LÊ NIN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
CỦA TRIẾT HỌC MÁC TRONG TÁC PHẨM “KINH TẾ VÀ CHÍNH
TRỊ TRONG THỜI ĐẠI CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN”. Ý NGHĨA
PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG NHẬN THỨC THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY.
Lịch sử tư tưởng nhân loại phát triển như một dòng chảy liên tục, mặc
dù có những bước quanh co, nhưng về cơ bản là không ngừng tiến lên cùng
với sự phát triển trình độ nhận thức của con người. Khi triết học Mác ra đời,
đánh dấu một bước ngoặt cách mạng vĩ đại trong lịch sử tư tưởng, tạo ra sự
nhảy vọt về chất trong triết học, một hệ thống triết học khác về chất so với tất
cả các hệ thống triết học trong lịch sử, sự ra đời đó phù hợp với quy luật
khách quan. Trong đó, chủ nghĩa duy vật lịch sử oiư shai phát kiến vĩ đại về
học thuyết hình thái kinh tế xã hội, phát kiến về học thuyết giá trị thặng dư
được đánh giá là một nội dung bước ngoặt cách mạng, bên cạn đó những nội
dung khác, như: học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp .... đã làm cho
chủ nghĩa Mác – Lê nin trở thành là một lý luận khoa học và hoàn bị.
Là một học thuyết khoa học và cách mạng, một “bóng ma ám ảnh” chủ
nghĩa tư bản, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp do Mác - Ăngghen
sáng lập, ngay từ khi mới ra đời, đã đứng trước sự chống phá ác liệt về tư
tưởng của kẻ thù. CHỦ NGHĨA MÁC TỪ KHI RA ĐỜI Đó phải hứng chịu
khụng ớt Đũn cụng kớch từ phớa cỏc kẻ thự tƯ TƯỞNG. SỰ CHỐNG PHÁ
NÀY CÀNG TRỞ NÊN GẤP GÁP HƠN, Ồ ẠT HƠN SAU SỰ SỤP ĐỔ
CỦA HỆ THỐNG CÁC NƯỚC XHCN ĐÔNG ÂU VÀ LIÊN XÔ, SỰ SUY
THOÁI CỦA PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ CỘNG SẢN QUỐC TẾ.
“CƠ HỘI VÀNG” NÀY ĐANG ĐƯỢC CÁC HỌC GIẢ TƯ SẢN TẬN
DỤNG TRIỆT ĐỂ NHẰM THA HỒ “LÀM MƯA, LÀM GIÓ” VỚI CÁC
TUYÊN BỐ ĐẠI NGÔN THEO KIỂU “CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN Đó
hết vai trũ lịch sử”, “Việc ỏp dụng học thuyết ĐÓ CHỈ ĐƯA ĐẾN TAI
HỌA”, “LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA Xó hội là sai
lầm lịch sử, ĐƯA DÂN TỘC VÀO CHỖ CHẾT” V.V...
Sau những thắng lợi trở thành kỳ tích của chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ
XÔ ĐÔNG HƠN RẤT NHIỀU SO VỚI CÁC NƯỚC KHÁC”1.
Chỉ cần bằng cách nhìn thực tiễn, chúng ta cũng có thể thấy đó là một
sự so sánh cực kỳ phi lý, phi lịch sử, trắng trợn đánh lộn trắng đen, một sự
vu cáo hèn hạ đối với chủ nghĩa cộng sản mà nền tảng tư tưởng của nó là
học thuyết Mác xít. Trên thực tế thì ý tưởng lên án chủ nghĩa cộng sản
không phải là điều mới mẻ trong mưu đồ của những kẻ mang nặng thiên
kiến, muốn phủ nhận thực tế lịch sử. Nó đã có cội rễ bắt nguồn từ cuộc đấu
tranh tư tưởng cách đây gần một thế kỷ kể từ khi chủ nghĩa xã hội đã hình
thành ở một nước trên thế giới – Liên bang Xô Viết. Gần đây thì PACE đã
nhiều lần muốn thông qua một nghị quyết tương tự mà nỗ lực gần nhất thì
vào hồi tháng 9 và tháng 12 năm 2005. Tác giả của bản nghị quyết này là
G.Lin-đơ-blát, một nghị sỹ người Thụy Điển. Tuy nhiên, những người khởi
xướng dự thảo nghị quyết đã không giành được đủ số phiếu để thông qua
những khuyến nghị cụ thể đối với chính phủ các nước thành viên Hội đồng
Châu Âu.
