Phân tích các tác phẩm văn học - Pdf 23

Phân tích các tác phẩm văn học
Tìm hiểu tác phẩm truyền kỳ mạn lục
Giới thiệu truyền kỳ mạn lục Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề văn
xuôi tự sự trong văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi có một số thu hoạch
nhỏ xoay quanh một tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn: tác phẩm Truyền
kỳ mạn lục sáng tác vào khoảng đầu thế kỷ XVI của tác giả Nguyễn Tự - 阮
嶼 (căn cứ vào những cứ liệu xác đáng về tên tác giả, chúng tôi ủng hộ ý
kiến của PGS.TS Nguyễn Đăng Na và các nhà nghiên cứu đồng quan điểm
là phải trả lại đúng tên gọi cho tác giả, không theo thói quen lâu nay gọi tên
ông là Nguyễn Dữ!). Truyền kỳ mạn lục được mệnh danh là áng “thiên cổ
kỳ bút” trong truyện ngắn trung đại Việt Nam, và đây cũng là tác phẩm văn
xuôi chữ Hán thu hút được sự quan tâm của giới phê bình nghiên cứu văn
học trung đại. Việc đánh giá về giá trị của tác phẩm này cũng có nhiều xu
hướng khác nhau, nhiều phương pháp tiếp cận tổng thể cũng như phân tích
đánh giá sâu vào một tác phẩm. Tìm hiểu một loạt các tài liệu, chúng tôi đặc
biệt tâm đắc với ý kiến của tác giả Nguyễn Đăng Na về Truyền kỳ mạn lục,
khẳng định giá trị độc đáo riêng biệt của tác phẩm : “Nếu Lê Thánh Tông
hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng và
trung tâm phản ánh thì Nguyễn Tự đi xa hơn một bước: phản ánh số phận
con người, chủ yếu là số phận mang tính chất bi kịch của người phụ nữ. Nhờ
đó mà Nguyễn Tự đã mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt
1
Phân tích các tác phẩm văn học
Nam thời trung đại. Thông qua số phận các nhân vật, Nguyễn Tự đi tìm giải
pháp xã hội: Con người phải sống ra sao để vươn tới hạnh phúc, để nắm bắt
được hạnh phúc? Hạnh phúc tồn tại ở đâu: trên trần gian này hay miền tiên
giới, cõi thiên tào hay nơi thủy cung…? Đối với người đàn ông, hạnh phúc
là gì và đối với người phụ nữ, như thế nào là hạnh phúc? Nguyễn Tự đưa ra
nhiều giả thiết bằng những cuộc thử nghiệm, nhưng tất cả đều bế tắc. Đó là
thông điệp cuối cùng ông để lại cho người đọc…” (Truyền kỳ mạn lục dưới
góc độ so sánh văn học – Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam,

không bị câu thúc bởi bất kỳ một lý do gì cả” (sđd, tr.212). Điều này có ý
nghĩa đối với giáo viên phổ thông, những người chuyển tải thông điệp của
Nguyễn Tự đến các thế hệ học sinh, tránh những ngộ nhận khi cho rằng
Nguyễn Tự chịu ảnh hưởng của tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu ở
3
Phân tích các tác phẩm văn học
Trung Hoa, vừa có ý nghĩa định hướng đúng đắn hơn cho việc tìm hiểu vào
nội dung bức thông điệp của Nguyễn Tự, “lấy con người làm đối tượng và
trung tâm phản ánh”, hướng về các giá trị nhân bản.
Đi cụ thể vào nội dung tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Tự, chúng tôi nhận
thấy những nét thật thú vị khi các truyện của ông đã hết sức táo bạo khi đề
cập đến những đề tài cấm kỵ của văn chương phong kiến. Trong một xu
hướng văn chương hiện đại và hậu hiện đại hiện nay, người ta kêu gọi giải
phóng cá nhân, tìm đến sex như là một sự giải toả những ẩn ức, dục tính
được mổ xẻ một cách có phần thái quá thì chúng ta có thể tìm đến tác phẩm
của Nguyễn Tự để thấy ông cha ta đề cập đến yếu tố này một cách độc đáo
và nhân văn như thế nào. Nguyễn Tự đã không ngần ngại lý giải tình yêu
muôn mặt đời thường gắn liền với yếu tố nhục cảm. Tất nhiên đây là một
vấn đề tế nhị và dường như vẫn còn là đề tài “cấm kỵ” trong nhà trường
chúng ta hiện nay, nhưng có nên chăng giáo viên cũng cần tự trang bị cho
mình những kiến thức nền tảng này để có thể giải đáp những câu hỏi từ phía
học sinh mà không cảm thấy lúng túng khi các em hỏi về những vấn đề
“nhạy cảm” trong Truyền kỳ mạn lục. Hiện tại, ở chương trình lớp 9 chọn
lọc đưa vào tác phẩm quen thuộc Chuyện người con gái Nam Xương,
chương trình lớp 10 chuẩn và phân ban đều chọn tác phẩm Tản Viên phán sự
lục (Chức phán sự đền Tản Viên). Đây là những tác phẩm hay trong Truyền
4
Phân tích các tác phẩm văn học
kỳ mạn lục nhưng nhìn chung vẫn chưa thoả mãn những ai muốn hiểu một
cách tương đối khái quát về tư tưởng của Nguyễn Tự trong tác phẩm. Đặt tác

