ÔN NGHỊ LUẬN VỀ CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC 12
VỢ CHỒNG A PHỦ
Tô Hoài
I. Hệ thống câu hỏi
Câu 1: Nêu hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ ?
- Năm 1952 Tô Hoài đi cùng với bộ đội vào giải phóng Tây Bắc . Trong chuyến đi này
nhà văn đã có dịp sống găn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số (Thái , Mường, Mông ,
Dao )nên đã để lại nhiều kỉ niệm, hiểu biết về cuộc sống con người miền núi .Điều này
đã thôi thúc Tô Hoài viết " Truyện Tây Bắc" trong đó có " Vợ chồng A Phủ"
- "Vợ chồng A Phủ” in trong tập truyện “Tây Bắc”, truyện được giải nhất – giải thưởng
Hội Văn Nghệ VN 1954- 1955. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu viết về cuộc đời của
Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần sau viết về cuộc sống nên vợ nên chồng, tham gia cách
mạng của Mị và A Phủ ở Phiềng Sa.
Câu 2: Tóm tắt tác phẩm Vợ chồng A Phủ ?
- Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị, không đủ tiền cưới phải vay nhà thống lí, bố của thống lí
Pá Tra bây giờ. Mẹ Mị mất, bố Mị đã già mà nón nợ mỗi năm phải trả lãi một nương ngô
vẫn còn Mị là một cô gái xinh đẹp, yêu đời, có khát vọng tự do, hạnh phúc bị bắt về làm
con dâu gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra. Mị trở thành đày tớ không công, bị bóc lột chà
đạp, cam phận cuộc sống tủi nhục, đoạ đày. Lúc đầu Mị phản kháng nhưng dần dần trở
nên tê liệt, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa".
- Đêm tình mùa xuân đến, Mị muốn đi chơi nhưng bị A Sử (chồng Mị) trói đứng vào cột
nhà. Còn A Phủ một thanh niên cường tráng, gan góc do đánh A Sử nên đã bị bắt, bị phạt
vạ và trở thành kẻ ở trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Không may A Phủ để hổ vồ mất một
con bò, A Phủ đã bị đánh, bị trói đứng vào cọc đến gần chết. Cảm thương cho người cùng
cảnh ngộ, Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ.
- Cả hai cùng chạy đến Phiềng Sa và trở thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giáp ngộ
cách mạng giúp đỡ, A Phủ tham gia đội du kích cùng bản làng, tham gia kháng chiến
chống thực dân pháp và tay sai.
"tai Mị vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng", "mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay
ngoài đường", "Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám
chơi", "trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo",…
- Tiếng sáo là một dụng công nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài, là một chi tiết giàu ý
nghĩa:
+ Tiếng sáo có nhiều cung bậc, sắc thái thẩm mĩ: miêu tả từ xa đến gần, khi thực khi hư.
Tiếng sáo từ chỗ là sự việc của thực tại bên ngoài dần dần xâm nhập và thế giới nội tâm
của Mị.
+ Tiếng sáo là biểu tượng của mùa xuân, của tình yêu, của khát vọng được yêu thương
được sống tự do, hạnh phúc.
+ Tiếng sáo có sức tác động mạnh mẽ, sâu sắc đối với Mị: tiếng sáo đã đưa Mị từ cõi
quên đến cõi nhớ, tiếng sáo gợi lên một thời hạnh phúc ngắn ngủi, tiếng sáo đưa tâm hồn
Mị trở lại những ngày tháng tươi đẹp, làm thức tỉnh khao khát hạnh phúc trong thực tại
tưởng chừng đã bị thực tế phũ phàng làm tê liệt, giúp Mị có ý thức phản kháng quyết liệt
với thực tế bi đát.
+ Tiếng sáo là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, giúp tác giả khắc họa chân
thật diễn biến tâm lí tinh tế của nhân vật, góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm
đồng thời cũng làm nổi bật sắc thái văn hóa tinh thần đặc trưng của Tây Bắc.
