Một số đánh giá cơ bản về thực trạng phân công công tác của các thành viên UBND - Pdf 13


Mở đầu
Hà nội- một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước. Ở
đây thường xuyên diễn ra những họat động phức tạp. Chính vì vậy, việc quản lý
đô thị Hà Nội là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Hơn thế nữa, bộ
máy quản lý nhà nước ở đô thị là một tổ chức công quyền của dân, thực hiện
chức năng hành pháp của quyền lực nhà nước, phục tùng sự lãnh đạo của Đảng.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận nghiêm khắc về chất lượng thì họ còn yếu kém về
năng lực hành chính, không được đào tạo theo hướng chính quy nghiệp vụ hành
chính, do đó hiệu quả quản lý trên các lĩnh vực ở đô thị không cao. Chính vì
vậy, công tác tổ chức bộ máy quản lý và phân công công tác cho từng thành viên
trong bộ máy quản lý là một yếu tố quan trọng tạo ra hiệu quả trong việc quản lý
nhà nước ở đô thị. Tuy nhiên, việc phân công công tác cho các thành viên chỉ có
hiệu quả trong một thời điểm nhất định. Khi các điều kiện chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội thay đổi thì cần thiết có sự phân công lại quyền hạn, nhiệm vụ của
các thành viên. Mặt khác, hiện nay với xu hướng hội nhập và mở cửa luôn luôn
có sự tác động của các điều kiện bên ngoài. Vì thế, đòi hỏi cần có sự rà soát
thường xuyên nhiệm vụ quyền hạn của các thành viên nhằm giảm thiểu sự
chồng chéo hoặc trùng sót trong phân công công tác quản lý. Do đó, việc đánh
giá tính chất hợp lý của việc phân công là rất cần thiết để phát huy những điểm
mạnh và khắc phục những điểm yếu trong bộ máy quản lý nhà nước. Từ đó, sẽ
giúp cho bộ máy quản lý nhà nước ở đô thị hoạt động hiệu quả, trơn tru tạo điều
kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội ở đô thị
Với lý do chủ yếu như trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi xin có một số ý
kiến trao đổi về bản quyết định số 99/2004/QĐ_UB về việc phân công công tác
của các thành viên của UBND Thành phố Hà Nội. Chúng tôi cho rằng UBND
Thành phố Hà Nội chỉ là một bộ phận của bộ máy quản lý đô thị Hà Nội nhưng
đây là bộ phận quan trọng nhất. Những nội dung chủ yếu trao đổi ở đây là những
ưu điểm, và những hạn chế của việc phân công và tìm ra phương an khắc phục.
Nội dung của bản báo cáo này gồm 3 phần( không kể phần mở đầu):
1, Một số nội dung cơ bản về quản lý đô thị.

thông Hà Nội đã và đang là một vấn đề bức xúc vì thường xuyên xảy ra ùn tắc,
tai nan…Với những lý do kể trên ta thấy được sự cần thiểt trong việc tổ chức và
phân công công tác cho các thành viên của UBND Thành phố Hà Nội nhằm đưa
thủ đô luôn là lá cờ đầu của cả nước trên tất cả các lĩnh vực.
Khi đã hiểu rõ đặc điểm của Hà Nội và những gì đang diễn ra ở Hà Nội,
những điểm yếu, điểm mạnh của thủ đô sẽ giúp cho các nhà lãnh đạo trong việc
tổ chức bộ máy quản lý sao cho phù hợp và phân công công tác cho các thành
viên một cách hợp lý. Từ đó tránh sự chồng chéo hay trùng sót trong nhiệm vụ
và quyền hạn của các thành viên đồng thời giúp cho bộ máy lãnh đạo của
UBND hoạt động có hiệu quả hơn xứng đáng với nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước
và nhân dân giao phó.
2.Những khái niệm cơ bản: Đô thị, đô thị hóa, quản lý đô thị
a, Khái niệm đô thị
Ở nước ta, theo quy định số 132 /HDBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của hội
đồng bộ trưởng nay la chính phủ quy định đô thị là các điểm dân cư có các yếu
tố cơ bản sau đây:
- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế xã hội của một đô thị nhất định
1
- Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người(đô thị núi có thể thấp hơn )
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 60% tổng số lao động là nơi có sản
xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển
- có cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị
- Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng đô thị phù hợp với đặc điểm
từng đô thị.
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao
động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành
hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của
một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong
huyện.

