Mục lục
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
Đề tài môn Tài chính quốc tế:
Nhìn nhận khủng hoảng kinh tế - tài
chính châu Á 1997 – 1998. Liên hệ
Việt Nam trong quá trình hội nhập
Giáo viên hướng dẫn: Ts.Lê Tuấn Lộc
Nhóm 5-Rủi Ro Group-K09402B:
1. Nguyễn Sử Phương Anh K094020264
2. Nguyễn Hoàng Lệ Nga K094020318
3. Lương Thị Bích Ngọc K094020325
4. Cao Phan Quí K094020343
5. Nguyễn Cao Thế K094020354
6. Phan Tuấn K094020380
Mục lục
ii
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1
1.1 Khủng hoảng tài chính 1
1.2 Một số loại khủng hoảng tài chính 1
1.3 Đầu cơ 2
1.4 Bất động sản 2
1.5 Tăng trưởng nóng 2
Tóm tắt chương 1. 3
CHƯƠNG 2. KHỦNG HOẢNG KINH TẾ-TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997-1998 4
KẾT LUẬN 25
Phần mở đầu
iv
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trước năm 1997, kinh tế ở các nước Đông Á vẫn tiếp tục phát triển sau một thời
gian dài tăng trưởng ngoạn mục.Nhưng nền kinh tế đột nhiên có những biến đổi
nghiêm trọng dẫn tới khủng hoảng tiền tệ. Trước hết, đồng Baht mất giá thê thảm ở
Thái Lan, sau đó nhanh chóng lan tỏa sang Hàn Quốc, Indonesia, rồi tới Hồng Kông,
Malaysia, Philippines. Không dừng lại, chỉ mấy tháng sau, cuộc khủng hoảng đã mang
tính toàn cầu khi lôi kéo Nga, Brasil vào vòng xoáy. Rất may, cùng với Trung Quốc,
Đài Loan, Singapore, Việt Nam nằm trong nhóm các các nước ở Châu Á ít bị ảnh
hưởng nhất.
Dù đã hơn 10 năm trôi qua, đã có hàng nghìn trang sách về sự kiện này, tốn rất
nhiều giấy bút của các chuyên gia. Chính vì thế với vai trò là sinh viên năm 3 của khối
ngành kinh tế, chúng tôi muốn tìm hiểu một cách chi tiết hơn về nguyên nhân, diễn
biến và hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997 -1998.
“Khủng hoảng như vậy do những nguy cơ nào? Việt Nam có hay không sự tồn
tại những nguy cơ ấy? Nếu có, thì nền kinh tế Việt Nam cũng sẽ rơi vào khủng hoảng
trong một tương lai gần hay chăng?”. Đó là những câu hỏi cứ xuất hiện mãi trong đầu
chúng tôi. Nhằm giải quyết những câu hỏi gây tò mò này, nhóm nghiên cứu sẽ đi tìm
bản chất của cuộc khủng hoảng qua nhiều khía cạnh khác nhau để liên hệ cụ thể với
Việt Nam, từ khi nước ta tham gia vào quá trình hôi nhập. Đó cũng chính là những lí
do đề tài mang tên: “Nhìn nhận khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997 – 1998.
Liên hệ Việt Nam trong quá trình hội nhập”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997 -1998
thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong đó bao gồm: nguyên nhân, diễn biến
- Phương pháp luận: sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp thu thập thông tin: tìm kiếm nguồn thông tin phục vụ đề tài thông
qua dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
- Là nguồn tài kiệu quan trọng trong việc cung cấp khá nhiều thông tin về cuộc
khủng hoảng châu Á 1997 – 1998 dưới nhiều cách nhìn nhận khác nhau.
- Cung cấp các bài học cho nền kinh tế Việt Nam và các nước trên thế giới theo
quan điểm của tác giả.
- Dựa trên phân tích kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập và so sánh đối
chiếu với những nguy cơ của khủng hoảng châu Á 1997, giúp có cái nhìn rõ hơn về
nền kinh tế Việt Nam và đặc biệt là góp phần nào để Việt Nam tránh được khủng
hoảng trong tương lai.
