Tiểu luận: Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam - Pdf 19



Tiểu luận

Mối liên hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và bảo vệ môi trường ở
Việt Nam
MỤC LỤC
Mục lục
Lời mở đầu
Chương 1 Phép biện chứng về mối liờn hệ phổ biến 3
1.1 Sự ra đời của phép biện chứng 3
1.2 Nguyờn lớ về mối liờn hệ phổ biến 4
1.2.1 Nội dung nguyờn lớ về mối liờn hệ phổ biến 4
1.2.2 í nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến 6
Chương 2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở
Việt Nam 8
2.1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
8
2.2 Môi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam 9
2.2.1 Trong cụng nghiệp 9

mỡnh vào việc tỡm kiếm con đường phát triển của việt nam trong những
năm tới nhằm đưa việt nam trở thành một nước phát triển trong khu vực và
trên thế giới. Hoàn thành tiểu luận này tôi đó gia tăng được tri thức cũng như
hiểu biết về các vấn đề cấp thiết của Việt Nam.

3

Chương 1 Phộp biện chứng về mối liờn hệ phổ biến
1.1 Sự ra đời của phép biện chứng
Triết học ra đời từ thời cổ đại đánh dấu sự ra đời của phép biện chứng.
Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển có phồn vinh có suy vong. Khởi
đầu là phép biện chứng tự phát cổ đại, thể hiện rừ nột trong thuyết “õm -
dương” của Trung Quốc, đăc biệt là trong nhiều học thuyết của Hi Lạp cổ
đại. Đến khoảng thế kỷ 17 nửa đầu thế kỷ 18, phương pháp siêu hỡnh thống
trị trong tư duy triết học mà đại diện là Đêcactơ – ông được coi là linh hồn
của phương pháp siêu hỡnh. Trong khoảng nửa sau thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19
đây là thời kỳ tổng kết các lịch sử triết học nhân loại và hỡnh thành hệ thống
lớn đó là phương pháp biện chứng duy tâm mà đại diện là Hêgen ông được
coi là tiền đề của phương pháp biện chứng duy vật sau này. Ngày nay phép
biện chứng đó đạt đến trỡnh độ cao nhất đó là phép biện chứng duy vât.
Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những
nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực phù hợp với hiện
thực. Cho nên nó phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của
tự nhiên, xó hội và tư duy. Nhờ vậy nó đó khắc phục được những hạn chế
vốn có của phép biện chứng tự phát cổ đại cho rằng thế giới là một chỉnh thể
thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào
nhau, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới và các bộ phận cấu
thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển. Tuy nhiên sự hạn chế
của phương pháp biện chứng này là tuy nó cho chúng ta thấy một bức tranh
về sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển nhưng chưa làm rừ được


5

định cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tượng chính là tính
thống nhất vật chất của thế giới. Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện
tượng trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào đi chăng nữa
thỡ chỳng cũng chỉ là những dạng tồn tại khỏc nhau của một thế giới duy
nhất là thế giới vật chất. Cỏc mối liờn hệ diễn ra trong mỗi sự vật, giữa các
sự vật với nhau, trong toàn bộ vũ trụ, trong mọi không gian và thời gian.
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính
phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trỡnh mà nú
cũc nờu rừ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó. Tính đa dạng của sự liên
hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chính các
sự vật và hiện tượng quy định. Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua
lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa cỏc yếu tố, cỏc thuộc
tớnh, cỏc mặt khỏc nhau của một sự vật, nú giữ vai trũ quyết định đối với sự
tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Có mối liên hệ bên ngoài là mối
liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có
nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường phải thông qua các mối liên hệ bên
trong mà phát huy. Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan
trọng, đôi khi cũn giữ vai trũ quyết định. Ngoài ra cũn cú mối liờn hệ chủ
yếu, cú mối liờn hệ thứ yếu, cú mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới,
có mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của
thế giới. Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác
động qua lại được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian. Có
mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và
mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối
liên hệ khác nhau của cùng một sự vật. Sự vật, hiện tượng nào cũng vận
động và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó
cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các

