TIỂU LUẬN mối QUAN hệ GIỮA dân tộc và GIAI cấp TRONG CƯƠNG LĨNH đầu TIÊN của ĐẢNG GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG CÔNG CUỘC đổi mới HIỆN NAY - Pdf 38

1

1

MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP
TRONG CƯƠNG LĨNH ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG - GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY
Cách mạng Việt Nam, từ khi Đảng ra đời 3/2/1930, Đảng đã lãnh đạo việc giải
quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp được thể hiện ở “Chính
cương, sách lược vắn tắt”. Do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo thông qua Hội nghị
thành lập Đảng ngày 3/2/1930 và thể hiện trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng
giành độc lập dân tộc. Nội dung cơ bản của Cương lĩnh sớm bao quát những vấn đề có
ý nghĩa định hướng quan trọng của cách mạng Việt Nam: con đường cách mạng Việt
Nam phải trải qua hai giai đoạn, trước hết làm cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi
rồi tiến thẳng lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa; nhiệm vụ mục tiêu của cách mạng
tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc phong kiến giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất
cho dân cày, đồng thời sớm hình thành tư tưởng phân hoá giai cấp địa chủ phong kiến,
tập trung đánh đế quốc và việt gian tay sai, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng
đầu; lực lượng cách mạng lấy công nông làm lực lượng chính do giai cấp công nhân
lãnh đạo, mở rộng lực lượng đoàn kết dân tộc; sử dụng sức mạnh của quần chúng lập
đổ ách thống trị của đế quốc tay sai lập nên chính phủ công nông; Cách mạng Việt Nam
là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới; sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, những yêu cầu
về xây dựng Đảng vững mạnh để lãnh đạo cách mạng thắng lợi.
Chứng tỏ Đảng ta và đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trên lập
trường của giai cấp công nhân. Vấn đề này đã trở thành tư tưởng cơ bản, sợi chỉ đỏ xuyên
suốt toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, là bài học kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình
lãnh đạo cách mạng, cũng như trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Chỉ ra nguồn gốc thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước đây, mà còn chỉ ra những
yếu tố bảo đảm tính đúng đắn của đường lối và sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong

dân chủ vừa là nhiệm vụ dân tộc, đấu tranh giành độc lập không tách rời đấu tranh giành tự
do dân chủ. Ở nước ta độc lập dân tộc và tự do dân chủ đều là khát vọng của giai cấp công
nhân và của toàn dân tộc. Vì khi Pháp xâm lược Việt Nam, chúng tìm thấy chỗ dựa để duy
trì sự thống trị của chúng trong xã hội là giai cấp địa chủ phong kiến, ngược lại giai cấp địa
chủ phong kiến cũng tìm thấy và can tâm làm tay sai cho Pháp để làm chỗ dựa cho sự tồn
tại của giai cấp mình. Chính vì vậy, khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Hồ Chủ tịch khẳng
định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không còn con đường nào khác con đường
cách mạng vô sản”, chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả
hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế
giới”. Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước cho các dân tộc thuộc
địa. Người nói: “ Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây
là con đường giải phóng chúng ta”, phải đi theo Cách mạng Tháng Mười Nga: “chỉ có chủ


3

3

nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc
và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bắc ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất”, việc làm cho mọi
người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới
chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường
dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau” 1. Các
quan điểm đó là bước chuẩn bị cần thiết cho việc đề ra đường lối quan điểm của Đảng ta
và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến Hội nghị thành lập Đảng ngày 3/2/1930 trong Chính
cương vắn tắt Người khẳng định tư tưởng của mình thông qua “Chủ trương làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” 2. Đây là luận điểm cơ
bản đầu tiên được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đặt nền móng cho việc giải
quyết mối quan hệ vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp. Ở nước ta một nước thuộc địa nửa
phong kiến, nền kinh tế chưa phát triển, nông dân chiếm hơn 90% dân số, giai cấp tư sản