Trước tình hình đó, hàng triệu người cộng sản và nhân dân lao động vẫn
kiên quyết bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chân lý của
chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiêm túc tìm hiểu nguyên nhân thất bại của CNXH
ở nơi này, nơi kia, tìm hiểu và nhận thức lại những kinh điển gốc của Chủ
nghĩa Mác- Lê nin để vận dụng những tư tưởng kinh điển ấy vào quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một trong những tác phẩm ấy là tác phẩm kinh
điển của Lê nin: “Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”.
Quá trình nghiên cưu, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững tư tưởng của tác
phẩm với tinh thần: lý luận gắn chặt với thực tiễn, gắn những tư tưởng của tác
phẩm với thời đại lịch sử của nó, gắn tư tưởng của tác phẩm với những vấn đề
cơ bản, nóng hổi trong thời đại ngày nay
"Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản" ra đời đánh dấu
sự bảo vệ và phát triển triết học Mác xít về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai
cấp. Tác phẩm là văn kiện có tính chất cương lĩnh của Đảng cộng sản cả về lý
luận và thực tiễn xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ.
lập hiến, bọn Mên-sê-vích, bọn xã hội chủ nghĩa cách mạng, bọn dân tộc chủ
nghĩa tư sản, dựa vào tất cả những kẻ chống chính quyền Xô viết. Chúng tấn
công mãnh liệt vào các lực lượng Hồng quân, vào các mục tiêu quan trọng
của đất nước. Chúng tiến sâu vào đất nước, chiếm được một phần lãnh thổ
quan trọng, chia cắt đất nước, uy hiếp trực tiếp Mátxcơva và Pêtrôgrát. Tình
hình cực kỳ nguy hiểm đối với nước Nga xô viết. Đảng cộng sản đã phái ra
mặt trận những đội quân công nhân đông đảo gồm phần lớn là Đảng viên
cộng sản và đoàn thanh niên cộng sản. Đó là một trong những nguyên nhân
chính làm Hồng quân được củng cố vững mạnh và giành được thắng lợi.
Tình hình kinh tế ở trong nước: nền kinh tế nước Nga giai đoạn đó
hoang tàn kiệt quệ. Tình trạng thiếu lương thực, thiếu nhiên liệu diễn ra triền
miên trên khắp đất nước. Đất nước bị chia cắt, giao thông rối loạn, dịch bệnh
hoành hành khắp trong nước. Đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn và hỗn
loạn. Những năm đầu tiên thời kỳ quá độ: thù trong giặc ngoài, nhà nước
chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử bị bao vây kinh tế, không có sự
giúp đỡ ở bên ngoài chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân.
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, quần chúng lao động đoàn kết chặt chẽ
xung quanh Đảng cộng sản, họ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Quần
chúng lao động tỏ rõ lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh quên mình trong cuộc
đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa ở tiền tuyến cũng như ở
hậu phương. Nhân dân Xô viết đã đẩy lùi được các cuộc tiến công mãnh liệt
của địch trong hoàn cảnh kinh tế sức khó khăn. Chế độ Xô viết đã tạo ra một
4
5
5
tác phẩm là lý luận về thời kỳ quá độ, tạp trung vào một số nội dung chính:
tính tất yếu, bản chất của thời kỳ quá độ; kinh tế trong thời kỳ quá độ; giai cấp
và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ. Thực chất đây cũng là những nội
dung toàn diện của tác phẩm, nhưng với phương pháp tiếp cận tư tưởng chủ
yếu, tác giả sẽ đưa ra một số nội dung về phương pháp luận chủ yếuểtong
nhận thức thopừi kỳ quá độ ở nước ta hiện nay.
5
6
6
Một là: Bằng phương pháp tiếp cận biện chứng duy vật, Lê nin đã
luận giải tính tất yếu và bản chất của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội.
Trong lịch sử tư tưởng của triết học, trong tác phẩm Phê phán cương
lĩnh Gô ta, Mác là người đầu tiên trình bày tư tưởng về thời kỳ quá độ. Trong
tác phẩm này, Mác đã tiên đoán những nét bản chất nhất của thời kỳ quá độ vì
chưa có kinh nghiệm lịch sử.