khác vào những người phụ nữ vượt lên sự cương toả của lễ giáo, tìm đến
tình yêu tự do. Ông đã không ngần ngại miêu tả tình yêu với tất cả sự mê
đắm của những nho sinh với ma nữ, lật tung những giá trị đạo đức khi để
cho các nhân vật sống với con người bản năng của mình. Tình yêu trong các
câu chuyện được dựng nên với một ranh giới ảo và thật hết sức mong manh,
mộng mà thực, thực mà mộng, tạo nên một sức hấp dẫn riêng. Cũng như bao
mối tình nam nữ, các nhân vật cũng trải qua đầy đủ mọi cảm giác khi bước
chân vào thế giới luyến ái. Truyện Cây gạo là một truyện hết sức táo bạo kể
về mối tình của Nhị Khanh và Trình Trung Ngộ, đắm chìm trong bể dục, đời
sống hoan lạc ân ái. Một câu chuyện có thể nói đã đưa ra một triết lý hiện
6
Phân tích các tác phẩm văn học
sinh như sự phản kháng lại mọi qui tắc lễ giáo đương thời: Nhị Khanh hiện
ra là một trang “giai nhân tuyệt sắc”, mang một “mối tình u uất trong lòng”.
Nàng nói với Trung Ngộ những lời hết sức táo bạo trong lần gặp gỡ đầu tiên:
“Người ta sinh ở đời, cốt được thỏa chí, chứ văn chương thời có làm gì,
chẳng qua rồi cũng nắm đất vàng là hết chuyện. Đời trước những người hay
chữ như Ban Cơ, Sái Nữ (7) nay còn gì nữa đâu. Sao bằng ngay trước mắt,
tìm thú vui say, để khỏi phụ mất một thời xuân tươi tốt. ”. Tất nhiên, mối
tình Người – Ma mang màu sắc vô luân ngược đạo lý xã hội này phải bị
ngăn cản quyết liệt. Thế nhưng khát vọng tự do yêu đương bị cấm cản đã tạo
thành phản ứng quyết liệt của đôi tình nhân ma này. Mọi sự phản ứng ấy bắt
đầu đến khi Trung Ngộ hoá thành ma, họ đã thành đôi yêu quái trong mắt
mọi người, một đôi ma “dắt tay nhau đi đôi, khi khóc, khi hát”. Bi kịch trong
thời đại ấy chính là ở chỗ không cho con người được tự do yêu đương, nên
cả khi đôi tình nhân này đã hoá ma thì họ cũng bị truy cùng diệt tận, “đào
mả phá quan tài”, nhập vào cây gạo thì bị đạo nhân tiêu diệt, huy động cả
sáu bảy trăm đầu trâu áp giải đi. Tội lỗi của họ chỉ là yêu nhau, bất chấp mọi
sự cấm cản. Có thể thấy trong lời bình, tác giả không một lời phê phán cá
nhân Nhị Khanh, còn Trình Trung Ngộ chỉ có một lời bình là hạng “thất phu