Câu 6:Trong truyện có kể, khi bị bắt vào nhà thống lí, Mị đã định tự tử bằng lá
ngón, nhưng rồi lại từ bỏ ý định vì thương cha. Nhưng đến lúc cha Mị chết đi rồi,
Mị lại không còn ý định tìm đến cái chết nữa. Vì sao vậy?
- Ý muốn ăn lá ngón là một phản ứng trước một cuộc sống không ra cuộc sống. Điều đó
cho thấy, phải tha thiết sống lắm thì khi mất nó, người ta mới muốn chết ngay đi. (Cho
nên, về sau này, trong một ngày tết đáng nhớ của đời Mị, khi tình xuân bất chợt trở về
bừng nở trong lòng thì Mị lại có ngay ý nghĩ: “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị
sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa”).
- Còn khi niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc đã băng giá lại thì cũng chẳng còn
gì thúc đẩy người ta nghĩ về cái chết. Đấy là lí do cắt nghĩa vì sao khi người cha đã mất
rồi, mà ý nghĩ về nắm lá ngón sẽ không trở lại với Mị. Chừng nào Mị còn là một cái bóng
Pháp sống cuộc sống của những con người tự do.
b Giá trị nhân đạo:
- Bênh vực và cảm thông sâu sắc với những con người có số phận bất hạnh như Mị, A
Phủ.
-Tố cáo sự tàn bạo của giai cấp thống trị miền núi (tiêu biểu là cha con thống lí Pá Tra).
- Trân trọng khát vọng tự do, hạnh phúc và phẩm chất tốt đẹp của người lao động nghèo
miền núi trong xã hội cũ.
- Đồng tình với tinh thần phản kháng, đấu tranh của những người bị áp bức và vạch ra
con đường giải phóng cho họ.
Câu 9: Chỉ ra sự giống và khác nhau về số phận và tính cách của Mị và A Phủ:
- Giống nhau : Mỵ và A Phủ đều là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến bấy giờ và
cả hai đều có khát vọng về đời sống tự do. Sức sống của Mỵ và A Phủ không bị hoàn
cảnh đen tối tiêu diệt mà vẫn tiềm ẩn và cuối cùng bùng lên mãnh liệt.
- Khác nhau : Mị bị giam cầm trong nhà Thống lí Pá Tra rất lâu nên Mị có tính cách cam
phận, chịu đựng. Còn A Phủ mồ côi từ nhỏ, sống tự lập từ nhỏ, do đó, sự phản kháng của
A Phủ mãnh liệt hơn, táo bạo hơn.
Câu 10:Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2011), việc Mị nhìn thấy “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai
hõm má đã xám đen lại” của A Phủ diễn ra trong hoàn cảnh nào? Sự việc ấy có ý
nghĩa gì đối với tâm lí của nhân vật Mị?
- Hoàn cảnh diễn ra sự việc Mị nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ
+ Do sơ ý để hổ bắt mất bò, A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng, bỏ mặc cho đói rét suốt
mấy đêm liền giữa kì sương muối khắc nghiệt ở Hồng Ngài; còn Mị sau bao năm bị đày
đọa cùng cực cũng đã trở nên chai lì. Những đêm trước, tuy vẫn trở dậy thổi lửa, hơ tay,
nhìn thấy A Phủ bị trói nhưng Mị chỉ dửng dưng, vô cảm.
+ Đêm ấy, trong nỗi bất lực, bế tắc và hoàn toàn tuyệt vọng, A Phủ đã khóc; đúng lúc đó,
Mị nhìn sang và bắt gặp dòng nước mắt của A Phủ.
- Ý nghĩa của sự việc ấy đối với tâm lí của nhân vật Mị
dậy của sức sống thanh xuân và khát vọng tự do, hạnh phúc.