định một điểm dân cư đô thị cũng như tính toán thống kê về dân số đô thị trong
cả nước. Tính chất và lối sống đô thị ở đây còn chụi ảnh hưởng nhiều của lối
sống nông thôn, song vị trí của nó là điểm đô thị phát triển.
Xét đến một khái niệm khác về một đô thị thì dự hiện diện của đô thị liên
quan với các hiện tượng xã hội và kinh tế, những động lực của loài người. Cho
nên nghiên cứu về đô thị không chỉ là nghiên cứu về cách thứcvà phương pháp
xây dựng nên nó, dù rằng thoạt nhìn thì đó là điều đập vào mắt ta trước tiên. Cần
có sự tham gia và đóng góp của hàng loạt các chuyên gia ở nhiều bộ môn khác
nhau: kinh tế học, địa lý học, nhân học, xã hội học, biểu tượng học, kiến trúc,
xây dựng.
b. Khái niệm đô thị hóa.
Đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau, vì vậy có thể nêu khái niệm dưới nhiều góc độ.
Trên quan điểm một vùng: đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển
các hìn thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị. Trong ngôn ngữ báo chí hàng
ngày, chúng ta thường gặp các cụm từ tốc độ đô thị hóa, trình độ đô thị hóa
nhằm mô tả diễn biến, tình trạng của quá trình.Tốc độ đô thị hóa có thể có hai
nghĩa. Trên góc độ thống kê người ta thường so sánh quy mô đô thị về mặt dân
số, kinh tế giữa các thời kỳ để xác định quy mô tăng thêm trong một thời kỳ
nhất định. Trên góc độ kinh tế- xã hội ta có thể hiểu nó như là tỷ lệ dân số đô thị
trong tổng dân số ở một thời điểm nhất định.
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hóa là một quá trình biến đổi về
sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư nhunữg vùng không phải
đô thị thành đô thị.
Đô thị hóa là sự quá độ từ hình thức sống nông thông lên hình thức sống đô
thị. Khi kết thúc thời kì quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị hóa cũng
thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới… đặc biệt là thay đổi cơ
cấu dân cư.
c. Khái niệm quản lý đô thị.
Quản lý đô thị là quá trình tác động bằng các cơ chế, chính sách của các

đưa ra năm 1945. Mô hình chủ yếu tính đến các dạng đô thị mới phát sinh do sự
phát triển của phương tiện giao thông .
Đặc điểm của mô hình là linh họat và có tính đến vị trí địa hình .Xu
hướng công nghiệp sử dụng vùng có địa thế bằng phẳng kết hợp với phong cảnh
đẹp, không gian thoáng rộn. Cơ sở xây dụng mô hình là thành phố có cơ cấu
kiểu tế bào, cho phép xây dựng nhiều trung tâm . Trong mô hình :1) Trung
tâm ;2)Khu công nghiệp nhẹ ;3) Khu dân cư hỗn hợp ; 4)Khu dân cư có thu
nhập trung bình ; 5)Khu dân cư có thu nhập dưới trung bình ; 6) Khu công
nghiệp nặng; 7)Khu thương mại ngoại thành ; 8)Khu ở ngoại thành chất lượng
cao ; 9)Khu công nghiệp ngoại thành.
- Mô hình phát triển theo khu vực mô hình do chuyên gia địa chính Homer
Hoyt đưa ra năm 1939. Mô hình chủ yếu tính đến các dạng đô thị phát triển với
sự hiện đại hóa của các phương tiện giao thông và nhiều thành phố phát triển
theo kiểu khu phố. Đặc điểm của mô hình :
1) Từ trung tâm thành phố được mở rộng.
2) Thành phố bao gồm các khu vực
3) Sự tăng trưởng hướng vào vùng còn trống
4) Sự phát triển nhanh theo các trục giao thông làm cho thành phố có
hình sao.
b.Các mô hình quản lý đô thị.
-Mô hình quản lí đô thị lấy quản lí xã hội làm chủ đạo
1
+ Đặc trưng của mô hình dặt trọng tâm quản lý đô thị vào quản lý môi
trường pháp lý và các vấn đề đối ngoại: chính quyền đô thị tạo hành lang pháp
lý thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động tăng khả năng cạnh tranh của các
đô thị, thu hut các nguồn lực từ bên ngoại như vốn đầu tư, lao động kỹ thuật, …
Quản lý gian tiếp các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
tổ chức, cá nhân: thông qua sự vận động của thị trường, chính quyền đô thị vận
dụng pháp luật và các công cụ kinh tế để điều tiết hoạt động sản xuất của các
chủ thể của nền kinh tế đô thị. Các chính sách thuế, giá cả, lãi suât, đầu tư là