vĩnh biệt nhau vì sự khác biệt tiên phàm, cõi tiên không dung nạp tấm lòng
trần thế.
Trong 11 truyện viết về những thân phận phụ nữ, tác giả cũng thể hiện khá
rõ lập trường đạo đức Khổng Mạnh của mình. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng
gửi vào trong từng câu chuyện tấm lòng thương cảm của con người với con
người. Những chuyện phong tình bị lên án bởi những giáo điều, những quan
niệm xã hội, bởi thế những oan khổ trong kiếp đàn bà vẫn không ngừng đeo
đuổi họ cho đến chết. Mượn yếu tố truyền kỳ, nhà văn muốn an ủi cho
những số phận bất hạnh. Nếu như hiện thực là ly biệt, là mất mát, đổ vỡ, là
sự oan ức thiệt thòi, là sự ruồng rẫy rẻ khinh thì yếu tố truyền kỳ đem lại
khoảnh khắc châu về Hợp Phố, sum họp đoàn viên, giải oan, bất tử hoá nhân
vật… Tuy nhiên cũng cần thấy rằng bản thân nhà văn cũng không thể tìm lời
giải đáp cho nhân vật rằng đâu là hạnh phúc thật sự của con người. Những
cảm nhận về một thời đại loạn ly hiện hình trong từng số phận phụ nữ, đàng
sau bức màn huyền ảo là nỗi đau nhân sinh phản chiếu niềm thương cảm của
nhà văn.
9
Phân tích các tác phẩm văn học
Hiểu Nguyễn Tự và tinh thần cơ bản của Truyền kỳ mạn lục, chúng ta có thể
tìm thấy một hướng khai thác vào vẻ đẹp của tinh thần nhân bản thế kỷ XVI,
một tiền đề cho sự nở rộ của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong sáng tác ở
các giai đoạn sau. Sự tổng hoà các xu hướng dân gian, xu hướng lịch sử và
xu hướng thế tục đã khiến cho những câu chuyện của Nguyễn Tự thật sự có
một diện mạo riêng, đạt đến chuẩn mực của truyện ngắn trung đại Việt Nam.
Những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo ẩn sau lớp vỏ truyền kỳ cần được
tiếp nhận một cách đúng đắn để hiểu rõ thời đại của Nguyễn Tự, khám phá
những uẩn khúc những chiều sâu tâm hồn con người thời trung đại. Ngoài
ra, cũng từ cái mốc Truyền kỳ mạn lục, chúng ta cũng có thể thấy được
những sáng tạo mang đậm dấu ấn tác giả, sự tiếp thu có chọn lọc tinh thần
văn chương thời đại trước, mối quan hệ với văn chương khu vực và ảnh

ợng mùa xuân )
12
Phõn tớch cỏc tỏc phm vn hc
- Câu từ thơ chặt chẽ, từ hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên đất trời
đến mùa xuân của đất nớc, của cách mạng và mùa xuân do con ngời
tạo ra.
3. Giá trị nội dung :
- Bài thơ đã vẻ lên bức tranh thiên nhiên, đất trời xứ Huế thơ mộng
ngập tràn sức sống. Đồng thời là tiếng lòng tha thiết yêu mến và
gắn bó với đất nớc, với cuộc đời, thể hiện ớc nguyện chân thành đ-
ợc hoà nhập, đợc cống hiến cho đất nớc, góp một mùa xuân nho nhỏ
vào mùa xuân lớn của dân tộc.
Đề 1. Phân tích khổ thơ thứ nhất của bài
1. Mở bài :- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác.
- Giới thiệu khái quát bài thơ, đoạn thơ : Mùa xuân nho nhỏ là bài
tiêu biểu cho phong cách sáng tác của ông. Với giọng thơ trầm lắng
và những nét chấm phá đặc sắc, bài thơ đã dựng lên bức tranh mùa
xuân tơi đẹp, thơ mộng và ngập tràn sức sống:
( Chép lại khổ thơ)
2. Thân bài :
*Phân tích : Bức tranh mùa xuân ấy mở đầu bằng hình ảnh:
Mọc giữa dòng sông xanh
13
Phõn tớch cỏc tỏc phm vn hc
Tác giả đã khéo léo khi đảo động từ mọc lên đầu câu. Nó không
chỉ tạo ngời đọc ấn tợng đột ngột, bất ngờ mà còn làm cho sự vật sống
động nh đang diễn ra trớc mắt.Tởng nh bông hoa kia đang từ từ, lồ lộ mọc
lên, vơn lên xoè nở trên mặt nớc xanh biếc của dòng sông xuân.
Ba tiếng dòng sông xanh đa ngời đọc liên tởng đến dòng sông H-
ơng Giang con sông huyền thoại của xứ Huế, con sông với màu xanh