nhận thức và thực hiện một cách đầy đủ. Mặt khác, khi Đảng ta có được nhận thức đó còn
do những đòi hỏi khách quan của tình hình thực tiễn cách mạng đặt ra.
Để giải quyết vấn đề dân tộc, giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong
Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (tuy là vắn tắt nhưng đã chứa đựng đầy đủ các nội
dung của đường lối cách mạng. Vì vậy được xác định là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng) và
Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 xác định nhiệm vụ đánh đế quốc phong kiến đặt ở
vị trí cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền “...Thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để,
một mặt nữa là đấu tranh để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn
toàn độc lập”3, lập ra Chính phủ công nông, điều đó chứng tỏ Hồ Chí Minh và Đảng ta đã
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ
giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp công nhân.
Nếu như, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng và Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930
của Đảng nhất trí coi đế quốc và phong kiến là hai đối tượng mà cách mạng tư sản dân
quyền đánh đổ mới có thể giành được độc lập dân tộc, thiết lập được chính quyền của số
đông quần chúng là công nông hoặc công - nông - binh, xây dựng đội bảo vệ chính quyền
cách mạng, thực hiện quyền dân chủ cơ bản của nhân dân...thì cũng bắt đầu bộc lộ rõ
những quan điểm khác biệt về vị trí của hai nhiệm vụ đánh đế quốc và đánh phong kiến,
giành độc lập dân tộc, ruộng đất dân cày, giành quyền tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nội
dung trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cho rằng: Đảng coi nhiệm vụ chống đế quốc là
chính yếu nhất và huy động tối đa để thực hiện. Trong khi đó, Luận cương chính trị của
Đảng trình bày hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến ở tầm mức quan trọng
ngang nhau và đặt yêu cầu “thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để” mới phát huy tác
dụng tích cực mạnh mẽ tới nhiệm vụ chống đế quốc.”Có phá tan chế độ phong kiến mới
đánh đổ, được đế quốc chủ nghĩa” 4 về mặt chiến lược, Đảng ta xác định; nước ta là nước
nông nghiệp, nông dân chiếm hơn 90% dân số chủ nghĩa đế quốc dựa vào chế độ phong
kiến để bóc lột nhân dân, chủ yếu là bóc lột nông dân. Nguyện vọng thiết tha và trực tiếp
3
4

ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H. 1988, tr. 94.

ích dân tộc. Vấn đề dân tộc gắn liền với giai cấp công nhân, với xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta cũng nằm trong xu hướng đó.
Quán triệt và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về địa vị lịch sử của
giai cấp công nhân Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải
phóng được dân tộc, cả hai luận giải này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và
của cách mạng thế giới”. Nhận rõ nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước chống
Pháp dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu, các lãnh tụ nông dân, biết rõ những hạn chế của các
cuộc cách mạng tư sản theo khuynh hướng cải lương hay theo khuynh hướng bạo động,


6

6

tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngay từ khi mới ra đời (3/2/1930) trong Cương
lĩnh đầu tiên Đảng ta đã xác định được con đường của cách mạng Việt Nam là phải trải qua
hai giai đoạn: Trước hết là làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng sau đó
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Luận điểm này được Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930
phát triển bổ sung là: Cách mạng Việt Nam làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau
đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, mục đích cuối cùng là thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở nước
ta. Với đường lối chiến lược đó, Đảng đã nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về tính
liên tục và tính giai đoạn của cách mạng, khéo giải quyết mối quan hệ giữa hai giai đoạn
cách mạng. Ở giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, trong khi tập trung sức người, sức của
để hoàn thành nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến, Đảng vẫn không quên tuyên
truyền và chuẩn bị mọi mặt hướng đi lên chủ nghĩa xã hội, khi có điều kiện Đảng bắt tay
ngay xây dựng một số cơ sở kinh tế vừa phục vụ giai đoạn trước vừa gây mầm mống
thành phần kinh tế chủ nghĩa xã hội thuộc giai đoạn sau. Phương hướng đi lên chủ
nghĩa xã hội tuy là giai đoạn sau làm trong tương lai, nhưng việc tuyên truyền tư
tưởng đó có tác dụng làm tăng thêm sức mạnh cho hiện tại vì nó đáp ứng từng bước
yêu cầu của đông đảo quần chúng là kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng giai

quốc chống phong kiến thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng. Đây là nhiệm vụ
cơ bản của cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ đặc điểm chế độ thuộc địa nửa phong kiến,
Cương lĩnh đã phân tích mối quan hệ gắn bó của hai nhiệm vụ đó là: “Có đánh đổ đế quốc
chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa thắng lợi, mà nó
phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa”. Sự kết hợp hai nhiệm
vụ chống đế quốc và phong kiến đã khẳng định tính toàn diện, triệt để của đường lối cách
mạng Việt Nam. Những nhiệm vụ đó biểu hiện sinh động của việc giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Đó chính là giải quyết mối
quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong đường lối của Đảng ta
và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những dự kiến của Đảng ta đã trở thành hiện thực lịch sử:
Năm 1939, sau khi Đảng đánh giá sự chuyển biến của tình hình thế giới và khu vực Châu
Á Thái Bình Dương và ở Đông Dương, chỉ ra mâu thuẫn gay gắt giữa đế quốc Pháp với
các dân tộc ở Đông Dương, khẳng định chuyển hướng chiến lược và đặt ra nhiều quyết
sách hướng tới thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Trung ương Đảng nêu rõ trách
nhiệm quan trọng nhất của toàn Đảng lúc này là phải đứng trên lập trường cách mạng giải
phóng dân tộc, đặt quyền lợi giải phóng dân tộc ở vị trí cao nhất, lấy giải phóng dân tộc
khỏi gông cùm là mục đích cấp bách, lớn lao nhất mà mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn
dân kể cả cách mạng ruộng đất đều phục vụ mục đích đó. Vì thế lúc này cách mạng ruộng
đất chỉ thực hiện trong giới hạn tịch thu ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi
ích dân tộc, chia cho dân cày. Hay nói cách khác là tạm gác khẩu hiệu “ruộng đất cho dân
cày” để tập hợp rộng rãi nhất lực lượng toàn dân, lôi kéo những địa chủ có tinh thần yêu