7. Tổng quan đề tài:
Về khủng hoảng kinh tế - tài chính 1997 – 1998, đây không là vấn đề khá xa lạ
nựa nên đã có rất nhiều tài liệu nói đến vấn đề này dưới nhiều góc nhìn khác nhau. Do
đó, đề tài này cũng tham khảo nhiều thông tin từ nhiều nguồn khác nhau dưới nhiều
khía cạnh và góc độ khác nhau của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Chằng hạn như
có khía cạnh của GS.Nguyễn Thiện Nhân khi nói về khủng hoảng 1997.
Tuy nhiên, ngoài mục đích là tìm hiểu cuộc khủng hoảng cuộc khủng hoảng dưới
nhiều cách nhìn khác nhau, mà còn là liên hệ với Việt Nam từ khi tham gia quá trình
hội nhập. Để dự đoán trong tương lai dựa trên cơ sở khoa học và quan điểm của tác giả
nên đây vẫn là một vấn đề khá mới và mang tính thực tiễn hiện nay.
Để giải quyết tất cả những vấn đề nêu ra,đề tài gồm 3 chương:
+ Chương 1: Nêu ra một số cơ sở lí thuyết liên quan đến khủng hoảng châu Á
1997-1998.
+ Chương 2: Tìm hiểu rõ nguyên nhân, diễn biến và hậu quả của cuộc khủng
hoảng dưới góc nhìn cổ điển và hiện đại.
Phần mở đầu
vi
không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ
hoặc xin tuyên bố vỡ nợ.
- Khủng hoảng tiền tệ:
Hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn hay đáp ứng nhu cầu
(cả thực tế và giả tạo do đầu cơ) buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy
trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giá nội tệ làm cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng.
- Khủng hoảng thị trường tài chính:
Sự rối loạn nặng nề trên thị trường vốn. Ồ ạt rút tiền gửi từ các ngân hàng thương mại,
thu hẹp đáng kể quy mô tín dụng, tăng số vụ phá sản. Giá chứng khoán biến động
mạnh ngoài tầm kiểm soát hay do hiệu ứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị bán đổ
bán tháo; thu hẹp phát hành. Xảy ra khi thị trường bị “đông cứng’ vì không có giao
dịch, tạo ra sự mất cân đối giữa tiền (chứng khoán) vào, ra thị trường chứng khoán.
- Khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế: (Cán cân thanh toán vãng lai, cán cân
vốn)
Khủng hoảng xảy ra khi các cán cân này thâm hụt quá nặng trong thời gian dài và
không có nguồn bù đắp. Khủng hoảng cán cân thanh toán vãng lai thường xảy ra khi
cán cân thương mại bị thâm hụt. Khủng hoảng cán cân thanh toán khi tổng các luồng
ngoại tệ ra lớn hơn luồng ngoại tệ vào (tổng cán cân vãng lai và tài khoản vốn) gây nên
thâm hụt nặng nề.
- Khủng hoảng khả năng thanh khoản:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết
2
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
Phản ánh sự mất cân đối chủ yếu liên quan tới thời hạn và chủng loại của các giấy tờ có
giá và một số loại tài sản tài chính đặc thù.
- Khủng hoảng ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước thâm hụt kéo dài trong khi các nguồn bù đắp bị hạn chế hoặc
không thể lạm dụng hơn nữa nếu muốn tránh hậu quả vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát.
1.3 Đầu cơ
1.5 Tăng trưởng nóng
Tăng trưởng nóng là hiện tượng nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc, vượt mức sản
lượng tiềm năng. Tại mức sản lượng tiềm năng các tiềm lực kinh tế được sử dụng một
Chương 1. Cơ sở lý thuyết
3
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
cách hiệu quả nhất, tỷ lệ lạm phát vừa phải, thất nghiệp thấp nhất, tức là vẫn còn một tỷ
lệ thất nghiệp tự nhiên cho phép để ổn định nền kinh tế. Tăng trưởng nóng tạo nên một
số chỉ tiêu vượt bậc về kinh tế từ đó gây ra một số hệ quả không tốt cho nền kinh tế. Có
4 dấu hiệu chính để nhận biết một nền kinh tế tăng trưởng nóng là lạm phát và giá
chứng khoán tăng nhanh, đầu tư trong nước và nhập khẩu hàng tiêu dùng gia tăng
mạnh.