- Quá trình ấy được Tô Hoài khám phá, miêu tả một cách tự nhiên, sinh động rất hợp với
qui luật tâm lý, quy luật đời sống tình cảm của con người. Đặc biệt, nhà văn đã sử dụng
ba tác nhân hỗ trợ việc miêu tả tâm lý rất thành công: không khí mùa xuân, hơi rượu và
tiếng sáo.
- Quá trình sống dậy của sức sống thanh xuân và khát vọng tự do, hạnh phúc của Mị là
bằng chứng về sức sống tiềm tàng nhưng mãnh liệt của nhân vật này. Tô Hoài miêu tả và
khám phá nó không chỉ bằng cảm quan nghệ sĩ mà còn bằng cả tấm lòng mình.
Câu 14: Cảm hứng sáng tác của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ?
- “ Đất nước và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể
bao giờ quên….Vì thế tôi viết Truyện Tây Bắc” Lời tâm sự thiết tha của Tô Hoài đã
khẳng định : truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được viết từ suối nguồn tình cảm yêu đất
nước, yêu con người Tây Bắc sâu nặng.
-Tuy vậy, nếu nhìn xuyên suốt tác phẩm thì cảm hứng sáng tác là cảm hứng hồi sinh, cảm
hứng hiện thực, cảm hứng nhân đạo.
II. Văn tự luận
Đề 1.Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị được thể hiện trong cảnh ngộ khi
bị bắt làm dâu gạt nợ trong nhà thống lí PáTra đến khi thoát khỏi Hồng Ngài.
* Gợi ý Thân bài: Biểu hiện của sức sống tiềm tàng
Ý1. Phản ứng đầu tiên khi Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ trong nhà thống lí PáTra:
- Ngay khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ, Mị có ý định tự tử.Việc Mị định tự tử chứng tỏ
Mị đã phản ứng. Đây là dấu hiệu của sự không chấp nhận cuộc sống ê chề khổ cực. Nói
đúng hơn là muốn thoát khỏi cuộc sống hiện tại đầy đau khổ. Hành động chống lại đó
được khởi phát bằng một sức sống tự nhiên vốn có của con người. Nhưng vì thương cha,
Mị không thể chết. Mị lẳng lặng quay về nhà thống lí chẳng khác gì trở về chốn địa ngục
trần gian. Từ đó, Mị sống lầm lũi, cam chịu, vật vờ như một cái bóng. Dường như Mị đã
mất ý niệm về thời gian, về tuổi trẻ. Cuộc đời đối với Mị lúc bấy giờ chỉ là một đêm dài
thăm thẳm mà thôi. Ngày trước, Thúy Kiều của Nguyễn Du đã vì chữ hiếu mà hi sinh chữ
vô cùng đau xót. Và từ chỗ thương mình, Mị đã thương A Phủ. Vì vậy Mị chấp nhận hi
sinh để cứu A Phủ.
Vậy là nước mắt đã gợi nhớ đến nước mắt. Dòng nước mắt nơi A Phủ bỗng thức dậy
niềm đồng cảm, lòng yêu thương ở người phụ nữ từng chịu nhiều đắng cay bất hạnh này.
Và tình thương đã chiến thắng nỗi sợ hãi, trong phút chốc, Mị đi đến một hành động thật
táo bạo, cắt dây trói, giải thoát cho A Phủ.
