CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VÀ KINH TẾ CỦA CÁC THỎA THUẬN ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ (IIAs)
HỌC PHẦN 2
CÁC KHÍA CẠNH CHÍNH SÁCH CỦA FDI TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Mục lục
Giới thiệu về học phần 2
Chủ đề 1: Các chính sách FDI quốc gia chủ yếu tại các nước đang phát triển
Chủ đề 2: Các quy tắc quốc tế chính về FDI
Thuật ngữ
GIỚI THIỆU HỌC PHẦN 2
Vì các quốc gia tìm cách thu hút FDI theo hướng có lợi nhất cho nền kinh tế
và phát triển của quốc gia mình, các chính sách quốc gia và quốc tế có thể giúp hạn
chế các chi phí và rủi ro tiềm năng của FDI và tăng đóng góp của nó cho các nền
kinh tế chủ nhà. Trong vài thập kỷ gần đây, các quốc gia đang phát triển đã chú
trọng cải thiện khung chính sách quốc gia về FDI của mình cũng như tham gia vào
các thỏa thuận quốc tế tại cấp độ song phương, khu vực và liên khu vực.
Khi xây dựng và thực thi các chính sách FDI, các quốc gia đang phát triển
hướng vào thu hút FDI, thu được lợi ích lớn nhất có thể từ dòng vốn này và giải
quyết các lo ngại về FDI. Trong một vài thập kỷ qua, phần lớn nỗ lực của các nước ở
cấp độ quốc gia đã tập trung vào việc tạo ra một môi trường đầu tư ổn đinh, thân
thiện và có khả năng dự báo, thông qua tự do hóa, xúc tiến và bảo hộ đầu tư nước
ngoài. Nhưng nhiều nước đã rất cẩn trọng trong những nỗ lực này, sử dụng các
công cụ với mong muốn tiếp cận tốt hơn các mục tiêu phát triển. Thêm vào đó, khi
cạnh tranh thu hút FDI gia tăng, các hoạt động và công cụ xúc tiến đầu tư mà các
nước chủ nhà sử dụng trở nên phức tạp hơn. Cách tiếp cận gần đây trong xúc tiến
đầu tư tìm cách gắn các chiến lược của công ty con nước ngoài với các lợi thế địa
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VÀ KINH TẾ CỦA CÁC THỎA THUẬN ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ (IIAs)
HỌC PHẦN 2
CÁC KHÍA CẠNH CHÍNH SÁCH CỦA CỦA FDI TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
CHỦ ĐỀ 1
CÁC CHÍNH SÁCH QUỐC GIA CƠ BẢN VỀ FDI TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
MỤC LỤC
A. Tổng quan
B. Mục đích nghiên cứu
C. Sách hướng dẫn
1. Chính sách quốc gia về FDI: mục đích chính và các giải pháp
1.1.
Thu hút FDI
1.2.
Lợi ích từ FDI
1.3.
Lo ngại về tác động của FDI
Chuyển giao công nghệ
3.8.
Cạnh tranh
4. Xúc tiến đầu tư
4.1.
Ba thế hệ xúc tiến đầu tư
4.2.
Các nhân tố chính của xúc tiến đầu tư
5. Điều hành tốt và xúc tiến đầu tư
5.1.
Khả năng dự báo
5.2.
Khả năng chịu trách nhiệm
5.3.
Tính minh bạch
5.4.
cảnh đó, những vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt cũng cần
được xem xét trong sự tương tác giữa các chính sách, công cụ chính sách của quốc
gia cũng như các cam kết quốc tế. Các chính sách này liên quan đến việc đối xử với
FDI trên các khía cạnh như: thâm nhập thị trường và hoạt động kinh doanh sau đó
của các công ty con nước ngoài; quốc hữu hóa hoặc tước quyền sở hữu tài sản kể
cả gián tiếp tước quyền sở hữu tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài và cơ chế bồi
thường tương ứng; cơ chế giải quyết tranh chấp; áp dụng những biện pháp ưu đãi
hoặc các yêu cầu hoạt động; khuyến khích chuyển giao công nghệ: và đảm bảo
cạnh tranh kể cả việc kiểm soát các hành vi hạn chế kinh doanh của các công ty
nước ngoài. (Tất cả những vấn đề nêu trên và các vấn đề khác cũng được phân tích
theo quan điểm của IIAs trong học phần 3 của tài liệu này).
