong tiếng hát, có ý thức về lý
tưởng, có khao khát về quê hương, tình yêu của tuổi trẻ và có cả khát vọng được
trở về cuộc sống thanh bình.