các quan niệm về dân tộc và giai cấp - Pdf 10



LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội loài người luôn tồn tại rất nhiều dạng quan hệ giữa người với người.Quan
hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, quan hệ giữa giai cấp và dân
tộc Trong đó quan hệ giữa dân tộc và giai cấp là mối quan hệ cơ bản và có tác
động mạnh mẽ, trực tiếp tới mỗi thành viên nói riêng và của toàn xã hội nói
chung.Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp,nghiên cứu mối quan
hệ giữa hai vấn đề dân tộc và giai cấp là rất cần thiết.C.Mac,V.Lênin và chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu vấn đề giai cấp,dân tộc và mối quan hệ giữa chúng rất
chi tiết,khoa học,có hệ thống và được ứng dụng vào thực tiễn của công cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã cho chúng ta thấy rằng,
khi nào và ở đâu, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc không được kết hợp một cách
đúng đắn, quá trình xử lý và vận dụng vào thực tiễn cứng nhắc, giáo điều và xem
trọng khác nhau đã làm cho cách mạng rơi vào hoàn cảnh khó khăn và tổn thất
nặng nề.Những bài học xương máu và thiết thực đó cần được gi nhận và vận dụng
vào việc xem xét các vấn đề dân tộc và giai cấp trong mối quan hệ biện chứng với
nhau trong công cuộc xây dựng va bảo vệ đất nước nhất là trong bối cảnh toàn cầu
hóa,hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều khó khăn và thử thách.1
I.Cỏc quan nim v dõn tc v giai cp
1.Quan niờm v giai cp
Quan nim trc Mac cho rng giai cp l mt tp hp nhng ngi cú cựng
mt chc nng xó hi,cựng mt li sng hoc mc sng,cựng mt a v v uy tớn
xó hi.Quan nim ú ch l m h, khụng i vo c trng c bn ca xó hi.Cỏc
lý thuyt ú trỏnh ng n vn c bn c bit l cỏc vn quan h sn xut
v t liu sn xut.
Quan nim ca ch ngha Mac-Lờnin: Trong tỏc phm Sỏng kin v i,
Lờnin nh ngha: Ngi ta gi giai cp, nhng tp on to ln gm nhng

mun liờn hip vi nhau da trờn nguyờn tc bỡnh ng nhm cú s giao lu kinh
t v vn hoỏ trong xó hi t bn xut hin nhu cu xoỏ b hng ro ngn cỏch
gia cỏc dõn tc. iu ny to ra s t ch,phn do nhng tinh hoa, nhng giai tr
ca nhng dõn tc, b sung cho nhau.Nhng giỏi tr chung hũa quyn ú khụng
xúa nhũa nhng c thự dõn tc m ngc li,nú m bo lu,gi gỡn, phỏt huy
nhng tinh hoa, bn sc dõn tc.
Ch ngha Mỏc-Lờnin cho rng, dõn tc l sn phm ca quỏ trỡnh phỏt trin lõu
di ca lch s. Trc dõn tc l cỏc hỡnh thc cng ng tin dõn tc nh th tc,
b lc, b tc. S phỏt trin ca ch ngha t bn ó dn ti s ra i v phỏt trin
ca cỏc nh nc dõn tc t bn ch ngha. Khi ch ngha t bn chuyn sang giai
on quc ch ngha, cỏc quc thc hin chớnh sỏch v trang xõm lc, cp
búc, nụ dch cỏc nc nhc tiu, vn dõn tc tr nờn gay gt v t ú xut hin
vn dõn tc v thuc a. Sau cỏch mng Thỏng Mi Nga v s ra i h thng
xó hi ch ngha th gii, phong tro gii phúng dõn tc phỏt trin mnh, dn ti s
tan ró ca h thng thuc a ca ch ngha quc v xut hin nhiu quc gia
dõn tc c lp tr tui.
Trong tng H Chớ Minh vn dõn tc c th hin tp trung ch yu cỏc
ni dung v dõn tc trong hon cnh cỏc nc thuc a,quyn thiờng liờng dõn
tc,quan h gia dõn tc v giai cp,c lp dõn tc gn lin vi ch ngha xó
hi,ch ngha yờu nc gn vi ch ngha quc t cng sn.