Những nỗ lực xúc tiến đầu tư – ở đây chỉ xét trên các phương diện như quảng
bá thông tin tại nước chủ nhà, mang đến cơ hội cho nhà đầu tư và quá trình thuyết
phục nhà đầu tư,.. sẽ chủ yếu thực hiện ở cấp quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh
giữa các quốc gia trong thu hút FDI ngày càng gia tăng thì các nước cũng đã sử
dụng nhiều kỹ thuật quảng bá tinh vi, đồng thời đưa ra hàng loạt các dịch vụ hỗ trợ
nhà đầu tư nhằm thu hút cũng như giữ chân các nhà đầu tư lớn. Tuy nhiên, xúc tiến
đầu tư muốn thành công phụ thuộc vào nhiều yêu cầu vĩ mô như một cơ chế điều
hành tốt ở nước chủ nhà, trong đó có các yêu cầu về khả năng chịu trách nhiệm, khả
năng dự báo, tính minh mạch và tính tham dự.
B. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Sau khi nghiên cứu học phần này, học viên có thể:
•
hiểu được mục đích chính của các biện pháp và chính sách quốc gia về FDI;
•
nước chủ nhà. Các nước đang phát triển sử dụng một hệ thống các chính sách và
biện pháp ở cấp độ quốc gia để theo đuổi các mục đích này trong bối cảnh các nỗ
lực phát triển của mình.
Như đã lưu ý trong phần thảo luận về các nhân tố quyết định FDI (học phần 1,
chủ đề 3), các chính sách về FDI bao gồm các chính sách liên quan trực tiếp đến
FDI – hay còn gọi là chính sách "cốt lõi" – và những chính sách có liên quan gián tiếp
đến FDI – chính sách "vòng ngoài". Phần trình này cũng như các phần sau của tài
liệu sẽ tập trung vào các chính sách FDI cốt lõi và các biện pháp liên quan mặc dù,
như đã phân tích trong phần thảo luận về các nhân tố quyết định FDI, những chính
sách không cốt lõi như các chính sách liên quan đến thương mại và thuế quan cũng
có những ảnh hưởng mạnh mẽ lên dòng vốn FDI. Các chính sách và biện pháp cốt
lõi được định nghĩa là các chính sách, luật lệ và quy định liên quan đến việc thâm
nhập thị trường và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài, các tiêu chuẩn về đối
xử của nước chủ nhà đối với nhà đầu tư (về phân biệt đối xử hoặc thiếu tiêu chuẩn
đối xử cũng như bảo hộ), và việc thực chức năng của thị trường (WIR 1998, trang
92, học phần 1, chủ đề 3). Việc xúc tiến đầu tư và các biện pháp liên quan, có tác
động trực tiếp đến dòng và các hoạt động FDI nhưng về bản chất tạo điều kiện cho
FDI hơn là cần thiết để FDI diễn ra, cũng được xếp trong nhóm biện pháp cốt lõi.