7

phải bằng hoạt động thực tiiễn của mỡnh biến đổi những mối liên hệ nội tại
của sự vật cũng như mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác.
Muốn vậy phải sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp, nhiều phương tiện
khác nhau để tac động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng. Để tránh
những phưng pháp luận sai lầm trong việc xem xét sự vật, hoạt động cần
tránh chủ nghĩa chiết trung, thuật nguỵ biện. Mọi sự vật hiện tượng đều tồn
tại trong không gian thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian thời
gian đó. Do đó chúng ta cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xet và giải
quyết mọi vấn đề thực tiễn đặt ra.

8Chương 2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở
Việt Nam
2.1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường
Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ, hữu cơ của các hệ sinh
thái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xó hội
loài người. Nó là những điều kiện tự nhiên, xó hội trong đó con người hay
một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người. Cũn tăng trưởng
kinh tế nhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người. Vỡ vậy giữa
mụi trường sinh thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt
chẽ. Như chúng ta đó biết mụi trường sống được sinh ra và tồn tại trong tự
nhiên, vỡ vậy cú thể nói nó tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức
con người. Tuy nhiên sự phát triển của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc
vào ý thức của con người, con người có thể tác động làm cho môi trường tốt
lên hoặc xấu đi. Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển

chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng Xó Hội Chủ
Nghĩa. Trong gần hai thập kỷ qua thực hiện chủ trương và đường lối đổi mới
nền kinh tế Việt Nam đó đạt được một số thành tựu to lớn. Chính sách đổi
mới đó mang lại những thay đổi, tạo ra một nền kinh tế năng động, một xó
hội văn minh, công bằng và dân chủ. Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP) tăng
trung bỡnh hơn 7%/năm. Đặc biệt trong công nghiệp, tăng trưởng công
nghiệp từ xuất phát điểm chỉ có 0,6% năm 1980 tăng lên đến 6,07% năm

10

1990 và giai đoạn 1991-2000 tăng lên trung bỡnh 12,9%/năm, trong đó thời
kỳ 1991-1995 có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 17%/năm. Tỷ trọng công
nghiệp đó cú sự chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hoá, từ mức
22,7% GDP năm 1991 tăng lờn 36,6% năm 2000. Sự phát triển của quá
trỡnh cụng nghiệp hoỏ trong những năm qua một mặt là động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân nhưng mặt khác nó đó
ớt nhiều bộc lộ những mặt trỏi của nú mà nếu khụng cú biện phỏp bảo vệ cụ
thể thỡ trong tương lai không xa chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả
nghiêm trọng do chính chúng ta gây ra.
Theo ước tính hiện nay nước ta có khoảng trên 60.000 công ty và doanh
nghiệp tư nhân, hơn 4.500 hợp tác xó phi nụng nghiệp và trờn 2 triệu hộ
kinh doanh cá thể. Cùng với sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp và cơ
sở kinh doanh đó, hiện nay trên cả nước tổng lượng chất thải rắn ước tính
khoảng 49. 000 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn công nghiệp chiếm khoảng
27.000tấn/ngày. Việc quản lý chặt chẽ chất thải rắn nguy hại đang gặp nhiều
khó khăn, không có đủ kho chứa đủ tiêu chuẩn để lưu giữ các chất thải độc
hại trước khi xử lí, không có nhà máy xử lí chất thải độc. Phần lớn chất thải
rắn nguy hại này thuần tuý chỉ được chôn chung lẫn lộn với rác thải sinh
hoạt hay thậm chí đổ ngay tại nhà máy gây mối nguy hại rất lớn đối với môi
trường sống.

