Trường Đại Học Thương Mại
Khoa Sau Đại Học
------o0o-----
Company
LOGO
Khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Châu Á
1997 -1999
Diễn biến, nguyên nhân, hậu quả và bài học
GVHD : PGS.TS. Nguyễn Văn Thanh
SVTH : NHóm 1 CHKT17A
03/03/16
Nhóm 1 CHKT17A
1
I. Diễn biến của khủng hoảng kinh tế - tài chính
1997-1999 ở một số nước Châu Á
Quốc gia/tỷ giá bình quân
Năm 1996
Năm 1997
Thái Lan Baht/USD
25,61
47,25
Philippines Peso/USD
26,29
39,5
Malaysia Ringgit/USD
2,52
3,88
Indonesia Rupiah/USD
2,31
5,4
động
Số ngân
hàng bị
quốc hữu
hóa/Chín
h phủ
giám sát
56
1
Thái Lan
108
Malaysia
61
Indonesia
228
16
Hàn Quốc
56
11
83
83%
2
18
18%
Nhóm 1 CHKT17A
4
Tổng số
ngân
hàng có
vấn đề
4
I. Diễn biến của khủng hoảng kinh tế - tài chính
1997-1999 ở một số nước Châu Á
Biểu hiện bên ngoài thứ ba của tình trạng khủng hoảng kinh tế tài chính là
Khoảng 80% doanh nghiệp ngưng hoạt
động
Năm 1997
14.000 doanh nghiệp phá sản
Năm 1998
53.000 doanh nghiệp phá sản
03/03/16
Nhóm 1 CHKT17A
5
I. Diễn biến của khủng hoảng kinh tế - tài chính
1997-1999 ở một số nước Châu Á
Sự phá sản của hàng loạt ngân hàng, doanh nghiệp sẽ dẫn đến hai hậu quả
trực tiếp là số người thất nghiệp tăng mà và tăng trưởng kinh tế quốc gia
giảm sút.
Tăng trưởng kinh tế (%)
Tỷ lệ thất nghiệp (%)
Quốc gia
1996
Philippines
5,8
5,2
-0,5
9,5
10,4
3,3
Hàn Quốc
7,1
5,5
-5,8
2,3
2,5
8,0
03/03/16
Trước đó, giới khoa học kinh tế và chính trị ở nhiều nước và chuyên gia
kinh tế ở nhiều tổ chức quốc tế vẫn coi sự phát triển kinh tế với tốc độ
cao từ 7-9%/năm, kéo dài hàng chục năm ở Thái Lan, Indonesia,
Malaysia, Hàn Quốc là sự kỳ diệu của Châu Á.
Đến năm 1997, không có dự báo, cảnh báo điều sẽ xảy ra sau sáu tháng
và kéo dài suốt hai năm, đồng Baht và Rupiah, đồng Ringgit, đồng Won
bị phá giá với tốc độ chưa từng có; hàng chục ngàn doanh nghiệp, hàng
trăm ngân hàng, công ty tài chính bị phá sản, đình chỉ hoạt động; sáp
nhập, hàng triệu lao động mới bị thất nghiệp; ở Thái Lan, Indonesia,
Philippines, Hàn Quốc phải bầu Thủ tướng hay Tổng thống mới. Tăng
trưởng kinh tế từ 7-8%/năm trở thành âm 6-13%/năm.
Câu hỏi đặt ra với người dân, nhà doanh nghiệp, người quản lý chính
quyền và giới khoa học là tại sao xảy ra khủng khoảng dữ dội như vậy,
và tại sao nó lại có thể xảy ra ở những nước đó mà không ở nước
khác?
03/03/16
Nhóm 1 CHKT17A
8
Ảnh hưởng do các nhà đầu tư
nước ngoài và các nước khủng
hoảng gây ra
Các nước bị khủng hoảng
03/03/16
Nhóm 1 CHKT17A
9
II. Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế - tài chính
1997-1999 ở một số nước Châu Á
Qua đó ta thấy, khủng hoảng chỉ có thể nổ ra khi bên trong nền kinh tế
quốc gia đã tích luỹ bốn nguy cơ khủng hoảng là :
1. Sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp;
2. Sự kém hiệu quả các các ngân hàng, công ty tài chính;
3. Sự lên giá của đồng nội tệ;
4. Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán;
Và khi bên ngoài có một tác động quyết định là sự rút vốn tài chính của
các nhà đầu tư nước ngoài.