5 Văn

kiện Đảng, Tập 1, (1930 - 1945) Bài nghiên cứu LSĐ TW - 1977 tr. 67, 68.


8

8

đất, mà tập hợp lực lượng toàn dân tộc thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc kể cả những
6 Văn

kiện Đảng tập III (1930 - 1945), Ban Nghiên cứu LSĐ Trương ương 4-1977, tr. 196.


9

9

người “còn ít nhiều tinh thần chống đế quốc” trong giai cấp địa chủ và tư bản dân tộc.
Đảng đề ra chính sách ruộng đất đó là: Tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội
quyền lợi của dân tộc và ruộng đất công chia cho dân nghèo, chống tô cao, lặng lãi...Mặt
khác đề ra những chính sách trên, Đảng ta còn dựa trên cơ sở phân tích thái độ và tinh thần
cách mạng của các giai cấp trong xã hội, trước hết là giai cấp nông dân, cũng như mọi
người Việt Nam luôn mang trong mình truyền thống của một dân tộc yêu nước luôn đấu
tranh cho lý tưởng độc lập tự do cho dân tộc. Vì vậy, Đảng ta khẳng định lúc này vấn đề
ruộng đất - vấn đề người cày có ruộng chỉ là phương hướng cần đạt tới, không phải là mục
tiêu trực tiếp của nông dân Việt Nam. Động cơ chủ yếu thôi thúc họ đấu tranh trước hết là
lý tưởng độc lập dân tộc, là: truyền thống yêu nước của mỗi con người Việt Nam. Hơn nữa
trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, hơn ai hết quần chúng nhân dân Việt Nam là
người được trực tiếp hưởng nhiều quyền lợi to tát nhất và trong đó có quyền lợi thiết thân
của họ như: giải phóng họ khỏi áp bức bóc lột nặng nề nhất, thủ tiêu mọi thứ thuế vô lý,
được chia lại công điền một cách công bằng.
Mặc dù vậy, chủ trương của Đảng còn ý thức tôn trọng quyền tự quyết của các dân
tộc. Xuất phát từ luận điểm: Mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ, dù trình độ phát triển đến đâu thì
đều có quyền tự do lựa chọn con đường phát triển, chế độ chính trị cũng như quyền quyết
định vận mệnh dân tộc mình mà không chịu sự áp đặt, can thiệp bất kỳ một thế lực nào từ
bên ngoài. Đồng thời tự nhận thức cuả Đảng về vị trí của vấn đề dân tộc được xác định
trong Hội nghị Trung ương 6 (11/1939): Cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Dương nói

giải quyết mối quan hệ ba nước trong giai đoạn lịch sử tiếp theo, nhằm giữ vững củng cố
mối quan hệ truyền thống giữa ba nước.
Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng là một quyết định sáng suốt,
phản ánh một nội dung giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ đánh đế quốc và đánh phong
kiến của cách mạng Việt Nam; thể hiện sự trưởng thành vượt bậc mà Đảng ta về lãnh đạo
chính trị, mà cụ thể là năng lực xác định chính xác: Mục tiêu, nhiệm vụ, kẻ thù chủ yếu của
cách mạng, thể hiện tài nghệ của Đảng trong: Tập hợp lực lượng, giải quyết mối quan hệ
giữa thực hiện mục tiêu chủ yếu trước mắt với mục tiêu cơ bản lâu dài, giữa thực hiện
nhiệm vụ mục tiêu chủ yếu với nhiệm vụ mục tiêu thứ yếu trong từng thời kỳ cách mạng.
Mặt khác, chủ trương còn phản ánh sự vận dụng trung thành và phát triển sáng tạo lý luận
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta mà cơ sở nền tảng là Cương
lĩnh đầu tiên của Đảng, về việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và vấn đề giai
cấp trong cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Vượt qua những sai lầm
ẫu trĩ “tả” khuynh hướng giáo điều trong những năm đầu thành lập của Đảng ta.
Tuy nhiên, có đường lối đúng chưa hẳn đã có thắng lợi của cách mạng, mà muốn đưa
cách mạng đến hoàn toàn thắng lợi hoàn toàn đòi hỏi Đảng phải có tài nghệ, sáng tạo trong
tổ chức thực hiện cách mạng phù hợp với từng giai đoạn nhiệm vụ cách mạng cụ thể.