Bằng phương pháp tiếp cận biện chứng duy vật và bằng quan điểm duy
vật lịch sử, Lê nin đã trung thành với những tư tưởng của Mác về thời kỳ quá
độ và phát truiển những tư tưởng ấy trong một giai đoạn mới của cách mạng.
Lê nin đã nghiên cứu toàn diện thời kỳ quá độ với tính cách là một thời đại
lịch sử mở đầu hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa. Những tư tưởng này
được thể hiện sâu sắc trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng. Trong tác
phẩm này, Lênin tiếp tục nghiên cứu thời kỳ quá độ trên cơ sở tổng kết kinh
nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Xô viết.
Về tính tất yếu của thời kỳ quá độ, Lênin viết: “Không thể nghi ngờ gì
7
nghĩ ra những kế hoạch điều hoà hai lực lượng chiến đấu, chứ không phải là
lãnh đạo cuộc đấu tranh của một trong hai lực lượng ấy”4.
Quá trình luận giải bản chất, cơ sở kinh tế, giai cấp, đấu tranh giai cấp,
Lê nin rút ra kết luận “Tính tất yếu của một thời đại lịch sử mang những đặc
điểm của một thời kỳ quá độ tự nó cũng đã là hiển nhiên rồi”5.
Về bản chất của thời kỳ quá độ: Dựa trên tính tất yếu của thời kỳ quá
độ, Lê nin đã khẳng định bản chất của thời kỳ quá độ “Thời kỳ quá độ ấy
không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản
đang giẫy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh, hay nói một cách khác,
giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và chủ nghĩa
cộng sản đã phát sinh những vẫn còn rất non yếu” 6. Bản chất của thời kỳ quá
độ bị quy định bởi cơ sở kinh tế xã hội của thời kỳ đó, cuộc đấu tranh “ai
thắng ai” giữa chủ nghĩa xã họi và chủ nghĩa tư bản được quy địng bởi bvản
chất của thời kỳ này.
Hai là, Luận giải về bản chất của thời kỳ quá độ, Lê nin đã đề cập
đến đặc trưng về kinh tế của thời kỳ này. Tư tưởng then chốt: Thời kỳ quá
độ bao gồm nhiều thành phần kinh tế khách nhau.
Trước đây trong tác phẩm:" Bệnh ấu trĩ tả khuynh...", Lê nin đã phân
tích và chỉ ra cơ sở kinh tế của thời kỳ quá độ bao gồm cả những mảnh của
chủ nghĩa tư bản lẫn những mảnh của chủ nghĩa xã hội. Đến tác phẩm này,
một lần nữa Lê nin khẳng định, thời kỳ quá độ, bao gồm 2 kết cấu kinh tế cơ
bản, đó là kết cấu kinh tế xã hội của chủ nghĩa xã hội và kết cấu kinh tế xã hội
của chủ nghĩa tư bản. Đây là một đặc điểm cơ bản và phổ biến của tất cả các
nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ cơ sở phân tích nền kinh tế nhiều thành phần
trong điều kiện nước Nga ở tác phẩm" Bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư
sản” Lênin chỉ ra ở nước Nga có 5 thành phần kinh tế: thành phần kinh tế xã
hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước, thành phần kinh
tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, thành phần kinh
Ở nước Nga tồn tại 5 thành phần là do đặc điểm đặc thù: cụ thể là do
tình trạng kinh tế lạc hậu của một nước tiểu nông, hỗn tạp. Tỷ trọng các thành
phần kinh tế cũng do đặc thù mỗi nước quy định (xem 310 (5) (xem thêm
"bệnh âu trĩ tả khuynh ..")
Thực tiễn: lịch sử các nước đi lên chủ nghĩa xã hội đã chững minh điều
đó.
Ba là, cùng với sự phân tích kết cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ, Lê
nin đã phân tích kết cấu xã hội giai cấp của thời kỳ quá độ, từ kết cấu xã
hội giai cấp này, Lê nin luận giải tính tất yếu đấu tranh giai cấp trong thời
kỳ quá độ.