hoàn chỉnh.
 Cơ sở hạ tầng thấp kém không đồng bộ.
1
+ Ưu điểm của mô hình: Tạo điều kiện phát triển đô thị có trọng tâm
trong điều kiện tài chính hạn chế, phân tán nguồn vốn
+ Nhược điểm của mô hình:
 Môi trường pháp lý bị xem nhẹ, các doanh nghiệp nhà nước kém chủ
động, tệ tham nhũng lãng phí xuất hiện.
 Quản lý bị chồng chéo thông tin bị sai lệch do qua nhiều lớp trung gian.
 Bộ máy quản lý cồng kềnh kếm hiệu qủa.
-Mô hình quản lý đô thị hỗn hợp
+Đặc trưng của mô hình:
 Quản lý kinh tế và xã hội được coi trọng như nhau
 Chính quyền đô thị quản lý kinh tế thông qua các sở, ban chuyên ngành:
Kế hoạch, kết hợp thị trường tạo nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước(định hướng xã hội chủ nghĩa)
 Điều tiết gián tiếp các doanh nghiệp không phải Nhà nước thông qua công
cụ tài chính và hoạt động của thị trường.
 Tăng cường hệ thông pháp lý: Từng bước pháp luật hóa các hoạt động
kinh tế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
phát triển kinh tế nhiều thành phần.
+Điều kiện vận dụng:
 Áp dụng cho những nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam
 Hệ thống đô thị có cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh
 Nền kinh tế chưa phát triển, dân trí chưa cao
 Hệ thống tài chính ngân hàng, thông tin liên lạc chưa hiện đại
+Ưu điểm của mô hình:
 Ổn định kinh tế- xã hội, không gây xáo trộn lớn. Nhờ có chủ trương
cổ phần những doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả mà
chính quyền đô thị chuyển dần từ quản lý kinh tế sang quản lý xã

pháp phát triển kinh tế khai thác hết tiềm năng vế lao động lợi thế kinh tế chính
trị của các đô thị
c.Quản lý dân số, lao động và việc làm.
Dân số đô thị luôn là vấn đề cần quan tâm tren các góc độ: quy mô, cơ cấu,
chất lượng. Quy mô dân số có liên quan đến vấn đề về môi trường, cung cấp
dịch vụ, nhà ở…quy mô dân số có liên quan đến vấn đề cung cấp nguôn lao
động cho đô thị. Đô thị muốn có nguồn lao động dồi dào chất lượng cao nhưng
không muốn quá tải về dân số, chính vì vậy người ta cố gắng tìm kiếm một quy
mô dân số tối ưu cho mỗi đô thị.
d.Quản lý hệ thống cơ sở hạ tầng.
Việc cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng là một trong những chức năng
nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước. Các vấn đề chính trong việc quản lý các
dịch vụ cơ sở hạ tầng đô thị trong một nền kinh tế thị trường là:
- Xác định những thiếu hụt của hệ thống cơ sở hạ tầng
- Quy hoạch cơ sở hạ tầng
- Kỹ thuật , công nghệ :chọn công nghệ
- Chiến lược vận hành và bảo dưỡng
- Tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật và lưu trữ các hồ sơ
e. Giao thông và thông tin đô thị.
Hệ thống giao thông và thông tin đô thị là huyết quản và mạch máu của các
đô thị. Không có hệ thống giao thong và thông tin hiệu quả, các thành phố sẽ
dần mất đi tính cạnh tranh và sự thu hút đầu tư. Sự hiệu quả của quản lý dịch vụ
giao thông và thông tin đô thị sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
1
o Hệ thống giao thông
o Dịch vụ giao thông
o Cơ sở hạ tầng của hệ thồng thông tin liên lạc
o Quản lý môi trường đô thị
f.Quản lý môi trường xây dựng.
Các công trình chiếm một nửa đầu tư cơ bản trong thành phố. Sự quản lý

Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về đô thị cũng phải tuan theo những
nguyên tắc chung của lý thuyết khoa học tổ chức sau đây:
(1) Phân nhóm tổ chức theo chức năng
(2) Phân cáp theo chức năng kết hợp với phân cấp quản lý
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status