- Trong khi làm việc ấy và đến khi cắt đứt sợi dây trói cuối cùng trên người A Phủ, Mị
chỉ nghĩ đến chuyện chết thay chứ đâu đã định cũng chạy thoát khỏi nhà Thống lí. Nhưng
khi đứng lặng trong bóng tối, nhìn theo A Phủ vừa chạy vừa lăn xuống dốc để rồi xa chỗ
chết thì Mị lại không muốn chết nữa. Cô vùng chạy theo A Phủ" Ở đây thì chết mất". Câu
nói và hành động này của Mị chứng tỏ lòng ham sống trỗi dậy tự nhiên trong người con
gái tiềm tàng khả năng phản kháng. Giải thoát cho A Phủ đồng thời Mị cũng tự giải thoát
cho mình. Lí giải hành động quyết liệt này của Mị, trước tiên ấy là niềm đồng cảm sâu
sắc giữa hai thân phận. Nếu như Mị là con dâu gạt nợ thì A Phủ là đứa ở trừ nợ. Cả hai
đều phải đem tuổi trẻ, tự do của mình mà phải trả món nợ cho nhà giàu. Nhưng niềm
đồng cảm là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ. Để đi đến hành động táo bạo ấy
còn bởi trong Mị tiềm tàng một sức sống. Rõ ràng không phải người phụ nữ nào trong
hoàn cảnh ấy cũng đều làm được như cô. Mị cắt đứt dây trói cho A Phủ cũng chính là cắt
đứt sợi dây vô hình đang trói chặt cuộc đời cô. Điều này thể hiện khát vọng sống và khả
năng phản kháng chống lại cường quyền và thần quyền.của người con gái Tây Bắc.
- Đọc " Vợ chồng A Phủ, ta thấy Mị là bức chân dung tĩnh lặng. Hầu như trong thời gian
ở nhà thống lí Mị chỉ nói có vài ba câu. Nhưng ẩn chứa trong tâm hồn câm lặng ấy, là
một sức sống mãnh liệt, một khát vọng lớn lao như mạch suối ngầm trong mát. Tiếp xúc
với " Vợ chồng A Phủ" ta nhớ, ta yêu một cô Mị ở Hồng Ngài, càng bị đọa đày đau khổ,
càng khát khao sức sống mãnh liệt để có thể hiểu hơn một cô Mị du kích Phiềng Sa sau
này.
Ý4. Đánh giá:
- Bằng bút pháp hiện thực sắc sảo, nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, Tô Hoài
đã xây dựng thành công nhân vật Mị với sức sống tiềm tàng nhưng mãnh liệt.
- Nhân vật Mị chính là điển hình sinh động cho sức sống tiềm tàng, sức vươn lên mạnh
dường như Mị bắt đầu chấp nhận thân phận khốn khổ, sống như cái bóng, như "con rùa
nuôi trong xó cửa".Mị sống mà như chết.
b. Sức sống tiềm tàng mạnh mẽ:
- Tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình xuân ở Hồng Ngài:
+ Bên trong hình ảnh " con rùa nuôi trong xó cửa" vẫn đang còn một con người khát
khao tự do, khát khao hạnh phúc. Gió rét dữ dội cũng không ngăn được sức xuân tươi trẻ
trong thiên nhiên và con người, tất cả đánh thức tâm hồn Mị . Mị uống rượu để quên hiện
tại đau khổ . Mị nhớ lại thời con gái, Mị sống lại với niềm say mê yêu đời của tuổi trẻ .
Trong khi đó, tiếng sáo( biểu tượng của tình yêu và khát vọng tự do) từ chỗ là hiện tượng
ngoại cảnh đã đi sâu vào tâm tư Mị.
+ Mị thắp đèn như thắp lên ánh sáng chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối. Mị chuẩn bị đi chơi
nhưng bị A Sử trói lại . Tuy bị trói nhưng Mị vẫn tưởng tượng và hành động như một
người tự do, Mị vùng bước đi.
- Tâm trạng và hành động của Mị trong đêm cuối cùng ở nhà Pá Tra :
+ Lúc đầu thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn thản nhiên. Nhưng đêm ấy, Mị thấy dòng nước mắt
trên má A Phủ. Nhớ lại cảnh ngộ của mình trong đêm mùa xuân năm trước, Mị đồng
cảm, thương xót A Phủ. Phân tích nét tâm lí: Mị thấy cái chết sắp tới với A Phủ là uất ức,
phi lí. Mị không sợ hình phạt của Pá Tra , ý thức căm thù và lòng nhân ái giúp Mị thắng
nỗi sợ hãi, biến Mị thành con người dũng cảm trong hành động cắt dây trói cứu A Phủ.