Tóm tắt chương 1.
Qua chương đầu tiên chúng ta đã biết được thế nào là khủng hoảng tài chính, các
loại khủng hoảng tài chính, bất động sản, đầu cơ và tăng trưởng nóng. Nguyên nhân,
diễn biến và hậu quả sẽ được trình bày trong chương 2. Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
4
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
CHƯƠNG 2. KHỦNG HOẢNG KINH TẾ-TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997-1998
2.1 Tiếp cận dưới góc nhìn cổ điển
Đây là cách tiếp cận một cuộc khủng hoảng theo kiểu logic “nếu A thì B” hay nói cách
khác đi từ nguyên nhân A, B, C để dẫn đến kết cục D (khủng hoảng)
2.1.1 Nguyên nhân khủng hoảng.
hơn dự trữ ngoại tệ có nghĩa là trong thời gian ngắn nền kinh tế sẽ không có khả năng chi trả.
Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
5
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
Bảng: Nợ ngắn hạn vào quý II năm 1997
Nợ ngắn hạn nước
ngoài ( tỷ USD)
Dự trữ ngoại tệ
( tỷ USD)
Tỷ lệ nợ ngắn hạn
so với dự trữ
Hàn Quốc
Thái Lan
Indonesia
Malaysia
Philippines
70,18
45,57
34,66
16,27
8,29
34,07
31,36
20,34
26,59
9,8
dự trữ ngoại tệ thấp. Dân chúng thì lạc quan vay tiền ở nước ngoài với lãi suất rẻ để đầu tư vào
trong với lợi suất cao nhờ chính sách ưu đãi và sự bảo vệ của nhà nước. Trong 2 năm giá USD
tăng 25 % nhưng chính phủ không có sự điều chỉnh tỉ giá thích ứng. Giá đồng baht tăng làm
suy yếu nhanh chóng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu và làm tăng tương ứng nợ nước
ngoài, gây ra nạn đầu cơ tiền tệ, kích thích nhu cầu ngoại tệ giả tạo, nhập khẩu gia tăng, thúc
đẩy thâm hụt cán cân thương mại và tài khoản vãng lai. Ngoài ra do hệ thống tín dụng hoạt
Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
6
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
động yếu kém, sự dễ dãi trong quản lý tiền mặt và mua bán ngoại tệ tự do,sự chiếm dụng vốn,
nợ đọng khó đòi, sự mất cân đối giữa đầu tư và tiêu dùng quá mức là nguyên nhân làm tăng
cường độ khủng hoảng.
d. Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán
Sự sụt giá trên thị trường BĐS và TTCK làm các nhà đầu tư lo ngại về tính bền vững của
hệ thống tài chính của Thái Lan. Thâm hụt tài khoản vãng lai cao tạo nên kỳ vọng về sự phá giá
của đồng baht. Từ giữa năm 1996, đồng Baht đã được bán ra hàng loạt. Những người vay ngoại
tệ trước đây tin rằng tỷ giá hối đoái được cố định thì nay bắt đầu lo ngại và cũng mua đô la vào
để đảm bảo có đô la để trả nợ khi đáo hạn. Chính phủ Thái Lan ban đầu dùng dự trữ ngoại tệ để
bảo vệ tỷ giá nhưng cũng không có khả năng duy trì được lâu. Đồng Baht được thả nổi vào đầu
tháng 7 năm 1997.
Đi liền với khủng hoảng tiền tệ là khủng hoảng ngân hàng. Lãi suất cao trong thời gian
chính phủ bảo vệ tỷ giá buộc cả các tổ chức tài chính và các đối tượng vay vốn lâm vào tình thế
khó khăn. Hàng loạt công ty tài chính của Thái Lan phá sản trước cả khi phá giá đồng baht. Và
khi đồng baht bị phá giá, trách nhiệm nợ phải trả tính ra đồng nội tệ của các khoản nợ nước
ngoài tăng vọt, kéo theo sự phá sản của nhiều doanh nghiệp và tổ chức tài chính nữa.
e. Sự rút vốn ồ ạt và phối hợp không tốt giữa các nhà đầu tư.