Nu nh C.Mac bn v cuc u tranh chng ch ngha t bn, V.I.Lờnin bn
nhiu v cuc u tranh chng ch ngha quc,thi H Chi Minh tp trung bn
v cuc u tranh chng ch ngha thc dõn gii phúng dõn tc xỏc lp quyn t
quyt dõn tc v xõy dng mt nh nc c lp.Con ng phỏt trin ca dõn tc
ỳng n l s cn thit gii phúng dõn tc.H Chớ Minh ó vỏch ra rừ trong
lun cng chớnh tr u tiờn ca ng Cng sn Vit Nam,H Chớ Minh vit:
lm t sn dõn quyn cỏch mng v th a cỏch mng i ti xó hi cng sn.
3
Về quyền dân tộc, Hồ Chí Minh cho rằng tất cả các dân tộc trên thế giới đều bình

không chỉ được tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” của Việt Nam mà còn
là “Người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong
thế kỷ 20”.
Độc lập dân tộc, theo Hồ Chí Minh, là phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngay từ
khi tiếp cận Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh đã
hình thành đường lối cứu nước: giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô
4
sản, gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc
và CNXH. Người nói: “ Cả hai cuộc giải phóng này (dân tộc và giai cấp) chỉ có thể
là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới.” Tiếp đó, ngay
trong Chánh cương, Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng
cộng sảnViệt Nam tháng 2/1930, Hồ Chí Minh đã xác định Cách mạng Việt Nam
trải qua hai giai đoạn: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng (tức
cách mạng dân tộc-dân chủ) để đi tới xã hội cộng sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh về
sự gắn bó thống nhất giữa độc lập dân tộc và CNXH vừa phản ảnh quy luật khách
quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản
ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải
phóng giai cấp và giải phóng con người. Xoá bỏ ách áp bức dân tộc mà không xoá
bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được giải
phóng. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do, thì
độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì.” Do đó giành được độc lập rồi, thì phải tiến lên
CNXH, vì mục tiêu của CNXH là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Như vậy, ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã phát triển
thành chủ nghĩa yêu nước hiện đại, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình mà còn đấu
tranh cho độc lập dân tộc của tất cả các dân tộc bị áp bức. Ở Người, chủ nghĩa yêu
nước chân chính luôn gắn liền với chủ nghĩa quốc tế cao cả, trong sáng. Người nói:
“ Chúng ta phải tranh đấu cho tự do độc lập của các dân tộc khác như là tranh đấu
cho dân tộc ta vậy.” Chủ trương “ giúp bạn là tự giúp mình”, Hồ Chí Minh luôn
nêu cao tinh thần dân tộc tự quyết song không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của

Chí Minh thể hiện: khặng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và lãnh đạo
duy nhấy của Đảng Cộng sản trong quá trình cách mạng Việt Nam;chủ trương đại
đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công nông,nông dân và tầng lớp
tri thức dưới sự lãnh đạo của đảng;sự dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để
chống lại đảo lực phản cách mạng của kẻ thù;thiết lập nhà nước của dân,do dân và
vì dân;gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai,giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; độc lập dân tộc gắn liền
với chủ ghĩa xã hội.Khác với các cong đường cứu nước của ông cha,gắn độc lập
dân tộc với chủ nghĩa phong kiến,con đường cứu nước của Hồ Chí Minh là độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Năm 1920, ngay khi quyết định phương hướng giải phóng và phát triển dân tộc
theo con đường của cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó thongsw
nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội.
Năm 1960, Người nói: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải
phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách
nô lệ”.
Tư tượng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải
phóng dân tộc trong thờ đại chủ nghĩa đế quốc,vừa phản ánh moois quan hệ khăng
khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải
phóng con người.chỉ xóa bỏ tình trạng ap bức bóc lột; thiết lập một nhà nước thực
6
sự của dân, do dân, vì dân, mới đảm bảo cho người lao động có quyền làm chủ,mới
thực hiện được sự phát triển hài hoà giữa cá nhân với xã hội,giữa độc lập dân tộc
với tự do và hạnh phúc con người.Hồ Chí Minh nói: “nước được độc lập mà dân
không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chặng có nghĩa lý gì”.Do đó,
sau khi giành độc lập, phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,lam cho dân giàu,
nước mạnh, mọi người được sung sướng, tự do.
Người khặng định: “yêu tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa
xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi một no ấm thêm, tổ