11

11

Từ khi Đảng ra đời, lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền cho đến nay, không còn
như trước nữa, lịch sử lại đặt ra trước Đảng và dân tộc ta nhiều nhiệm vụ và thách thức
mới trên con đường phát triển của dân tộc. Năm xưa đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập
dân tộc là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Ngày nay chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh đổi
mới đất nước phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã thu được nhiều
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta đang
đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp,

đổ vỡ.
Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho công cuộc đổi mới đúng
hướng, phải tăng cường nắm vững bản chất cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm bổ sung hoàn chỉnh
lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Coi đây là mục tiêu số một trong công tác lý
luận của Đảng hiện nay, tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối chỉ đạo sự
nghiệp đổi mới đi đúng hướng. Thực hiện những yêu cầu trên còn là sự phản ánh yêu cầu
thực hiện nguyên tắc, kinh nghiệm chỉ đạo công cuộc đổi mới và những kinh nghiệm lớn
mà Đại hội X của Đảng đã tổng kết qua 20 năm đổi mới. Đồng thời trong giai đoạn hiện
nay, đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân còn phải nêu cao tính Đảng, tính chiến
đấu, làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc. Đặc biệt trước những luận điệu: “Để khắc phục mà trước hết là
nguy cơ tham nhũng của một số cán bộ đảng viên có chức, có quyền của Đảng, Đảng phải
trả lại quyền lãnh đạo Nhà nước cho nhân dân” hoặc “để phát triển cách mạng xã hội chủ
nghĩa phải từ bỏ con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Thực chất đây là những quan
điểm phản động muốn tách vấn đề dân tộc ra khỏi giai cấp, tách rời sự lãnh đạo của Đảng
với toàn dân tộc nhằm đi đến thủ tiêu chủ nghĩa xã hội, ca ngợi chủ nghĩa tư bản một chiều
chỉ thấy hình thức bên ngoài, không thấy hết được khả năng thắng lợi to lớn của toàn
Đảng, toàn quân ta trong sự nghiệp đổi mới, bản chất ưu việt của chế độ mới, chế độ xã hội
chủ nghĩa. Cố tình xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân của Đảng,
cũng như bản chất cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Mặt khác phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân giương cao ngọn cờ
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thực hiện hợp tác và đấu tranh để hội nhập với
thế giới ngày nay nhằm phát triển đất nước, còn đòi hỏi phải trên cơ sở giữ vững mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân trong xã hội khi tham gia
hoạt động đối ngoại trên mọi lĩnh vực. Cần phải hiểu đúng tính chất của nội dung vấn đề
dân tộc, từ đó làm cơ sở cho việc dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
trong thời kỳ mới. Nội dung cần quán triệt là:


13

mà trực tiếp là đội tiền phong phải có các hành thức tổ chức vận động quần chúng trên cơ
sở căn cứ vào đặc điểm của từng đối tượng và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Chủ yếu của
các mạng trong từng thời kỳ đó”.


14

14

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay cho thấy: khi nào có
tổ chức hình thức tập hợp quần chúng phù hợp, thì khi đó Đảng không chỉ tập hợp được
đông đảo quần chúng cho cách mạng mà còn thực hiện thắng lợi một cách nhanh chóng
mọi nhiệm vụ cách mạng đề ra.
Ba là, luôn chăm xây dựng Đảng vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị
trong từng thời kỳ cách mạng.
Luôn chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh, là một trong những vấn đề cơ bản mang
tính nguyên tắc của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng.
Hiện nay cách mạng nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới công tác xây dựng Đảng phải
đặc biệt coi trọng, coi đó là nhiệm vụ then chốt và cấp bách có ý nghĩa quyết định đối
với vận mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Bởi lẽ, Đảng ta là một Đảng cầm
quyền. Đòi hỏi Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn làm cho Đảng trong sạch đáp ứng
yêu cầu lãnh đạo nhiệm vụ mới. Trước hết Đảng phải nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng, Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta thực hiện sự nghiệp đổi
mới với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đồng thời
lãnh đạo toàn dân, toàn quân đoàn kết đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn chống
phá của các thế lực thù địch, phản động, mà cụ thể là âm mưu “Diễn biến hoà bình” bảo
vệ vững chắc độc lập dân tộc và thành tựu của chủ nghĩa xã hội.
Mối quan hệ dân tộc, giai cấp; là tất yếu khách quan trong cách mạng vô sản. Giải
quyết nó là một đòi hỏi khách quan mang tính nguyên tắc đối với mọi Đảng Cộng sản




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status