Radelet và Sachs (1998) đưa ra ý tưởng rằng trục trặc ở Đông Á nảy sinh do nhà đầu tư
mất niềm tin và khủng hoảng xảy ra là một cuộc khủng hoảng mất tính thanh khoản. .Sự thất
bại trong phối hợp đã làm cho các nhà đầu tư đồng loạt rút vốn. Một ngân hàng đang hoạt động
đến 8%. Tuy nhiên, chỉ tiêu GDP mới phản ánh đầu ra của nên kinh tế mà chưa đề cập đến đầu
vào. Trong khi đó từ năm 1991-1996, đầu tư Thái Lan rất cao, hàng năm chiếm khoảng 40%
GDP. Tăng trưởng cao dựa trên hiệu quả kinh tế cao của sản xuất kinh doanh mới lâu bền, tăng
trưởng cao mà chi phí tăng trưởng thấp thì mới bên vững. Bình quân từ năm 1991 tới 1996, hệ
số ICOR của Thái Lan là 5,22. Tức là phải đầu tư 5,22 Baht thì GDP mới tăng 1Baht.
+ Các doanh nghiệp kinh doanh ngày càng kém hiệu quả: tăng trưởng GDP ở mức cao,
kéo dài nhiều thập kỷ, cộng thêm lãi suất tiết kiệm trong nước cao (bình quân 16.3%, trong khi
ở Mỹ là 7,6), và tỉ giá hối đoái gần như cố định tạo ra môi trường kinh doanh khá hấp dẫn cho
các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư tài chính, cho vay ngắn hạn và tín dụng thương
mại. Như vậy, các doanh nghiệp trong nước nếu vay vốn trực tiếp từ các ngân hàng, công ty
nước ngoài như Mỹ thì chỉ chịu lãi suất khoảng ½ lãi suất cho vay trong nước. Nếu các doanh
nghiệp tận dụng khả năng sử dụng vốn bên ngoài này không quan tâm thực sự đến hiệu quả sử
dụng vốn vay thì hiệu quả kinh tế sẽ giảm, dù tổng giá trị sản lượng có thể tăng.
Việc sử dụng đến gần 90% nguồn vốn nước ngoài ở dạng đầu tư tài chính và tín dụng
ngắn hạng sẽ tạo áp lực tài chính rất lớn lên các công ty, vì phải trả lãi thường xuyên và bằng
ngoại tệ. Hậu quả, là nếu quản lý kinh doanh không tốt thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty sẽ thấp. Hơn nữa, tỉ suất thu hồi hay tỉ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) bình quân của
doanh nghiệp đã giãm từ 8%/năm vào năm 1991 xuống chỉ còn 1%/năm vào năm 1996. Trong
một nên kinh tế mà lãi suất cho vay là 16,3%/năm, còn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
là 1%/năm thì rõ ràng đã đang tích lũy nguy cơ khủng hoảng ‘phá sản doanh nghiệp’
+ Ngân hàng kinh doanh ngày càng kém hiệu quả: Trước nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp và do có phần buông lơi vai trò giàm sát hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đi
vay nên các ngân hàng và công ty tài chính Thái Lan rất tích cực vay nợ từ nước ngoài để tài
trợ cho doanh nghiệp trong nước.
+ Quốc gia tiến đến bờ vực mất khả năng thanh toán: trong suốt các năm 1991 -1996,
cán cân thương mại của Thái Lan luôn bị thâm hụt, tổng cộng là 35,26 tỉ USD/ Thâm hụt tài
khoản vãn lai năm 1996 tới 14.6 tỉ USD.
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng
năm là 9%. Nhưng đếncuối năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm xuống chỉ còn 6,4%, nợ
nước ngoài tăng quá lớn so với dự trữ ngoại tệ (nợ 90 tỷ USD, trong đó nợ ngắn hạn chiếm tới
đây, nó đã kéo theo phản ứng giảm giá dây chuyền đối với các đồng tiền trong khu vực như: đô
la Singapore giảm giá 5%, Peso Philippines 9 - 10% Ngày 14 và ngày 15 tháng 5 năm 1997,
đồng Baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức
56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280
cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ
141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị
phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho
Thái Lan. Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar.
2.1.2.2 Philippines
Tháng 5/1997, Ngân hàng Trung Ương (NHTW) Philippines tăng lãi suất lên1,75 điểm
phần trăm và tiếp tục tăng lên 2 điểm vào tháng 6/1997. Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái
Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường
ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ
15% lên 24%. Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào
năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng.
Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ
bê bối của tổng thống Joseph Estrada. Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng
Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
9
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
hợp PSE (Philippine Stock Exchange) của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn
khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997. Nó kéo theo việc đồng peso
thêm mất giá.Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm
tổng thống.
2.1.2.3 Hong kong
Cuộc khủng hoảng nổ ra 24 giờ sau khi Vương Quốc Anh trao trảHong Kong lại cho
Trung Quốc. Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá
7,8 HKD/USD. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ. Đây là cơ sở để cho
1
Chỉ số Hang Seng là chỉ số chứng khoán được xây dựng dựa trên giá trị vốn hóa thị trường của các công ty lớn nhất ở
Hồng Kông
Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
10
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD. Dù có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện
GDP trên đầu người, nhưng sau khủng hoảng, nợ quốc gia của Hàn Quốc tăng gấp ba lần so với
trước đó.
2.1.2.5 Malaysia
Trước khủng hoảng, tài khoản vãng lai của Malaysia thâm hụt 5%. Malaysia là quốc gia
nhận được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, điều này phản ánh qua việc KLSE (sàn giao dịch
chứng khoán chính thức của Malaysia) được coi là sàn giao dịch có hoạt động mạnh nhất trên
thế giới (tổng giá trị giao dịch thậm chí vượt qua cả NYSE mặc dù có mức vốn hóa thị trường
thấp hơn rất nhiều). Ở thời điểm đó, mọi người đều kỳ vọng quốc gia này tiếp tục duy trì tốc độ
tăng trưởng và trở thành nước phát triển vào năm 2020. Vào thời điểm trước khi xảy ra khủng
hoảng, KLSE Index đang ở mức 1.200, đồng ringgit được giao dịch ở tỉ lệ 2.5:1 so với USD, lãi
suất qua đêm dưới 7%. Lãi suất qua đêm tăng từ dưới 8% lên 40%, làm cho mức đánh giá tín
dụng tụt xuống và xảy ra làn sóng bán chứng khoán và tiền tệ ồ ạt. Ngay sau khi Thái Lan thả
nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng
khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh. Ringgit đã giảm từ mức 3,75
Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar. Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là
từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài. Những người tham gia thị
trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự
tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai. Kết quả là lãi suất trong nước của
Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài. Lượng vốn chảy ra đạt tới
mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997. Năm 1998, GDP giảm 6,2%, đồng
Châu Á khác ở trong tình trạng thâm hụt cán cân thương mại với Nhật Bản. Vào cuộc khủng
hoảng, đồng yen Nhật giảm còn 147:1 với USD khi có những đợt bán ra ồ ạt. Tốc độ tăng
trưởng GDP của Nhật giảm từ 5% xuống còn 1,6%. Cuộc khủng hoảng Châu Á cũng làm một
số doanh nghiệp ở Nhật phá sản.
2.2 Cách tiếp cận theo hướng hiện đại
Với mục đích là làm rõ hơn nguyên nhân, diễn biến của cộng khủng hoảng tài chính – tiền
tệ châu Á 1997-1998. Nhóm đã có cách tiếp cận theo cách khác. Nếu như cách tiếp cấn trên là
theo kiểu logic đi tìm các lí do A, B, C để dẫn tới kết cục D (khủng hoảng). Còn theo cách tiếp
cận mới này, đề tài không tìm lí do theo kiểu khủng hoảng theo kiểu logic “nếu A thì B”, mà
coi khủng hoảng là kết quả của một quá trình tích lũy các tiền đề có thể gây khủng hoảng từ
thấp đến cao, là một quá trình chuyển đổi lượng thành chất. Tức là khủng hoảng có thể được
khởi động từ rất lâu bởi các thay đổi có quy mô nhỏ hàng năm, có vẻ rất không nguy hiểm,
song được tích lũy dần dần và tiến tới bùng nổ do sự chín muồi bên trong nền kinh tế hoặc
trước một số tác động bên ngoài. Tất cả cách nhìn này dựa trên mô hình “Các nguy cơ khủng
hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính” của GS. Nguyễn Thiện Nhân.