Để theo đuổi các mục đích như thu hút, có được lợi ích từ về FDI cũng như
xem xét những nguy cơ liên quan đến FDI và tác động của nó, các quốc gia đã sử
dụng các biện pháp liên quan đến một hoặc một số chính sách cốt lõi như đã nêu ở
trên. Các biện pháp được sử dụng để đạt một mục đích có thể chồng chéo hoặc
thâm chí mâu thuẫn với những biện pháp cần để đạt được mục đích khác. Phạm vi
cũng như sự đa dạng của các biện pháp sử dụng nhằm đạt được 3 mục đích đề cập
ở trên và các mục đích khác (như những mục đích gắn với đầu tư nói chung bao
gồm đầu tư trong nước và FDI) sẽ được minh họa trong Phụ lục 2, từ bảng A.1 đến
A.4. Các biện pháp đặc thù liên quan đến việc tăng cường ảnh hưởng tích cực của
FDI trong nhiều lĩnh vực trọng điểm cũng được đề cập trong tài liệu về FDI và phát
triển (học phần 1, chủ đề 4).
1.1. Thu hút FDI
quyết tranh chấp và đảm bảo cho việc chuyển lợi nhuận về nước.
•
Khuyến khích dòng vốn FDI vào trong nước thông qua ác biện pháp quảng bá
hình ảnh nước chủ nhà, cung cấp thông tin về các cơ hội đầu tư, đưa ra các
công cụ khuyến khích đầu tư và tạo điều kiện cho FDI thông qua cơ chế hành
chính và pháp lý phù hợp hoặc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sau đầu tư.
Câu hỏi 1
Nêu các cách thức mà thông qua đó một quốc gia có thể thu hút FDI. Hãy
đưa ra ví dụ từ thực tiễn quốc gia hoặc khu vực bạn đang đang sống.
Nhìn chung, khuynh hướng của các chính sách thu hút FDI vẫn là giảm những
rào cản, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư và khuyến khích FDI. Tuy vậy,
các biện pháp áp dụng ở từng quốc gia là khác nhau bởi những lợi thế về vị trí địa lý
là khác nhau, tính kinh tế của các biện pháp cũng khác nhau và các quốc gia cũng
quan niệm khác nhau về cách tốt nhất để thu hút FDI.
1.2. Lợi ích từ FDI
Thu hút được FDI không đồng nghĩa với việc nước nhận đầu tư sẽ hưởng lợi
tối đa từ nó. Các nhà đầu tư nước ngoài phản ứng lại với các cơ hội đầu tư thông
qua chiến lược và mục tiêu lợi nhuận của họ, và kết quả kinh doanh của họ không
nhất thiết phải đem lại lợi ích cho phát triển của nước nhận đầu tư theo mức hoặc
theo phương thức mong đợi,. Tuy nhiên, các chính sách mà các nước đang phát
triển đưa ra cũng có thể khiến các nhà đầu tư hành động theo cách mang lại nhiều
lợi ích cho quá trình phát triển, thông qua việc chuyển giao công nghệ, nâng cao tay
nghề lao động trong nước, sử dụng nguồn cung ứng nội địa, v.v.
Các chính sách và biện pháp cơ bản mà các quốc gia sử dụng để tối đa hóa
những tác động tích cực của FDI đối với quá trình phát triển gồm có (WIR 2003,
vốn của các dự án FDI cũng như có thể giảm thiểu chi phí và rủi ro của dự án.
Các biện pháp này nếu được áp dụng sẽ gây ảnh hưởng lên hành vi của các
công ty nước ngoài, chẳng hạn như đối với vấn đề tạo việc làm và cung cấp
các dịch vụ đào tạo. Trong vài trường hợp, các ưu đãi đầu tư phải có sự liên
hệ chặt chẽ với các yêu cầu về hoạt động của công ty. Tuy nhiên, cần lưu ý là
các ưu đãi đầu tư không tự động tác động đến quyết định đầu tư và trong một
số trường hợp chi phí của các ưu đãi đầu tư này có thể vượt hơn so với lợi
ích thu được từ các dự án FDI đã vào hoặc đang hướng tới (xem thêm trong
học phần 1, chủ đề 3).