Khi đồng nội tệ bị lên giá do quốc gia duy trì tỷ giá hối đoái gần
như cố định quá lâu, yếu kém về xuất khẩu, giữ lãi suất cho vay
trong nước cao hơn lãi suất các đồng tiền mạnh ở nước ngoài
Nhóm 1 CHKT17A
11
II. Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế - tài chính
1997-1999 ở một số nước Châu Á
Vòng xoáy khủng hoảng thứ 3 tác động nhanh tới tỷ giá hối
đoái tăng: Một vài ngân hàng yếu kém phá sản gây tâm lý dẫn
tới việc rút tiền đồng loạt làm cho các ngân hàng tốt cũng mất
khả năng chi trả và phá sản.
vòng xoáy khủng hoảng thứ 4 tác động chậm hơn các vòng
trước: Khi tỷ giá hối đoái tăng mạnh, nợ ngoại tệ của các doanh
nghiệp tính bằng tiền nội địa sẽ tăng vọt, cùng với việc các
ngân hàng, công ty tài chính phá sản sẽ không có khả năng
cung ứng tín dụng cho các doanh nghiệp hoạt độn nữa. Các
doanh nghiệp nào hoạt động vốn đã kém hiệu quả thì giờ đây
sẽ không có đủ vốn để kinh doanh, càng sớm bị đẩy tới thua lỗ
và phá sản. Khi doanh nghiệp thua lỗ thì các ngân hàng, công
ty tài chính lại không đòi được nợ, sẽ càng phá sản nhanh hơn.
03/03/16
Nhóm 1 CHKT17A
12
II. Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế - tài chính
1997-1999 ở một số nước Châu Á
Thái Lan đã thực thi một chiến lược phát triển dựa vào xuất
khẩu từ thập niên 80. Năm 1986 đến 1990 tốc độ tăng trưởng
bình quân là 28%/năm. Năm 1992 và 1993 khoảng 13%/năm.
Năm 1994-1995 khoảng 20%/năm. Năm 1996 tăng trưởng xuất
khẩu hàng hoá và dịch vụ chỉ còn 3,4 % so với năm 1995.
Giá trị xuất khẩu theo đầu người đạt 63USD/ người năm 1991,
đã tăng lên 1.177USD/ người năm 1996.
03/03/16
Nhóm 1 CHKT17A
14
Năm
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
25,32
25,54
25,00
25,19
25,61
47,25
41,37
37,11
Lạm phát (%)
3,70
4,10
4,60
5,10
5,80
4,80
(40,09)
(48,20)
(63,40)
(63,90)
(55,10)
(40,60)
Cán cân thương mại
(Tỉ USD)
(5,90)
(4,16)
(4,30)
(3,70)
(7,70)
(9,50)
1,50
12,30
11,50
12,17
21,90
19,50
(15,80)
(9,50)
85,29
Đầu tư trực tiếp thuần
( Tỉ USD)
1,85
1,57
1,57
0,87
1,13
1,41
3,47
8,81
16,64
14,54
(23,51)
60,04
35,99
39,61
45,84
50,99
65,00
89,00
97,00
43,60
45,70
39,90
40,10
42,80
39,80
39,10
5,40
5,56
4,86
4,65
4,92
5,94
ICOR (b/a)
29,50
40,00
5,20
II. Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế - tài chính
1997-1999 ở một số nước Châu Á
Ngân hàng kinh doanh ngày càng kém hiệu quả: Trong cùng thời gian này, tỷ lệ
lợi nhuận trên tài sản (ROA) của hệ thống ngân hàng Thái Lan đã giảm chỉ còn
0,99% năm [7]. Rõ ràng, Thái Lan đang tích lũy nguy cơ khủng hoảng "phá sản
các ngân hàng“.
Quốc gia tiến đến bờ vực mất khả năng thanh toán: Trong suốt các năm 1991 1996, cán cân thương mại của Thái Lan luôn bị thâm hụt, tổng cộng là 35,26 tỷ
USD. Một lý do của tình trạng này là do xuất khẩu bì kềm hãm, nhập khẩu được
khuyễn khích khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định (25 Baht/USD), lạm
phát trong nước cao hơn so với Mỹ (5% so với 3%), làm cho đồng Baht bị lên
giá so với đồng USD. Để bù đắp khoản thâm hụt thương mại 35,26 tỷ USD và để
có vốn đầu tư với mức bình quân 40% GDP mỗi năm, thì con đường không
tránh khỏi là phải vay tiền nước ngoài. Vì vậy, nợ nước ngoài của Thái Lan
không ngừng tăng, từ 35,99 tỷ USD năm 1991 lên 89 tỷ USD năm 1996, gấp 2,47
lần trong vòng 5 năm và bằng 54% GDP .
Tóm lại, cuối năm 1996 và đầu 1997, ở Thái Lan đã xuất hiện đầy đủ 4 nguy cơ
khủng hoảng ở mức cao.
Diễn biến khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Thái Lan:
Hậu quả của khủng hoảng và các đối phó:
03/03/16
Nhóm 1 CHKT17A
Nhóm 1 CHKT17A
19