2.2.1 Mô hình “Các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh
tế - tài chính”
Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
12
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
Qua biểu đồ ta thấy, khủng hoảng chỉ có thể nổ ra khi bên trong nền kinh tế quốc gia đã tích lũy
4 nguy cơ khủng hoảng là:
+ Sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp
+ Sự kém hiệu quả của các ngân hàng, công ty tài chinh
+ Sự lên giá của đồng nội tệ
+ Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán
Và khi bên ngoài có 1 tác động quyết định là sự rút vốn tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài.
Khi đồng nội tệ lên giá do quốc gia duy trì tỷ giá hối đối gần như cố định quá lâu, yếu
kém về xuất khẩu, giữ lãi suất cho vay trong nước cao hơn lãi suất các đồng tiền mạnh ở nước
13
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
Tóm lại, theo mô hình chúng ta nhận ra khủng hoảng kinh tế - châu Á 1997 – 1998 đã nổ
ra với các điều kiện bên trong là tích lũy 4 nguy cơ khủng hoảng và dưới tác động lẫn nhau của
4 vòng xoáy khủng hoảng và dưới tác động dây chuyền của phá giá nội tệ.
2.2.2 Phát triển mô hình “các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng
hoảng kinh tế - tài chính” ở nước Thái Lan.
Nếu phần trên là mô hình chung để nhìn nhận một cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính.
Thì tiếp theo đề tài sẽ phát triển mô hình cho một nước cụ thể đó là Thái Lan – nơi bắt nguồn
cuộc khủng hoảng châu Á 1997-1998.
Với các số liệu về tình hình Thái Lan trước khi bị khủng hoảng, thì ta có thể thấy rằng:
Thực tế ở Thái Lan từ cuối năm 1996 và đầu năm 1997, ở Thái Lan đã xuất hiện đầy đủ 4 nguy
cơ khủng hoảng ở mức cao. Đó là:
+ Các doanh nghiệp kinh doanh ngày càng kém hiệu quả
+ Ngân hàng kinh doanh ngày càng kém hiệu quả
+ Quốc gia tiến đến bờ vực mất khả năng thanh toán
Đồng Baht lên giá, do tỷ giá hối đoái gần như cố định (25,34 Baht/USD), đồn Baht bị lên giá
25%, thâm hụt tài khoản vãng lai 14,7 tỉ USD.Tương tự, ta cũng có mô hình tương tự cho quá
trình khủng hoảng ở Thái Lan:
Mô hình: các tiền đề và cơ chế khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Thái Lan 1997
Khi đã xuất hiện 4 nguy cơ khủng hoảng, những người có đủ thông tin về các nguy cơ này
tất sẽ lo lắng. Lo sợ các ngân hàng và tổ chức tài chính phá sản sẽ thúc đẩy họ rút tiền ra khỏi tổ
Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
14
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
chức này. Lo sợ tỉ giá hối đoái tăng, đồng Baht mất giá sẽ khiến họ đổ xô đi mua USD, làm cầu
USD tăng.
2.3.1 Hậu quả tới nền kinh tế:
- Cuộc khủng hoảng tài chính 1997 có thể khiến cho một đất nước từ trạng thái tăng
trưởng cao nhanh chóng rơi vào tình trạng suy thoái, sụt giảm kinh tế trầm trọng. Không chỉ có
vậy, đồng tiền trong nước mất giá liên tục làm cho tình trạng vay nợ, xét trên góc độ đồng nội
tệ, thêm trầm trọng, ngay cả khi trên thực tế giá trị tài sảncủa họ không hề thay đổi. Một kết quả
tất yếu khác từ sự mất giá tiền tệ là lạm phát thực tế và lạm phát kỳ vọng đều tăng, từ đó lãi
suất trên thị trường cũng tăng chóng mặt. Doanh nghiệp và các hộ gia đình do đó cũng phải
thanh toán lãi suất rất cao, tác động tiêu cực đến bảng cân đối tài sản của họ.
Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
15
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
- Thị trường nợ ở các quốc gia mới nổi khu vực Đông Á có đặc trưng là những hợp đồng
nợ có kỳ hạn rất ngắn, thường là dưới một tháng. Do đó lãi suất ngắn hạn tăng lên ở những
quốc gia này đồng nghĩa với tác động rất lớn đến dòng tiền và bảng cân đối kế toán của các đơn
vị trong nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng còn phải đối mặt với một vấn đề trầm trọng khác là
khối lượng rất lớn những khoản nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ, trong khi đồng tiền trong nước bị
phá giá. Giá trị của những khoản nợ này tăng lên vùn vụt và tiếp tục làm tiêu hao đi lượng tài
sản thực đang còn rất ít của các ngân hàng. Khi mà hoạt động cấp tín dụng và cho vay sụt giảm
thì cũng đồng nghĩa với việc các hoạt động của nền kinh tế bị đình trệ và tốc độ tăng trưởng
GDP thực cũng sẽ sụt giảm theo. Nguồn lực bị bào mòn, ngân hàng không còn đủ khả năng cho
vay, khi hoạt động cho vay không còn được tiếp tục, các hoạt động của nền kinh tế bị thu hẹp là
điều dễ hiểu và tất yếu.
- Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ,
sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh nghiệp bị
phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998.
Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan.
2.3.2 Hậu quả tới xã hội:
- Sự mất giá đồng tiền mở đầu cho cuộc khủng hoảng đã gần như ngay lập tức tác động
tới giá hàng hóa và dịch vụ. Lạm phát không chỉ giảm thu nhập thực tế mà cùng với sự sụp đổ
Indonesia Hàn Quốc Malaysia Philippines Thái Lan
1997
1998
Chương 2. Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
16
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
- Biểu đồ: Tỉ lệ thất nghiệp 1997 - 1998
- Tỉ lệ đói nghèo ngày càng gia tăng trong giai đoạn 1997 -1998. Phân biệt xã hội càng
thêm mở rộng khoảng cách. Tại Hàn Quốc, khủng hoảng đã khiến cho tỉ lệ đói nghèo tăng
mạnh từ 3% (quí IV năm 1997) đến 6.4% (suốt quí I năm 1998) và chạm mức 7.5% (quí III
năm 1998). Tại Malaysia, tỉ lệ này tăng từ 6.8% đến 7.6% (1998).
- Ngân sách cho giáo dục và y tế cộng đồng tại các nước khủng hoảng bị cắt giảm không
thương tiếc để dồn ngân sách bù đắp cho nền kinh tế.
- Tỉ lệ tội phạm và bạo lực cũng tăng cao trong giai đoạn 1997 -1999 tại những nước
Đông Á này. Mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở Indonesia và Chavalit
Yongchaiyudh ở Thái Lan là một ví dụ điển hình. Tâm lý chống phương Tây gia tăng cùng với
sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các phòng trào Hồi giáo
và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu.
- Tại Hàn Quốc và Malaysia, ngân sách chính phủ dành cho việc bảo vệ môi trường cũng
bị cắt giảm mạnh. Chính phủ Hàn Quốc đã cắt giảm 12% chi phí bảo vệ môi trường trong ngân
sách bổ sung năm 1998. Chính phủ Malaysia thì cắt giảm phần ngân sách của Bộ Khoa học,
công nghệ và môi trường.
Không những gây hậu quả nghiêm trọng tới nền kinh tế Đông Á, cuộc khủng hoảng tài chính
1997 còn có tác động không nhỏ tới xã hội.
Tóm tắt chương 2:
Qua chương 2, đề tài đã mang lại 2 cách tiếp cận: theo kiểu cổ điển và theo kiểu hiện đại
để có cái nhìn rõ nét, và dễ hiểu nhất về cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997.Tuy
là 2 cách tiếp cận khác nhau nhưng bản chất của nó là một, hai cách này nhằm hỗ trợ và bổ
như Indonesia, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc và Thái Lan, kéo theo việc đầu tư dư
thừa vào một số ngành kinh tế.
Việc dư thừa nguồn tín dụng còn dẫn đến tình trạng lãng phí, với cuộc chạy đua
sở hữu tòa nhà cao nhất thế giới ở các nước châu Á là một ví dụ. Tệ hơn, việc “thừa
tiền” còn châm ngòi cho sự phát triển bong bóng của thị trường bất động sản, từ đó lại
quay lại tình trạng dư thừa tín dụng, vì các ngân hàng cho vay nhiều hơn giá trị thực
của tài sản thế chấp. Kết quả là khi “bong bóng” vỡ, các ngân hàng phải hứng chịu hậu
quả.