khí độc hại cón rất ít mà chủ yếu được thải thẳng ra ngoài không khí, ảnh
hưởng trực tiếp đến sưc khoẻ con người.
Quỏ trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá càng phát triển thỡ nhu cầu khai
thỏc cỏc thành phần mụi trường để làm nguyên liệu đầu vào cho hoạt động
sản xuất ngày càng tăng. Quá trỡnh này thể hiện mối liên hệ cơ bản giữa
phát triển và môi trường đồng thời cũng là một vấn đề nan giải. Việc khai
thác quá mức nguồn tài nguyên là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hao kiệt
về tài nguyên, mất cân bằng sinh thái và suy giảm chất lượng môi trường.
Nạn khai thác gỗ trái phép gây ra sự suy nghiêm trọng độ che phủ của rừng.
Nếu như năm 1945 độ che phủ nước ta đạt 43% thỡ tớnh đến tháng 12 năm
2000 độ che phủ rừng chỉ cũn 29, 8% và đang ngày càng bị thu hẹp

12

Cũn nhiều nhiều vấn đề ô nhiễm do công nghiệp gây ra như việc nhập
khẩu các thiết bị lạc hậu từ nước ngoài, hay tiếng ồn từ các cơ sở sản xuất…
mà trong phạm vi bài tiểu luận triết học của mỡnh tụi khụng thể trỡnh bày
hết được, trên đây là những vấn đề mà theo tôi là cấp thiết và cần có hướng
giải quyết kịp thời.
2.2.2 Trong nụng nghiệp
Nước ta là một nước có nền kinh tế xuất phát điểm là nông nghiệp và cho
đến nay, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tài nguyên,
nông sản và hàng sơ chế. Kim ngạch xuất khẩu khoáng sản và hàng hoá
nông lâm, thuỷ hải sản chiếm tới 63% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam. Nước ta đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế, quá trỡnh này hứa hẹn
nhiều cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn
của thị trường quốc tế.Tuy nhiên đi đôi với sự gia tăng này của các hoạt
động sản xuất là khả năng gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường ngày càng
lớn. Sự gia tăng xuất khẩu các mặt hàng từ nguồn tài nguyên không tái tạo
được và việc khai thác bừa bói cỏc nguồn tài nguyờn cú thể tỏi tạo nhằm

hoạt động du lịch cũng đang tác động đến môi trường về nhiều mặt.
Do nhu cầu phát triển du lịch, nhiều diện tích đất đai bị khai phá để xây
dựng cơ sở hạ tầng như làm đường giao thụng khỏch sạn, cỏc cụng trỡnh thể
thao, cỏc khu vui chơi giải trí. Điều đó gây phá hoại hoặc tổn thất tới cảnh
quan thiên nhiên, các hệ sinh thái.
Hoạt động du lịch có thể gây tác động khác tới tài nguyên nước, đặc biệt là
các chất thải, các chất gây ô nhiễm do các khách sạn, nhà hàng, các hoạt
động vận tải thuỷ và khách du lịch tạo nên. Hiện nay ở nước ta, tỡnh trạng

14

rỏc thải bừa bói tại cỏc điểm du lịch, vui chơi giải trí cũn phổ biến, điều đó
không những ảnh hưởng tới vệ sinh công cộng và môi trường mà cũn gõy
cảm giỏc khú chịu cho du khỏch.
Khi hoạt động du lịch nhộn nhịp lên thỡ đó cũng là điều đe doạ tới chất
lượng không khí. Trước hết là ô nhiễm không khí do giao thông vận tải. Du
khách có thể đi bằng đường bộ hoặc máy bay. Tuy nhiên không giống như ô
tô, xe máy… ô nhiễm do máy bay ít được nhận thấy trực tiếp. Thế nhưng
đây lại là phương tiện gây ô nhiễm trực tiếp lên tầng ôzôn.
Sự phỏt triển du lịch cũn tạo nờn mối đe doạ tới các hệ sinh thái như phá
những khu rừng ngập mặn để xây dựng cơ sở hạ tầng, làm mất hoặc chia cắt
nơi cư trú của các loài sinh vật, khai thác bừa bói cỏc tài nguyờn rừng, biển
để sản xuất các sản phẩm phục vụ khách du lịch như tiêu bản các loại thú
rừng, hoa lan rừng, tắc kè, đồi mồi, san hô… tại nhiều điểm du lịch của nước
ta.Ngoài ra việc khai thác hải sản biển cũng đang ở mức báo động. Đánh cá
ven bờ giảm một cách đáng kể và số thuyền đánh cá đó tăng lên một cách
nhanh chóng do có sự khuyến khích của chính phủ. Việc khai thác dầu
không hợp lí cũng là một trong những nguyờn nhõn gõy ụ nhiễm biển.
2.2.4 Gia tăng mức tiêu thụ
Việt Nam là một nước đang phát triển về kinh tế, kinh tế phát triển kéo