Về kết cấu giai cấp: Tương ứng với các thành phần kinh tế là 3 lực
lượng cơ bản đại biểu: giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản (nhất là ở nông
dân), giai cấp vô sản . Những hình thức cơ bản của nền kinh tế xã hội quy
định những giai cấp của xã hội Nga.
Các giai cấp tồn tại trong thời kỳ quá dộ là một tất yếu lịch sưt, nhưng
quan hệ của các giai cấp thay đổi, Lê nin viết: “Trong thời đại chuyên chính
vô sản, các giai cấp vẫn tồn tại, nhưng bộ mặt của mỗi một giai cấp đều thay
đổi, quan hệ qua lại giữa các giai cấp cũng biến đổi”9.
Về giai cấp tư sản: “Giai cấp của bọn bóc lột, tức là giai cấp của bọn
địa chủ và tư bản đã không biến mất và không thể nào biến mất ngay lập tức
dưới thời chuyên chính vô sản. Bọn bóc lột đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu
diệt”10. Nguyên nhân làm cho giai cấp của bọn bóc lột, tức là địa chủ, tư bản
không biến mất “Chúng vẫn còn có một cơ sở quốc tế, tức là bọn tư bản quốc
7 Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.311.
8 Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.312.
9 Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.318.
10 Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.319.
8
Lê nin viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp chưa chấm dứt dưới thời chuyên
chính vô sản, nó chỉ diễn biến ra dưới những hình thức khác mà thôi” 17.
Nguyên nhân của cuộc dấu tranh giai cấp xuất phát từ nhiều lý do cụ thể.
Trước hết, do chủ nghĩa tư bản tăng cường chống phá về mọi mặt: “Chính vì
chúng đã thất bại nên sự phản kháng của chúng ngày càng tăng lên, gấp trăm,
gấp ngàn lần. “Nghệ thuật” quản lý nhà nước, quân đội, kinh tế tạo cho chúng
11
12
13
14
15
16
17
9
Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.319.
Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.319.
Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.517.
Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.319.
Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.319, 320.
Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.320.
Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.318.
10
10
chủ nghĩa xã hội. Đó là những quan niệm lừa bịp che dấu bản chất giai cấp tư
sản, nên dân chủ tư sản. " quan niệm trừu tượng về dân chủ". Lênin vạch trần
bản chất giai cấp của dân chủ tư sản về : Bình đẳng, Tự do chính trị, Vì nền
cộng hoà tư sản (với nghị viện, hội họp, quyết định theo đa số). Vạch trần
18 Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.319.
19 Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.319.
20 Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.315.
21 Lê nin. Toàn tập, tập 39. Sđd. Tr.318.
10
11
11
quan điểm theo đa số, bằng cách biểu quyết thức chất quyết định bằng tiền
bạc, tư bản, tư hữu. "Lừa bịp người lao động bằng cái bình đẳng hình thức
trong khi vẫn giữa nguyên gông, ách, chế độ tư bản chủ nghĩa = dân chủ tư
sản.."Đó là thực chất dân chủ tư sản ( trang 517). Do đó, giai cấp vô sản muốn
quyết định bằng biểu quyết = tất cả đến bình đẳng, không kể tiền bạc, tư hữu,
tư bản. Phải quyết định bằng đấu tranh giai cấp . Xong nhiệm vụ thứ 1, sang
nhiệm vụ thứ 2 (trang 516)."Trước hết quyết định"sau mới biểu quyết hoà
bình (trước phải phát triển đấu tranh giai cấp). Phá huỷ hoàn cảnh tư sản và
những điều kiện thực tế của hoàn cảnh đó đối với việc diễn đạt ý chí " (trang
303).
Để thực hiện chuyên chính vô sản, cần phải liên minh công nông. Liên
minh công nông là động lực để thực hiện chuyên chính vô sản. Trong cách
mạng vô sản, cả hai giai cấp vô sản và nông dân đã được giải phóng khỏi
quan hệ tư hữu, giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột. Đó là một bước tiến chưa
12
12
người nông dân cần lao với người nông dân đầu cơ....” 24. Cần pghải phân định
sự hai mặt của giai cấp nông dân, vì đối với giai cấp nông dân, trong cuộc đấu
tranh giai cấp thì “trong số những người đó, có những kẻ nhảy từ bên này
sang bên kia, những kẻ dao động, đổi chiều chuyển hướng, lưỡng lự ...”25.