nhận của nhà thơ,tiếng chim vốn vô hình đợc cảm nhận bằng thính giác
trở nên có hình khối đợc cảm nhận bằng thị giác, rồi có ánh sáng với màu
sắc cụ thể mà nhà thơ có thể cảm nhận bằmg xúc giác qua bàn tay đa
hứng của mình. Những giọt long lanh ấy có thể là giọt tiếng chim? Giọt
sơng, Giọt ma xuân ?Giọt nắng Giọt hạnh phúc mà thiên nhiên ban tặng
15
Phõn tớch cỏc tỏc phm vn hc
cho con ngời . Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác góp phần tâm trạng say s-
a, ngây ngất của nhà thơ trớc mùa xuân tơi đẹp của thiên nhiên, đất trời.
Đánh giá, nâng cao: Chỉ vài ba nét chấm phá đơn sơ, giản dị, Thanh
Hải đã vẻ lên bức tranh xứ Huế tơi đẹp, trang nhã, thơ mộng và ngập tràn
sức sống. Đó là bức tranh mùa xuân với không gian cao rộng, màu sắc tơi
tắn, âm thanh rộn rã và dòng sông hoa cỏ, có tiếng chim hót, có bầu trời,
có sơng mai và con ngời ngập tràn niềm vui. Một niềm vui ấm áp dạt dào.
Trớc bức tranh thơ này, ngời đọc khó hình dung nổi, tác giả những vần
thơ vui tơi, rộn rã ấy lại nằm trên giờng bệnh, sống những ngày cuối cùng
của cuộc đời. Ông đã cảm nhận mùa xuân bằng chính trái tim yêu đời
thiết tha của mình.
3. Kết bài : Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là tiếng lòng tha thiết và
yêu mến, gắn bó với con ngời và cuộc đời. Mùa xuân nho nhỏ mà
không nhỏ chút nào. Nó nói lên đợc nhiều ý nghĩa. Vì đó là lời tâm
niệm thiết tha chân thành, sâu lắng nhất của một tâm hồn trớc lúc
đi xa. Bài thơ đã góp vào bản hợp xớng một nột trầm làm xao xuyến
lòng ngời để gần ba mơi năm qua đi mà d âm của nó vẫn còn sâu
lắng
2 Phân tích đoạn thơ:
Mùa xuân ngời cầm súng
16
Phõn tớch cỏc tỏc phm vn hc


cần cù của mình để làm nên màu xanh cho ruộng đồng. Có thể nói, con
ngời đi đến đâu thì mùa xuân, sức xuân trải dài đến đó. ý thơ vô cùng
sâu sắc: Máu và mồ hôi của con ngời đã tô điểm cho mùa xuân, để giữ
lấy mùa xuân mãi mãi. Những con ngời lao động và chiến đấu ấy đã
mang cả mùa xuân ra mặt trận của mình để gặt hái mùa xuân cho đất
nớc.
Cả dân tộc tộc bớc vào xuân với khí thế khẩn trơng, rộn ràng náo
nức:
Tất cả nh hối hả
Tất cả nh xôn xao
18
Phõn tớch cỏc tỏc phm vn hc
Hối hả có nghĩa là khẩn trơng, vội vã và gấp gáp. Xôn xao gợi đến
nhiều âm thanh đan xen nhau làm cho không khí náo động. Cặp từ láy
hối hả, xôn xao cùng với điệp từ Tất cả làm cho câu thơ vang lên
nhịp điệu gấp gáp, rộn rã, vui tơi. Đó là hành khúc của đất nớc khi bớc vào
xuân, bớc vào cuộc sống mới. Có hiểu hoàn cảnh khó khăn của đất nớc ta
thời điểm bài thơ ra đời, mới hiểu và trân trọng tình cảm, niềm tin, sự
hăng say nhiệt tình của những con ngời xã hội chủ nghĩa đó. Từ sự cảm
nhận của không khí chiến đấu, lao động của đất nớc, giọng thơ nh lắng
sâu hơn khi nhà thơ suy t về đất nớc:
Đất nớc bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nớc Việt Nam thân yêu của chúng ta đã qua bốn nghìn năm dựng nớc
và giữ nớc. Trong suốt chiều dài lịch sự ấy, đất nớc đã phải trải qua bao
vất vả, gian lao. Vất vả, gian lao vì chống giặc ngoại xâm, vất vả gian lao
vì phải đơng dầu với thiên tai dịch hoạ. Nhng dù có vất vả, gian lao đến
đâu thì ngời dân VN vẫn nguyện đem mồ hôi. xơng máu, lòng yêu nớc
và tinh thần quả cảm của mình để bảo vệ và xây dựng đất nớc. Dân ta
tài trí và nhân nghĩ, suốt bốn ngàn năm dựng nớc và giữ nớc đã toả sáng

- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác.
- Bài thơ thể hiện tình cảm thiết tha và niềm tin vững chắc của nhà
thơ với đất nớc và tâm niệm đợc hiến dâng cuộc đời mình cho
dân tộc. ớc nguyện chân thành ấy làm xúc động biết bao bạn đọc
suốt 30 năm qua.
( Chép lại khổ thơ)
2. Thân bài :
Khái quát : Mùa xuân của thiên nhiên, đất nớc thờng gợi lên ở mỗi ngời
niềm khao khát và hi vọng. Với Thanh Hải, đây là thời điểm nhà thơ
nhìn lại cuộc đời mình và bộc bạch những điều tâm niệm tha thiết của
ngời chiến sĩ cách mạng, một nhà thơ gắn bó trọn đời mình cho đất nớ,
cho nhân dân.
Phân tích : Trong sức xuân mạnh mẽ của đất trời, trong khi thế
bừng bừng của đất nớc vào xuân, nhà thơ cảm nhận mùa xuân dâng lên từ
đáy tâm hồn mình. Đó là mùa xuân của lòng ngời, mùa xuân của sức sống
tuổi trẻ, mùa xuân của cống hiến và hi sinh.
21
Phõn tớch cỏc tỏc phm vn hc
Thật đáng yêu, bởi ớc nguyện của nhà thơ nhỏ bé khiêm nhờng quá:
Ta làm xao xuyến
Nhà thơ chỉ mong mình làm một cành hoa trong muôn ngàn cành
cành hoa, làm tiếng chim trong muôn ngàn tiếng chim để tô điểm cho
mùa xuân tơi đẹp. Không chỉ vậy, nhà thơ chỉ mong mình là một nốt
nhạc trầm trong bản đàn mùa xuân rộn rã, vui tơi. Tuy không cao lắm nhng
làm xao xuyến lòng ngời.
Nếu ở khổ thơ đầu, mùa xuân của thiên nhiên đất trời đợc tạo nên
bởi một cành hoa, một tiếng chim thì trong khổ thơ này, hình ảnh thơ đợc
lặp lại. Nhà thơ đã mợn để nói lên ớc nguyện của mình : Đem cuộc đời
mình hoà nhập, cống hiến để làm lên mùa xuân lớn cho đất nớc. Hình
ảnh thơ giản dị kết hợp với một số từ một diễn tả ớc nguyện khiêm nhờng

cũng âm thầm cống hiến. Cụm từ Tuổi hai mơi- khi tóc bạc mang ý
nghĩa khái quát suốt chiều dài của đời ngời. Thanh Hải quan niệm rằng:
Hãy cống hiến những gì nhỏ bé nhất nhng có ích. Cống hiến âm thầm
và suốt cả cuộc đời. ý thức trách nhiệm với quê hơng đất nớc, khát vọng
cống hiến đã trở thành ý thức bất diệt trong tâm hồn khán giả. Còn sống là
còn cống hiến. Tuổi hai mơi căng tràn nhựa sống hay tuổi già khi tóc bạc
thì ý thức trách nhiệm với đất nớc vẫn không hề thay đổi. Điệp từ dù là
nh một lời hứa, một lời tự nhủ với lơng tâm sẽ mãi làm một mùa xuân nho
nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hơng, đất nớc.
Quan niệm sống của Thanh Hải chính là quan niệm sống cao đẹp
của một ngời chiến sĩ cách mạng. Quan niệm này có sự kế thừa, phát huy
quan niệm sống của cha ông và thay đổi để phù hợp với cuộc sống hiện
đại.
Cổ nhân xa từng quan niệm :
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Và Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi, rợu bầu.
24
Phõn tớch cỏc tỏc phm vn hc
Còn với ngời chiến sĩ cách mạng thì cống hiến tất cả những gì nhỏ
bé nhất, cống hiến trong lặng lẽ, âm thầm và bền bỉ suốt cả cuộc đời.
Đánh giá nâng cao: Hai khổ thơ ngắn gọn nhng chứa đựng một triết
lí, một nhân sinh quan sâu sắc:Vấn đề sống đẹp và sống ý nghĩa.
Triết lí sống ấy đợc gửi gắm trong lời thơ nhỏ nhẹ nh lời tâm niệm
chân thành, qua hình ảnh thơ đơn sơ mà mang nhiều cảm xúc. Chính vì
vậy hình ảnh Mùa xuân nho nhỏ cuối bài thơ nh ánh lên, toả sáng. Đó là
ánh sáng của một tâm hồn muốn sống một cuộc đời đẹp nh những xuân.
2. Kết bài : Khẳng định giá trị bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ nhng ý
nghĩa không nhỏ. Đó là bài thơ hay mà Thanh Hải để lại cho đời trớc lúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status