Khi xem xét các chính sách và biện pháp có thể trực tiếp giúp tối đa hóa lợi
ích của hoạt động FDI thì các nước nhận đầu tư cũng nhận thức được rằng họ chỉ
có thể gây ảnh hưởng lên hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài theo hướng
tăng cường tính hiệu quả của FDI một khi củng cố được năng lực quốc gia mình:
công nghệ mới chỉ có thể được khuếch tán rộng rãi chỉ khi nước chủ nhà có nền
tảng kỹ thuật tương đối đầy đủ hoặc khi các nhà cung cấp và đối thủ cạnh tranh
trong nước đáp ứng yêu cầu của các TNC và học hỏi được từ họ; hoặc xuất khẩu chỉ
có thể tăng trưởng khi chất lượng của cơ sở hạ tầng đáp ứng được. Vì vậy, chính
phủ các nước đang tập trung soạn thảo và triển khai các chính sách để xây dựng
năng lực quốc gia, và, bên cạnh các yếu tố khác, dựa vào các công ty con nước
ngoài và các công ty mẹ trong nỗ lực này.
Câu hỏi 2
Theo nhóm, hãy thảo luận tác động có thể đối với hành vi của các TNC của
các biện pháp bắt buộc và các biện pháp không bắt buộc mà nước nhận
đầu tư thực hiện nhằm hưởng lợi từ FDI
1.3. Nhận diện những lo ngại về tác động của FDI
Trong nhiều thập kỷ qua, bất chấp sự thay đổi thái độ theo hướng ủng hộ FDI,
•
Can thiệp vào các quyết định kinh tế của nước nhận đầu tư, có thể gây tác
động tiêu cực đối với quá trình phát triển công nghiệp và an ninh quốc gia.
Trong những năm qua, nhiều quốc gia kể cả phát triển hay đang phát triển
đều chia sẻ những mối lo ngại này và lấy đó làm cơ sở để đưa ra các quy định và
yêu cầu kiểm soát trong quá trình thâm nhập và hoạt động của FDI. Mặc dù đã có
nhiều thay đổi trong nhận thức về FDI nhưng những mối lo ngại này vẫn hiện hữu rất
rõ rệt ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia đang gặp khó khăn về
kinh tế. Các chính sách và biện pháp chủ yếu có thể giúp nhận diện những lo ngại
này là:
•
Những hạn chế liên quan đến chấp thuận đối với FDI và đối với việc thành lập
và hoạt động của các công ty con nước ngòai. Chẳng hạn như không cho
phép nhà đầu tư gia nhập thị trường dưới hình thức mua lại và sáp nhập vì có
thể ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước, không
cho phép đầu tư vào một số vùng hoặc khu vực nhất định của một quốc gia
liên quan đến chiến lược hoạch định vùng hoặc vấn đề an ninh quốc gia, hoặc
coi việc xem xét các đánh giá về tác động đến môi trường là điều kiện để
chấp nhận các dự án FDI vào một số lĩnh vực ở nước nhận đầu tư.
•
Các biện pháp liên quan đến hoạt động của các công ty nước ngoài. Nước
chủ nhà cũng có thể quy định các yêu cầu đối với hoạt động của các công ty
con nước ngoài xuất phát từ lo ngại về tác động tiêu cực tiềm ẩn. Ví dụ như
có thể áp dụng yêu cầu về hạn mức thu nhập từ xuất khẩu hoặc hạn chế nhập
Thập niên 90 đã chứng kiến một xu hướng ổn định chưa từng có của làn sóng
tự do hóa trong các chính sách liên quan đến thu hút FDI ở các nước đang phát triển
(Hộp 1). Và hiển nhiên, xu hướng này gắn liền với xu hướng tự do hóa trong các
chính sách kinh tế nói chung. Ở một số nước đang phát triển, tự do hóa trong chính
sách đầu tư khởi nguồn từ đầu thập niên 80 khi cuộc khủng hoảng nợ tác động to
lớn đến nền kinh tế của nhiều nước và khiến họ nhận thức tích cực hơn về vai trò
của FDI. Tuy nhiên, đến đầu thập niên 90 thì khuynh hướng tự do hóa đối với FDI lại
có động lực đáng kể. Ngày càng nhiều nước xem xét lại quan điểm của mình về FDI
bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là khi rút ra được bài học từ kinh nghiệm
cũng như áp lực cạnh tranh đang gia tăng trong một thế giới toàn cầu hóa.