Vận dụng vào Việt Nam: Nghị quyết của Đảng đã chỉ ra các thành phần
kinh tế- xã hội. Các nhà lý luận nghiên cứu: Kết cấu xã hội tiền tư bản (thuộc
địa, phong kiến, sản xuất nhỏ tiến lên chủ nghĩa xã hội).
* Mâu thuẫn cơ bản: Lần đầu tiên Lênin nêu mâu thuẫn cơ bản đó là
mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.
Khẳng định đấu tranh giai cấp là tất yếu, đó là đấu tranh để giải quyết
vấn đề " ai thắng ai " giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.
Vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam kết cấu kinh tế-xã hội tiền tư bản thì
đây có phải muẫu thuẫn cơ bản không nghiên cứu.
*Về trạng thái xã hội trong thời ký quá độ:
- Chủ nghĩa tư bản bị đánh bại như chưa bị tiêu diệt hẳn.
- Chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng còn non yếu, còn lợi ích cho
giai cấp vô sản. Chống tư tưởng cơ hội: Điều hoà 2 lực lượng, phủ nhận vai
trò lãnh đạo của giai cấp vô sản (giai cấp tiêu biểu cho chiều hướng tiến bộ)
[Thừa nhận cái mới (chủ nghĩa xã hội ra đời phát triển từ đó thừa nhận vai trò
lãnh đạo của giai cấp vô sản)]
Qua đó Lênin xác định cho giai cấp vô sản và Đảng cộng sản:
- Nhận thức tính tất yếu khách quan và tính phổ biến của thời kỳ quá độ
đối với tất cả các nước.Vấn đề tính chất, độ dài từng nước là do đặc điểm hoàn
cảnh lịch sử cụ thể chi phối và còn phụ thuộc vai trò chủ quan của Đảng, Nhà
tranh chống tính tự phát sản xuất nhỏ (có ý nghĩa thiết thực đối Việt Nam)
* Về kết cấu giai cấp trong thời ký quá độ ( vấn đề Lênin đặc biệt chú
ý)
Lênin phân tích kết cấu giai cấp trong thời ký quá độ, nhận thức được
tính tất yếu đấu tranh giai cấp trong thời ký quá độ, điều kiện mới của cuộc
đấu tranh giai cấp. Đáng giá đúng so sánh lực lượng, từ đó có chính sách phù
hợp để cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Phân tích cơ cấu giai cấp trong thời ký quá độ
+ Trong thời ký quá độ sự tồn tại các giai cấp là tất yếu:
Sự tồn tại của giai cấp là lâu dài cùng thời kỳ quá độ. Dùng các biện
pháp lập pháp hành chính hấp tấp không thận trọng chỉ làm cho thời kỳ quá
độ lâu dài thêm, khó khăn thêm mà thôi (xem 318 (8) và 316 (25) " Giai cấp
của bọn bóc lột, tức là giai cấp của bọn địa chủ và tư bản đã không biết mất
và không thể nào biết mất ngay lập tức dưới thời chuyên chính vô sản (trang
319).
Vận dụng Đảng cộng sản Việt Nam: Khẳng định nền kinh tế nhiều
thành phần và cơ cấu giai cấp- xã hội tồn tại lâu dài trong thời ký quá độ ở
Việt Nam chính sách phát triển kinh tế nhiểu thành phần phát triển sản xuất
hàng hoá khẳng định đấu trang giai cấp trong thời ký quá độ.
13
14
14
Vấn đề có ý nghĩa thực tiễn hiện nay khi xem xét giai cấp vô sản hiện
đại (có sự phân hoá) đồng thời xem xét tỷ trọng củ thể trong từ mức (ở Việt
Nam giai cấp công nhân 6% dân số giai cấp nông dân hơn 80%).
14
15
15
"Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu
nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một
năng suất chưa từng thấy dưới chế độ nông nô. Chủ nghĩa tư bản có thể bị
đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất
lao động mới cao hơn nhiều. Đó là sự nghiệp rất khó khăn và lâu dài, nhưng
sự nghiệp đó đã bắt đầu và đấy là điều chủ yếu (SKVĐ trang25).
[Tính chất khó khăn, lâu dài và ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội của nó thực tiễn đang chứng minh].