học thuyết Mac-LêNin. Luận điểm về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề
giai cấp là một trong những sáng tạo đó.
Tiếp thu chủ nghĩa Mac-Lênin trên nền tảng truyền thống yêu nước và nhân ái của
dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh có quan điểm riêng, độc đáo về vấn đề giai cấp và
vấn đề dân tộc. Người cho rằng: Phải kết hợp và giải quyết hài hòa vấn đề dân tộc
và vấn đề giai cấp, song phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết và trước hết.
Luận điểm này của Người xuất phát từ cơ sở thực tiễn của phương Đông và Việt
Nam:
Năm 1924, trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Người cho rằng: "Mac
đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch
sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại.
Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Marx bằng
cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Marx ở thời mình không thể có được". Và
người đề nghị: "Xem xét lại chủ nghĩa Marx về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó
bằng dân tộc học phương Đông". Ở phương Đông, "Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra
không giống như ở phương Tây, bởi vì xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung
Quốc, xét về mặt cấu trúc kinh tế không giống như xã hội phương Tây thời trung
cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở
đây…".
Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng Việt Nam là một nước thuộc địa nửa
phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc và tay sai nổi
trội hơn mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến, giữa tư sản với
vô sản. Do đó, không phải giải quyết vấn đề giai cấp rồi mới giải quyết vấn đề dân
tộc như ở phương Tây. Ngược lại chỉ có thể giải quyết vấn đề dân tộc mới giải
phóng được giai cấp. Quyền lợi dân tộc và giai cấp là thống nhất, quyền lợi dân tộc
không còn, thì quyền lợi mỗi giai cấp, mỗi bộ phận trong dân tộc cũng không thể
thực hiện được. Quan điểm này sau này thể hiện rõ ở Nghị quyết Hội nghị Trung
ương VIII, năm 1941 do Người chủ trì: "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai
cấp phải đặt dưới sự tồn vong sinh tử của quốc gia dân tộc. Trong lúc này nếu
không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được tự do độc lập

sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý luận.
LêNin cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chính quốc sẽ không giành
được thắng lợi, nếu nó không liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp
bức. Từ đó Người cùng với Quốc tế cộng sản bổ sung khẩu hiệu nêu trong Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn
kết lại."
Sau khi Lênin mất, Ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản một thời gian dài đã nhấn
mạnh vấn đề giai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc, vì vậy không mấy quan tâm đến chủ
9
nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc của các nước thuộc địa, thậm chí còn coi đó là
biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, trái với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Tóm lại, Mac -Ăngghen, Lênin đã nêu ra những quan điểm cơ bản về mối quan
hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu, mục
tiêu của cách mạng vô sản châu Âu, các ông vẫn tập trung nhiều hơn vào vấn đề
giai cấp, vẫn "đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân
tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản".

Sử vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin trong quá trình giải
quyết vấn đề dân tộc ,vấn đề giai cấp và mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề
giai cấp trên quá trình nghiên cứu thực tiễn trong các xã hội khác nhau đặc biệt là ở
các nước thuộc điạ. Nó có tác dụng lớn lao đối với việc tập hợp lực lượng vào sự
nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam cũng như ở các nước thuộc địa nói chung.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Người khẳng định, phải đi từ giải
phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp; dân tộc không thoát khỏi kiếp ngựa trâu thì
ngàn năm giai cấp cũng không được giải phóng. Đường lối của cách mạng Việt
Nam là đi từ giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, từng bước tiến
lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ
bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng đó là đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên
minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

11

KẾT LUẬN Nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và
giai cấp không chỉ giúp ta hiểu rõ về nguồn gốc, quá trình tồn tại và phát triện của
các cộng đồng dân tộc trên thế giới,giúp ta thấy rõ giữa dân tộc, giai cấp,nhân loại
có mối quan hệ biện chứng gắn bó mật thiết. Đồng thời trong tình hình mới, làm cơ
sở vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước, để đưa dân tộc ta vượt qua mọi thử thách, vững bước
trong quá trình xây dựng một đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
12

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ………………………………………………… 1
I.Các quan niệm về dân tộc và giai cấp……………………………………………2
1.Các quan niệm về giai cấp………………………………………………….2
2.Các quan niệm về dân tộc………………………………………………… 2
II.Biện chứng giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh…… 5
KẾT LUẬN ……………………………………….…… 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO

13
TI LIU THAM KHO
1. Giáo trình triết học Mác- Lênin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status