+ Ngay sau đó, Mị đứng lặng trong bóng tối với bao giằng xé trong lòng. Nhưng rồi khát
vọng sống trỗi dậy thật mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ, đến với tự do.
Ý3 : Đánh giá
- Với bút pháp hiện thực sắc sảo, nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, Tô Hoài đã
xây dựng thành công nhân vật Mị.
- Cuộc đời đau khổ, tủi nhục của Mị có ý nghĩa tiêu biểu cho kiếp sống khốn khổ của
người dân miền núi dưới ách thống trị của các thế lực phong kiến và thực dân .
- Nhưng có áp bức có đấu tranh, nhân vật Mị chính là điển hình sinh động cho sức sống
tiềm tàng, sức vươn lên mạnh mẽ của con người từ trong hoàn cảnh tăm tối, hướng tới
ánh sáng của nhân phẩm và tự do.
Thân bài:
1) Giới thiệu cuộc đời Mị, A Phủ:
2) Diễn biến tâm trạng của Mị:
- Lúc đầu, khi nhìn thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn “thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là
cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.
- Nhưng khi nhìn thấy “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”
của A Phủ, Mị nhớ lại cảnh Mị bị trói. Lúc này Mị mới thương A Phủ, ý thức được tội ác
của bọn thống lí. Tình thương, sự thông cảm ngày càng tăng lấn át dần nỗi sợ cố hữu
trong Mị “nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết, bắt trói đến chết người
đàn bà ngày trước, chúng nó thật độc ác”.
- Thương người đã khiến Mị có hành động táo bạo: cởi trói cho A Phủ
+ Nếu thống lí biết thì Mị sẽ bị trói thay, nhưng Mị đã không còn nghĩ đến chính mình
nên cắt dây trói cứu A Phủ.
+Hành động có ý nghĩa: không chỉ giải thoát A Phủ, Mị còn cắt sợi dây vô hình ràng
buộc mình với gia đình thống lí. Cắt dây cởi trói cho A Phủ là Mị tự cắt dây cởi trói cho
chính mình thoát khỏi hai nhà tù: thần quyền, cường quyền. A Phủ chạy thoát, Mị “đứng
lặng trong bóng tối” rồi “chạy theo A Phủ”. Mị không muốn chết cũng không muốn sống
cuộc sống cũ.
+ Hành động của Mị là kết quả tất yếu, đỉnh điểm của sức sống tiềm ẩn, của sự phản
kháng. Tác giả đã mô tả tinh tế diễn biến tâm trạng phức tạp nhưng hợp lí của Mị, từ
thương người đến thương mình, từ cứu người đến cứu mình. Một mặt cô cam chịu nhẫn
nhục, mặt khác cô luôn có ý thức phản kháng, thể hiện sức sống mãnh liệt.
Tóm lại, hình tượng Mị tiêu biểu cho số phận của người phụ nữ miền núi, đại diện cho
những phẩm chất tốt đẹp, đặc biệt là khát vọng sống chính đáng của con người.
Đánh giá
- Hình tượng Mị thể hiện ý thức phản kháng, khát vọng sống tự do, hạnh phúc, những nét
tính cách tiêu biểu của người dân miền núi giai đoạn này.
- Nghệ thuật: Trần thuật hấp dẫn, đan xen quá khứ và hiện tại, xây dựng tình huống đặc
sắc, miêu tả tâm lí tinh tế.
thành công nhân vật Mị.
- Cuộc đời đau khổ, tủi nhục của Mị có ý nghĩa tiêu biểu cho kiếp sống khốn khổ của
người dân miền núi dưới ách thống trị của các thế lực phong kiến và thực dân. “Có áp
bức, có đấu tranh”.
- Nhân vật Mị chính là điển hình sinh động cho sức sống tiềm tàng, sức vươn lên mạnh
mẽ của con người trong hoàn cảnh tăm tối hướng tới ánh sáng của nhân phẩm và tự do.