Ngày nay, thực tiễn đã khác hẳn hai thập niên trước. Hầu hết các nước đang
phát triển không đơn thuần chấp nhận các dự án FDI mà họ tìm cách thu hút những
dự án có thể hỗ trợ chặt chẽ hơn cho chiến lược phát triển của quốc gia mình. Quá
trình toàn cầu hóa đã không còn giới hạn các hoạt động kinh tế trong phạm vi biên
giới quốc gia và vì thế, đồng thời cạnh tranh trong thu hút FDI giữa các quốc gia
cũng gia tăng. Các nước với nhu cầu phát triển cao cần coi FDI là nguồn lực cơ bản
của phát triển kinh tế, và các nước đang phát triển cần tìm cách xây dựng một chính
sách tạo điều kiện cũng như một khung pháp lý theo quan điểm khuyến khích FDI
đến mức tối đa có thể. Cùng lúc đó, các nước phát triển can thiệp vào tiến trình tự do
hóa các chính sách trong một số lĩnh vực có quan hệ chặt chẽ với FDI, chẳng hạn
như dịch vụ. Và vì thế, ngày nay, hầu hết các quốc gia không chỉ cho phép mà còn
nỗ lực thu hút FDI, và trong một số trường hợp còn có chiến lược thu hút ở cấp địa
phương.
Những dữ liệu được UNCTAD thống kê về các thay đổi trong hệ thống luật và
quy định của các quốc gia đã nêu bật một xu hướng tự do hóa mạnh mẽ trong các
chính sách về FDI. Theo thống kê, giai đoạn 1991 – 2004, có tổng cộng 2156 thay
đổi trong quy định của các nước và phần lớn những thay đổi này là nhằm tạo cơ chế
thuận lợi hơn cho FDI (bảng 1). Riêng năm 2004, 102 nước đã tiến hành 217 hạng
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
Số lượng quốc gia có thay
đổi trong cơ chế FDI
35
43
57
49
64
114
151
145
140
150
208
248
244
271
Thuận lợi hơn cho FDIa
80
79
101
108
106
16
16
9
9
3
14
12
24
36
a
bao gồm các thay đổi tự do hóa hoặc các thay đổi nhằm mục đích củng cố chức năng thị trường,
cũng như tăng ưu đãi
b
bao gồm các thay đổi nhằm mục đích tăng kiểm soát, cũng như giảm ưu đãi.
Nguồn: WIR 2005, trang 26
Những thay đổi trong cơ chế FDI vừa thể hiện trong quy định pháp lý về FDI
nói riêng và nhiều quy định pháp lý khác. Tuy nhiên, theo thời gian, nhiều nước tiếp
nhận đầu tư đã cụ thể hóa những quy định về FDI dưới dạng này hoặc dạng khác
thiết lập trong các IIAs mà mình tham gia. Các biện pháp kiểm soát mà các quốc gia
sử dụng có thể bao gồm các biện pháp từ việc loại trừ toàn bộ hoặc từng phần FDI
đến các biện pháp hạn chế như về tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài, yêu
cầu về liên doanh hay việc thẩm tra hồ sơ thâm nhập do một cơ quan được chỉ định
thực hiện. Khi các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư thì nước nhận đầu tư
cho các công ty con nước ngoài hưởng chế độ đối xử quốc gia, nhưng trong trường
hợp này điều khoản "trong các trường hợp tương tự" tỏ ra có ưu thế, tạo khả năng
cho các chính phủ cấp hỗ trợ đặc biệt cho các công ty trong nước trong các trường
hợp không tương tự.