nước tăng như sốt rét, tiêu chảy Các bệnh liên quan đến đường ruột bệnh
giun, bệnh sán máng, giun trong máu… các bệnh về hô hấp như viêm phổi,
ung thư phổi… Cuộc sống của con người đang bị đe doạ

16

2.4 Giải pháp giải quyết vấn đề
Trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tăng cường quan
hệ thương mại song phương với các nước trên thế giới và tiến hành thủ tục
đàm phán để gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới(WTO), tham gia tích
cực vào các định chế kinh tế khu vực như ASEAN, APEC, ASEM… và đặc
biệt là hiệp định thương mại Việt -Mỹ. Để hàng Việt Nam có chỗ đứng và
khả năng cạnh tranh với các nước khác chúng ta cần:
 Tăng cường kiểm tra, giám sát sự tuân thủ về pháp luật của các cơ sở
công nghiệp
 Khuyến khích sử dụng công nghệ và dây chuyền sản xuất tiết kiệm
năng lượng, nguyên liệu, phát triển nguồn năng lượng sạch, ít khí thải.
 Bắt buộc các nhà máy mối đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến, xây
dựng và vận hành hệ thống xử lí nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường.
 Lập quy hoạch môi trường song song với việc quy hoạch và phát triển
công nghiệp.
 Đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống tiêu thoát nước, xử lí nước thải công
nghiệp trước khi thải ra môi trường.
 Tổ chức và quản lý kịp thời đúng quy cách các loại chất thải rắn công
nghiệp, chất thải y tế và các loại chất thải khác.
 Thực hiện chủ chương xanh hoá đô thị và khu công nghiệp, xây dựng
hành lang xanh và vùng chuyển tiếp giữa khu công nghiệp và khu dân
cư.

17

quỏ trỡnh quy hoạch phát triển trước đây cần phải được vận dụng triệt để
cho quá trỡnh phỏt triển của tương lai sao cho tránh được những hậu quả có
thể xảy ra và đảm bảo hiệu quả cao nhất cho quá trỡnh phỏt triển kinh tế.
Chỳng ta bảo vệ mụi trường không phải nhằm mục đích hạn chế quá trỡnh
phỏt triển kinh tế mà nhằm mục đích đảm bảo hiệu quả kinh tế cao hơn cho
quá trỡnh phỏt triển tất yếu này, đồng thời nhằm bảo vệ chất lượng cuộc
sống của mỗi con người chúng ta. Do đó, bảo vệ môi trường và tăng trưởng
kinh tế có sự thống nhất.Có phát triển mới có kinh phí đầy đủ dành cho việc
bảo vệ môi trường và có bảo vệ môi trường mới đảm bảo sự phát triển lâu
dài và ổn định.
19

Tài liệu tham khảo
G.s Lờ Quý An, Du lịch và môi
trường, Tạp chớ Du lịch, số 12,
1999.
Nguyễn Anh, Hội thảo khoa học
về môi trường chuyên ngành mỏ,
luyện kim, hoá chất, Tạp chớ Cụng
nghiệp, số 19, 1999.
Craig Leisher, Môi trường Việt
Nam những điều cần làm, Tạp chí
Bảo vệ môi trường, số 7, 2001.
Lê Minh Đức, Bảo vệ môi trường
và vấn đề phát triển bền vững ở
Việt Nam, Con số và sự kiện, số
12, 1999.

2001.
Lõm Minh Triết, Nguyễn Thanh
Hựng, Một vài giải pháp môi
trường cho các cơ sở sản xuất vừa
và nhỏ, Tạp chí Bảo vệ môi
trường, số 7, 2001.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status