+ Về quan hệ giữa hai nhiệm vụ:. Nhiệm vụ bạo lực trấn áp là điều kiện
để “thiết lập và củng cố chủ nghĩa xã hội " (trang 20) nhiệm vụ 1: " chưa thể
hoàn thành xong xuôi và không thể coi thường được nó" (T 36, trang 209).
Nhiệm vụ tổ chức xây dựng " trọng yếu hơn, tức là tích cực xây dựng
chủ nghĩa cộng sản, sáng tạo ra những quan hệ kinh tế mới, sáng tạo ra một xã
hội mới ". (SKVĐ trang 15).
So với nhiệm vụ 1, nhiệm vụ 2 là chủ yếu: " Không phải chỉ là bạo lực
đối với bọn bóc lột, và là không phải chủ yếu là bạo lực. Cơ sở kinh tế của
bạo lực cách mạng đó, cái bảo đảm sức sống và thắng lợi của nó chính là việc
giai cấp vô sản đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội
cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đấy là thực chất của vấn đề. Đấy là nguồn
sức mạnh, là điều kiện bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ
nghĩa cộng sản" (SKVĐ trang 16).
So nhiệm vụ 1 thì nhiệm vụ 2 khó khăn hơn: "Nhiệm vụ thứ 2 này khó
chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng.
3. " Trung lập hơn" giai cấp tiểu tư sản, đặc biệt hơn là nông dân:
Phân biệt trung lập hoá có tính chất phản động và trung lập hoá có tính
chất cách mạng.
Nội dung giai cấp của khái niệm đó: " giai cấp thống trị " (giai cấp vô
sản) phải "dẫn dắt", "lãnh đạo","lôi cuốn theo” các giai cấp tiểu tư sản, đặc
biệt nông dân.
Vấn đề này đặc biệt quan trọng ở nước Nga là một nước tiểu nông, chủ
yếu là nông dân. ( hình thức chủ yếu mà Lênin phân tích trong tác phẩm kinh
tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản).
- Trung lập hơn trên thực tế: Chặn đứng bằng bạo lực nhiệm vụ, lôi
cuốn, thuyết phục, lấy kinh nghiệm để giáo dục (xem thêm trang 515).
Lênin: đòi hỏi phải phân biệt nông dân với tính cách người lao động và
nông dân với tính cách là người bóc lột ( đầu cơ, tư hữu).
Đây là một việc làm rất khó khăn, nhưng có thể làm được vì thực tế sẽ
dẫn đến sự phân hoá lực lượng do tính chất hai mặt của nông dân. Giai cấp vô
sản trong chính sách đối với nông dân phải phân biệt và phân định ranh giới
giai cấp đó... (xem trang 316) (27).
Thực chất chủ nghĩa xã hội là nằm trong sự phân định ranh giới đó.
Thực chất sự dụng phép biện chứng nhận thức bản chất một sự vật với tính
cách tìm 2 mặt đối lập của một mâu thuẫn. Có ý nghĩa phương pháp luận:
Ngay cả khi xem xét giai cấp vô sản không được tuyệt đối hoá một mặt bản
chất của nó).
Vì sao sự phân địng này là khó khăn. Vì những đặc điểm này hoà vào
nhau thành một chỉnh thể trong người nông dân. Nhưng có thể làm được vì
điều kiện của nền kinh tế và đời sống của chính ngay người nông dân cho
phép tất yếu sẽ phân hoá lực lượng trong nông dân: Bộ phận nông dân lao
16
Tóm lại: Lênin đã trình bày một cách sâu sắc. toàn diện các khía cạnh
lý luận về chuyên chính vô sản. (33 chủ đề về chuyên chính vô sản).
* ý nghĩa:
- ý nghĩa lịch sử
- Trang bị cho giai cấp vô sản, nhân dân lao động nhận thức được tình
hình thực tiễn đấu tranh những năm đầu của thời kỳ quá độ, những vấn đề
nóng hổi, cấp bách phải giải quyết.
- Giúp Đảng cộng sản và nhà nước Xô viết có cơ sở để đề ra đường lối
chính sách trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Phát triển lý luận chủ nghĩa Mác về thời kỳ quá độ, giai cấp và đấu
tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ. Chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại.