Hệ thống ngân hàng với sự giám sát lỏng lẻo còn cho phép các ngân hàng có tỷ lệ
vốn lưu động không phù hợp. Theo số liệu năm 1997 của Ngân hàng Thanh toán Quốc
tế (BIS), ở Philippines (17%), Hồng Kông (18%) và Singapore (19%), tỷ lệ này cao
hơn nhiều so với tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế.
Nguy cơ dư thừa vốn
Chính phủ của các nền kinh tế mới nổi không thể làm gì nhiều để ngăn “lũ” vì
nguồn cơn của sự mất cân bằng trên thị trường tài chính quốc tế không nằm trong tầm
kiểm soát trực tiếp của họ.
Chương 3: Bài học rút ra và tầm nhìn Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
18
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á không phải chỉ do người châu Á gây ra.
Ngân khố của hầu hết các nền kinh tế châu Á đều ở mức cân bằng hoặc thặng dư, và
không hề có lạm phát. Cuộc khủng hoảng xảy ra phần nhiều là do những thay đổi về
mô hình của hoạt động trung gian tài chính quốc tế.
Sự mở rộng đáng kể của khả năng thanh khoản quốc tế vào thập niên 90 đã làm
gia tăng sự cạnh tranh trong ngành dịch vụ tài chính trên toàn thế giới. Vì thế, các giám
đốc tài chính buộc phải tìm kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn, thông qua các dự án
đầu tư mạo hiểm.
Chính sách kinh tế vĩ mô của các cường quốc kinh tế đóng vai trò quan trọng
trong sự mở rộng của khả năng thanh khoản quốc tế. Ví dụ như ở Mỹ, việc thâm hụt
19
Rủi Ro Group-Nhóm 5_K09402B
nhỏ hơn khả năng sinh lời của doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp có tính
cạnh tranh cao, thì doanh nghiệp có thể sẽ càng phát triển nhanh và hiệu quả kinh
doanh cao.
Thứ ba, cần có một tổ chức chuyên trách của chính phủ theo dõi sự biến động
của lạm phát, tỉ giá hối đoái, lãi suất tín dụng trong nước và quốc tế, cán cân tài khoảng
vãng lai, nợ quốc gia, hiệu quả kiinh doanh của các doanh nghiệp để đề suất chính sách
và điều tiết cần thiết, đảm bảo phát triển quốc gia bền vững với tăng trưởng tương đối
cao.
3.2 Những nguy cơ có thể gây ra khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện tại
Tất cả những phần trên, đề tài đã đề cập đến nguyên nhân, diễn biến, hậu quả và
những bài học mang lại cho Việt Nam từ cuộc khủng hoảng châu Á 1997. Vậy dựa trên
những khía cạnh ấy, đề tài chúng tôi sẽ đề cập đến những nguy cơ có thể gây ra khủng
hoảng tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, và xem xét Việt Nam có thể bị
khủng hoảng như vậy hay không.
3.2.1 Nguy cơ từ bên trong
Có thể nói nguy cơ từ bên trong xuất phát từ nội tại nền kinh tế, từ sự bất cập của
hệ thống tài chính, cơ chế chính sách, quản lí trong quá trình mở cửa và tự do hóa
thương mại. Những nguy cơ đó là:
- Tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng tăng trưởng thấp: Nếu như tốc độ tăng
trưởng kinh tế 1986 – 1990 là 4,4%, giai đoạn 1991 – 1995 là 8,18%, giai đoạn 1996 –
200 là 6,95% thì giai đoạn 2001 – 2995 là 7,51%. Con số tương ứng là 8.17% và
8.48% trong các năm 2006 và 2007. Tuy nhiên liên quan đến vấn đề chất lượng tăng
trưởng,có thể nói tốc độ tăng trưởng của Việt Nam không cao vì hiệu quả đầu tư còn
thấp, được thể hiện qua chỉ số ICOR – là hệ số cho biết số đơn vị đầu tư (tính theo %
của GDP) cần thiết để đạt được 1% đơn vị tăng trưởng GDP, nghĩa là nếu chỉ số này