Vấn đề trọng tâm về nguyên tắc đối xử quốc gia trước khi cấp phép đầu tư
của nước chủ đầu tư liên quan đến vấn đề thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước,
xây dựng cũng như đẩy mạnh nội lực. Trong điều kiện thị trường tự do, việc thâm
nhập không bị hạn chế của FDI có thể kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp
trong nước và tạo ra ít tác động lan tỏa hơn các công ty trong nước. Các lĩnh vực
được quan tâm chủ yếu là:
• Bảo hộ các ngành công nghiệp còn non yếu. FDI có thể làm phương hại đến
các doanh nghiệp nội địa thông qua việc cản trở các nhà đầu tư trong nước
tham gia vào các hoạt động có sự hiện diện mạnh của nước ngoài.
• Chuyên sâu công nghệ trong nước. Sự hiện diện mạnh của nước ngoài có thể
gây cản trở cho các đối thủ cạnh tranh trong nước đầu tư vào các lĩnh vực
năng lực đổi mới nhiều rủi ro, ngược với việc mua công nghệ có sẵn và các
kỹ năng từ nước ngoài. Hơn nữa, nếu FDI ngăn cản hoạt động R&D ở các
doanh nghiệp trong nước khi khoảng cách về công nghệ giữa các công ty này
với các công ty đa quốc gia tăng lên, khiến các công ty này trở nên mờ nhạt
trong các hoạt động có hàm lượng công nghệ cao.
• Khai thác công nghệ mới. Khi cả công ty nước ngoài và công ty trong nước
đều tham gia vào hoạt động R&D cũng như tạo ra các công nghệ mới thì các
công ty trong nước có thể khai thác lợi ích từ việc đổi mới trong nước chủ
Trong khi các vấn đề thảo luận ở trên có nhiều ý nghĩa, bằng chứng về sự
hạn chế sự thâm nhập của FDI khá lẫn lộn (WIR 2003, trang 106). Bằng chứng này
cho thấy việc hạn chế FDI hay tự do hóa FDI dần dần và có chọn lọc đều chứa đựng
những lý do kinh tế chính đáng. Nhưng công cụ này cũng cần phải được sử dụng
một cách cẩn trọng.
Khi câu hỏi đặt ra là đối xử với các công ty con nước ngoài và liệu có chấp
thuận đối xử quốc gia sau khi cấp phép đầu tư không thì có thể tạo ra một tình
huống kinh tế trong những thất bại về thể chế thị trường (WIR 2003, trang 107).
Trước hết, các công ty con có xu hướng hoạt động hiệu quả hơn và do đó có
thể bị từ chối áp dụng quy tắc đối xử quốc gia trong hoàn cảnh " doanh nghiệp non
yếu", miễn là sự khác biệt hóa về đối xử chỉ diễn ra trong một giai đoạn nhất định và
các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có thể cạnh tranh.
Thứ hai, các công ty con có thể có các lợi thế hơn các công ty trong nước,
không phải vì họ hoạt động hiệu quả hơn mà bởi vì các thị trường tín dụng, kỹ
năng... đều được phân đoạn và mang lại điều kiện tốt hơn đơn giản bởi cơ ấu sở
hữu nước ngoài của các công ty đó. Nhưng việc mang lại các điều kiện tốt hơn cho
các công ty đó nhằm bù đắp lại những ảnh hưởng đối nghịch của phân đoạn thị
trường là một giải pháp gần như là tốt nhất và, hơn thế nữa, phân đoạn thị trường
gây khó khăn cho việc phân biệt thông lệ thương mại lành mạnh.
Thứ ba, cần giới hạn đặc quyền dành cho các công ty con, những đặc quyền
này giúp cho các công ty có thể tiếp cận được với nguồn thông tin chiến lược hoặc
công nghệ nhạy cảm hay các hoạt động văn hóa- xã hội. Vấn đề tranh luận phi kinh
tế này rất khó đánh giá, nhưng lại rất quan trọng và nhiều chính phủ có thiện chí với
nguồn vốn FDI sẽ đưa ra các đặc quyền cụ thể (như xem xét vấn đề tiếp cận với các
hoạt động liên quan đến phòng thủ) đối với các doanh nghiệp trong nước.