- ý nghĩa hiện thực:
Vẫn giữ nguyên giá trị đối với các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là các
vấn đề lý luận và thực tiễn về đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, nội
dung mới hình thức mới của đấu tranh giai cấp. Vấn đề xây dựng nền dân chủ
vô sản, củng cố tăng cường chuyên chính vô sản …
Là một tác phẩm ngắn nhưng có nội dung phong phú, có ý nghĩa thiết
thực đối với Việt Nam, vẫn có giá trị thực sự nóng hổi, đối với cách mạng xã
hội chủ nghĩa, đấu tranh giai cấp trong thời ký quá độ.
Gần 160 năm kể từ khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời và cùng
với bản Tuyên ngôn bất hủ này là sự lớn mạnh không ngừng của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế đi theo con đường của lý luận Mác xít. Loài
người tiến bộ với chủ nghĩa Mác, hướng tới mục tiêu xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, thực hiện khát vọng nghìn đời là giải
phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Trước Chủ nghĩa
Mác, nhiều học thuyết về “chủ nghĩa xã hội” không tưởng lần lượt ra đời,
như: “chủ nghĩa xã hội phong kiến”, “chủ nghĩa xã hội thầy tu”, “chủ nghĩa
xã hội chân chính”, “chủ nghĩa xã hội tư sản”. Mặc dù các nhà sáng lập là
những nhà có ý thức bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, lý luận của các
của chủ nghĩa xã hội với những tội ác tàn bạo, thảm họa diệt chủng của chủ
nghĩa phát xít gây ra cho thế giới trong những năm bốn mươi của thế kỷ XX.
Tất yếu khách quan của lịch sử nhân loại là đi lên một xã hội công
bằng, nhân đạo. Nhưng lịch sử không phải là con đường thẳng tắp. Con
đường cách mạng là quanh co, có lúc cao trào, có lúc thoái trào, có lúc phải
đứng trước những trở lực tưởng chừng không thể vượt qua, thành quả giành
được như "ngàn cân treo sợi tóc". Mỗi lần gặp và vượt qua khó khăn, Tuyên
ngôn càng được nhận thức, vận dụng đúng đắn hơn, tác động của Tuyên
ngôn càng to lớn, sâu sắc hơn.
Từ năm 1848 đến những năm 80 của thế kỷ XX, tuy cách mạng gặp
nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung đây là giai đoạn Tuyên ngôn giành thắng
lợi to lớn. Song có một bước ngoặt mà lịch sử chưa từng biết đến đã xảy ra.
Từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay, CNXH lâm vào khủng hoảng. Sự
sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu diễn ra quá bất ngờ, thực tế
đã đặt Tuyên ngôn trước một vấn đề: suốt hơn 130 năm, Tuyên ngôn chưa
gặp khó khăn nào đến thế, vậy Tuyên ngôn có vượt qua nổi thử thách nghiệt
ngã này không?
26
20
Sđd. tr.642.
21
21
Nếu lịch sử mở đường đi thì tất yếu không gì ngăn cản được, tất yếu
người khỏi mọi sự tha hoá. Vì vậy xét về bản chất tư tưởng của Tuyên ngôn
vẫn giữ nguyên giá trị. Song có một số điểm cụ thể của Tuyên ngôn không
còn phù hợp. Vì vào giai đoạn lịch sử giữa thế kỉ XIX không thể thấy đuợc rõ
ràng sự phát triển của CNTB như vào cuối thế kỉ thứ XX, đầu thế kỷ XXI.
Nhưng phương pháp nghiên cứu xã hội tư bản thì không có phương pháp nào
thay thế được.
21
22
22
So với thời kỳ Mác sống, chủ nghĩa tư bản ngày nay, các mâu thuẫn cơ
bản của nó tiếp tục phát triển gay gắt, sự phân hoá giàu nghèo, tư bản và lao
động tiếp tục gay gắt, các mâu thuẫn khác như: mâu thuẫn giữa các trung tâm
tư bản lớn, giữa các nước giàu với các nước nghèo phát triển gay gắt. Các nước
tư bản lớn vừa cạnh tranh nhau quyết liệt vừa thoả hiệp để áp đặt sự thống trị
thế giới. Chủ nghĩa tư bản hiện đại thường tự hào là người "giàu nhất, mạnh
nhất, tốt nhất" nhưng hoàn toàn bất lực trước những vấn đề toàn cầu. Vì xét cho
cùng, những vấn đề toàn cầu là do lòng tham không có giới hạn của chủ nghĩa
tư bản hiện đại gây nên. Điều này, trong Tuyên ngôn, Mác và Ăngghen đã
viết: "Giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước
mang tính chất thế giới.... Những công nghiệp dân tộc cũ bị tiêu diệt và ngày
càng bị tiêu diệt. Những ngành công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những
ngành công nghiệp mới... những ngành công nghiệp không dùng nguyên liệu
bản xứ mà dùng những nguyên liệu được đưa từ miền xa xôi nhất đến và sản
phẩm làm ra không những tiêu thụ ngay trong xứ mà còn được tiêu thụ ở tất cả
các nơi trên trái đất nữa. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa
đây: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc tư tưởng của Tuyên ngôn về quan hệ giữa
giai cấp vô sản và dân tộc. Giải quyết vấn đề dân tộc phải trên quan điểm
giai cấp; xoá bỏ áp bức dân tộc phải trên cơ sở xoá bỏ chế độ người bóc lột
23
24
24
người. Hồ Chủ Tịch hiểu sâu sắc rằng: Tuyên ngôn chưa có điều kiện đi
sâu vấn đề giải phóng thuộc địa vì khi đó CNTB chưa phát triển đến đỉnh
cao của nó là chủ nghĩa đế quốc.
Vấn đề cách mạng thuộc địa phải đến thời kỳ Lênin mới có thực tiễn
làm sáng tỏ. Song Lênin cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về vấn đề
giải phóng dân tộc thuộc địa, quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng
chính quốc. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tư tưởng của Mác - Lênin
trong điều kiện lịch sử mới. Người kết luận: "muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác - con đường cách mạng vô sản". Đi xa
hơn, Người còn nhận định hết sức thiên tài: "Cách mạng thuộc địa phải và có
thể chủ động tiến lên giành thắng lợi; chẳng những không bị động chờ thắng
lợi cách mạng vô sản chính quốc; mà bằng cuộc đấu tranh của mình, cách
mạng thuộc địa có thể góp phần của mình hỗ trợ tích cực cho các cuộc cách
mạng ở các nước tư bản". Kết luận trên đây của Hồ Chí Minh thể hiện tư
tưởng biện chứng của Chủ nghĩa Mác Lênin và của Tuyên ngôn.
Vũ trang bằng học thuyết chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh, những người cộng sản Việt Nam tháng 8 năm 1945 đã lãnh đạo nhân
dân giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, đưa đất nước đi vào kỷ nguyên mới,
Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động và con
đường phát triển chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn.
Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn tới có nhiều thời cơ thuận lợi, song
cũng không ít nguy cơ, thách thức khó lường, song có thể nói cùng với chủ
nghĩa Mác – Lênin thì những tư tưởng của Tuyên ngôn luôn là bó đuốc soi
đường cho cách mạng Việt Nam. Trong Tổng kết công tác tưởng trong 20
năm tiến hành đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định hệ thống các bài học
kinh nghiệm, trong đó bài học kinh nghiệm đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là:
Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đổi mới không phải là xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh, mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác
xít, mà một trong những nội dung đó là những tư tưởng của Tuyên ngôn
Đảng cộng sản, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
của Đảng.
Đổi mới không phải là phủ định những thành tựu của chủ nghĩa xã hội,
những thành tựu và cách làm trước đây của những người cộng sản quốc tế và
trong nước, mà là khẳng định những gì đã hiểu đúng, làm đúng, loại bỏ những
gì hiểu sai, làm sai, hoặc những gì trước kia đúng nay không còn phù hợp.
Xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay
là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng đó là con
đường đi hợp quy luật để có một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, nhân
dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Sự nghiệp đó đòi hỏi, chúng ta
càng phải kiên định với những lý luận căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh mà một trong những nội dung đó là tư tưởng trong
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Tiếp tục sự nghiệp đổi mới đất nước: Độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là thể hiện tư tưởng của Tuyên ngôn trong
điều kiện mới.
Tư tưởng của Tuyên ngôn Đảng cộng sản là bất diệt. Tư tưởng đó đã,
đang và sẽ tiếp tục soi sáng cho con đường cách mạng nước ta bước vào thời