Thứ tư, các công ty con có thể trở thành lực lượng thống trị và lạm dụng sức
mạnh thị trường. Nhằm ngăn chặn điều này bằng cách phân biệt đối xử là một giải
pháp gần như là tốt nhất. giải pháp tốt nhất có thể là đẩy mạnh chính sách về cạnh
nước này duy trì sự linh hoạt trong quá trình theo đuổi những mục tiêu phát triển
thông qua các chính sách FDI trong khi vẫn thu được lợi ích từ việc tham gia vào
IIAs.
Câu hỏi 6
Nếu những mối quan tâm về vấn đề phát triển mà nước chủ đầu tư là nước
đang phát triển cần xem xét trong quốc sách có đề cập đến quy tắc đối xử
quốc gia giành cho các nhà đầu tư nước ngoài là gì? Thảo luận những vấn
đề này theo 2 nhóm: từ quan điểm của các nhà đầu tư nước ngoài và quan
điểm của nước chủ đầu tư.
3.2. Quốc hữu hóa, tước quyền sở hữu hữu và trưng thu theo quy định
"Chiếm hữu tài sản" thông qua quá trình quốc hữu hóa và tước quyền sở hữu
là vấn đề xa xưa nhất trong quy định về FDI (WIR 2003, trang 110). Những khoản
trưng thu tài sản của các công ty nước ngoài trong thế kỷ 20 đã dẫn tới việc ban
hành các quy định luật quốc tế truyền thống nhằm thiết lập các điều kiện mà theo đó
các khoản chiếm hữu đó là hợp pháp: việc chiếm hữu phải nhằm mục đích công
cộng, không phân biệt đối xử và phải đi kèm với khoản đền bù. Các nguyên tắc cơ
bản này đã được chấp nhận trong các nguồn luật và hoạt động quốc gia và các
thông lệ, được tham chiếu trong IIAs.
Gần đây, vấn đề chính liên quan đến chiếm hữu tài sản là việc đền bù chính
xác được trả cho việc quốc hữu hóa hoặc tước quyền sở hữu. Vấn đề này hiện nay
được mở rộng để chiếm hữu gián tiếp, bao gồm cái được gọi "chiếm hữu dần" và
"chiếm hữu theo quy định", có thể được điều chỉnh theo các tiêu chuẩn bảo hộ.
Việc phân biệt các loại chiếm hữu tài sản không phải lúc nào cũng dễ dàng.
•
Chiếm hữu tài sản trực tiếp liên quan đến việc chuyển giao quyền chiếm hữu
về tài sản cũng như các quyền hợp pháp khác. Việc chiếm hữu này có thể có
một vấn đề khó đánh giá và có thể làm gia tăng mâu thuẫn giữa các nhà đầu tư, cả
trong nước lẫn nước ngoài, và nước chủ nhà. Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài,
thông qua việc đưa ra các điều kiện bảo đảm đối với quốc hữu hóa và tước quyền
sở hữu phải được phân tích trong bối cảnh những rủi ro về tranh chấp và chi phí mà
mục tiêu này có thể tạo ra đối với nước chủ nhà.
Phần lớn IIAs có các điều khoản về chiếm hữu tài sản, thường định nghĩa
chiếm hữu tài sản theo cả các quan niệm truyền thống về nội địa hóa và chiếm hữu
cũng như chiếm hữu dần dần và chiếm hữu theo quy định. Các hành động vì quyền
lợi điều tiết thông thường như vì mục đích đánh thuế, quyền sở hữu trí tuệ và nợ
công có thể hoặc không đủ để tạo ra chiếm hữu gián tiếp. Hơn thế nữa, phần lớn
IIAs đòi hỏi phải có sự tuân thủ các yếu tố cơ bản của việc chiếm hữu hợp pháp: vì
mục đích công cộng, không phân biệt đối xử và đền bù. Tuy nhiên, không có một sự
thống nhất về tiêu chuẩn đền bù. Xét trên góc độ phát triển, những thông lệ gần đây
trong IIAs cho thấy các nước đang phát triển luôn cố gắng đạt đến sự cân đối giữa
việc đưa ra các hành động bảo hộ hợp lý cho các nhà đầu tư và duy trì quyền điều
tiết của họ.
Câu hỏi 7
Vấn đề chính hiện nay liên quan đến việc chiếm hữu tài sản là gì? Ý nghĩa
cơ bản đối với nước chủ nhà là gì?
3.3 Giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp giữa các nhà đầu tư và nước chủ nhà là vấn đề mấu
chốt trong chính sách FDI. Thông thường, nước chủ nhà đưa ra cơ chế giải quyết
tranh chấp như một phần của pháp luật đất đai. Nhưng, trong một số trường hợp,
các nhà đầu tư có thể thiên về cách tiếp cận quốc tế hóa đối với cơ chế giải quyết
tranh chấp, thường là cơ chế trọng tài giữa nhà đầu tư và nước chủ nhà.
Các chính sách quốc gia về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và
nhà đầu tư là khác nhau (WIR 2003, trang 114):
hợp này thì các biện pháp quốc tế có thể được áp dụng theo các nghĩa vụ quốc tế
của nước chủ nhà trong IIAs.
Giải quyết tranh chấp đóng vai trò quan trọng trong IIAs, nhiều IIAs hiện nay bao
gồm các điều khoản về tranh chấp giữa các quốc gia (có liên quan đến các tranh
chấp vượt quá phạm vi áp dụng của một IIA) và tranh chấp giữa nhà nước và nhà
đầu tư. Các thỏa thuận đều khác nhau ở phạm vi lựa chọn của nhà đầu tư đối với
các phương tiện giải quyết tranh chấp có thể áp dụng nhưng phần nhiều trong số
các thỏa thuận đó hiện nay cho phép sự lựa chọn đơn phương của nhà đầu tư về
cách thức giải quyết tranh chấp khi các biện pháp hòa giải không giúp giải quyết
tranh chấp. Việc đề cập đến giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư
trong IIAs có thể giúp cải thiện môi trường đầu tư thông qua đưa ra một mức độ tái
đảm bảo đối với nhà đầu tư mà theo đó quyền lợi của họ được bảo lưu thông qua
quy trình giải quyết tranh chấp của một bên thứ ba khi biện pháp hòa giải trở nên vô
hiệu. Tuy nhiên, các trường hợp về giải quyết tranh chấp và trọng tài quốc tế có thể
đòi hỏi nhiều hơn về nguồn lực và trình độ chuyên môn, có thể khiến các nước đang
phát triển rơi vào tình thế bất lợi. Hơn thế nữa, xu hướng quốc tế hóa thủ tục giải
quyết tranh chấp cần phải được cân bằng với nguy cơ mất chủ quyền kiểm soát
trong giải quyết tranh chấp. Giải quyết tranh chấp tại địa phương có thể ít được áp
dụng, làm chậm lại quá trình phát triển chuyên môn trong nước trong khi làm gia
tăng chi phí.
Câu hỏi 8
Đưa ra lý do giải thích tại sao nhà đầu tư nước ngoài muốn áp dụng cơ
chế giải quyết tranh chấp quốc tế và một lý do tại sao các nhà đầu tư mong
muốn áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp tại các tòa án trong nước hơn
quốc tế.
3.4 Các yêu cầu hoạt động (performance requirements):
Các yêu cầu hoạt động là những quy định áp dụng đối với các công ty con
nước ngoài nhằm đảm bảo các công ty này hoạt động theo cách có lợi cho nền kinh
tế của nước nhận đầu tư. Những quy định phổ biến nhất liên quan đến tỷ lệ nội địa