Đề tài
Cuộc khủng hoảng kinh tế -
tài chính – tiền tệ ĐNÁ –
Châu Á (Thái lan)
Friendship_TCNHEK33 Page 1
NHÓM FRIENDSHIP
CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM:
1. Nguyễn Thị Thu Hoài ( Nhóm Trưởng)
2. Nguyễn Thị Ngọc Vân
3. Đỗ Văn Thành
4. Lê Bá Tịnh
5. Lê Đăng Nhật Quyền
6. Nguyễn Tuấn Vũ
7. Võ Thị Thơm
8. Nguyễn Văn Lợi
Friendship_TCNHEK33 Page 2
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, đặt biệt là sự phát triển
của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, ngân hàng – các tổ chức tín dụng.
đã và đang thu hút một lượng lớn nguồn ngoại tệ đầu tư từ nước ngoài. Đây là
nguồn ngoại tệ lớn, quan trọng giúp tốc độ tăng trưởng kinh tế phát triển mạnh.
Bên cạnh đó, nó hàm chứa nhưng nguy cơ rủi ro cao và có khả năng xảy ra khủng
hoảng tài chính - kinh tế.
Để sử dụng tốt nguồn ngoại tệ này, đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được những cơ
chế, chính sách phù hợp. muồn làm được như vậy, mọi người cần tìm hiểu các bài
học kinh nghiêm từ những cuôc khủng hoảng kinh tế - tài chính - tiền tệ đã xảy ra
trước đây trong khu vực và trên thế giới.
Đây là lí do mà nhóm friendship – chúng tôi chọn chuyên đề:” cuộc khủng hoảng
kinh tế - tài chính – tiền tệ ĐNÁ – Châu Á (Thái lan)”.
Friendship_TCNHEK33 Page 3
LỜI CẢM ƠN
b. Khủng hoảng ngân hàng
Là tính bất ổn của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những thông
tin bất cân xứng, là tình trạng khi một bên trong mối quan hệ kinh tế
hay giao dịch có ít thông tin về phía bên kia.
c. Khủng hoảng kép
Là khủng hoảng xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng
ngân hàng xảy ra đồng thời với nhau
d. Khủng hoảng nợ nần
Là khủng hoảng xảy ra ở các nước đang phát triển vào thập kỉ 80
thế kỷ XX. Có nhiều khả năng đánh giá khả năng thanh toán nguồn
vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chi tiêu quan trọng nhất là
tỉ lệ giữa nguồn vốn vay nước ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trả
trong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong
năm đó hoặc trong năm trước đó. Bình thường chỉ tiêu này nằm dưới
20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 20% chứng tỏ lượng vốn vay nước
ngoài của quốc gia đó quá lớn.
II. SƠ LƯỢC VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
1. Sơ lược
Friendship_TCNHEK33 Page 5
Thái Lan là điểm đứt gãy đầu tiên, là phát súng báo hiệu, nói
chính xác hơn là kết liễu hệ thống tài chính vốn nhiều yếu kém tiềm
tàng của các nước trong khu vực.
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997
là những cuộc tấn công của một số thể chế đầu cơ vĩ mô đối với hệ
thống tiền tệ châu Á (George Soros) và sau đó là việc rút vốn đồng
loạt của các nhà đầu tư do người ta không còn tin rằng các chính phủ
đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định trong điều kiện dự trữ
ngoại hối đã cạn. Nhiều bài phân tích về sau này nhận xét rằng khi
mới bị tấn công tiền tệ, các nước châu Á lẽ ra phải lập tức thả nổi
đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn
gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở
một số nước châu Á. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng
triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-
1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc
và Thái Lan.
Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của
Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan. Tâm lý
chống phương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào
George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các phòng trào Hồi giáo và ly
khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của
nước này suy yếu.
Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân
đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi.
Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này. Cuốn CIA
World Fact Book cho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan
đã giảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm
2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD, của
Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD.
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp
phần dẫn tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính
Brasil. Một số nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu
ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI vào giảm.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐÔNG NAM Á
I. NGUYÊN NHÂN
1. Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém
Friendship_TCNHEK33 Page 7
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà
-các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố
định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu
chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn). Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng
Friendship_TCNHEK33 Page 8
thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển
vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện
chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn
ở các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy
vào các nước châu Á.
Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm
của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở
châu Á bắt chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng
bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn
và nợ không tự bảo hiểm rủi ro. (Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn
tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.)
3. Những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới
Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các
nước châu Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990. Nhân dân tệ được định giá
thấp so với Dollar Mỹ từ năm 1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho
hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại
của Đông Nam Á. Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi
phục lại sau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên
bang Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất
của Mỹ lên để ngăn chặn lạm phát. Việc này làm cho Mỹ trở thành một
thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các nước ở Đông Á, và do đó hấp
dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn cao và
làm tăng giá đồng Đô La Mỹ. Và do đồng tiền của các nước Đông Nam
Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém
cạnh tranh. Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của
Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản
vãng lai của họ.
4. Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997
xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất bại trong việc ngăn chặn sự lôi
kéo tiền tệ.
Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF
được áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng
thêm trầm trọng.
II. DIỄN BIẾN
1. Thái Lan
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ
bình quân hàng năm là 9%. Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế
Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng
Friendship_TCNHEK33 Page 10
và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu. Cuối năm 1996, thị
trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh. Cả mức vốn hóa
thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi.
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn
công đầu cơ quy mô lớn. Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit
Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi
baht vào ngày 2 tháng 7. Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1
năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ
số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995
xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn
giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài
chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố
sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan. Ngày
20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar.
2. Philippines
Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng
trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để
bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua
đêm) từ 15% lên 24%. Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso
khoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các
nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của
chính phủ Malaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở
Nga.
Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở
mức 7,8 : 1.
4. Hàn Quốc
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một
gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ. Các công ty nợ ngân hàng trong
nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài. Một vài vụ
vỡ nợ đã xảy ra. Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà
đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn. Ngày 28
tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của
Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp
xuống B2. Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc
thêm giảm giá. Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán
Seoul tụt 4%. Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi
Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ.
Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ
mức 1000 KRW/USD.
5. Malaysia
Friendship_TCNHEK33 Page 12
Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997),
đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập
tức bị sức ép giảm giá mạnh. Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar
Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar. Phần lớn sức ép giảm giá đối với
Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước
ngoài. Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng
Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm giá
của đồng Ringgit trong tương lai. Kết quả là lãi suất trong nước của
1. Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ
Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính
bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị
trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản
khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là
"những con Hổ Đông Á". Cuộc khủng hoảng này còn thường được
gọi là Khủng hoảng tiền tệ châu Á.
Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh
nhất bởi cuộc khủng hoảng này. Hồng Kông, Malaysia, Lào,
Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình. Còn Đại
lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh
hưởng. Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng,
song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn
của chính bản thân mình.
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn
từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây
nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn
lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ.
2. Tác Động Tới Việt Nam
Trong ngắn hạn, ảnh hưởng cuộc khủng hoảng đến Việt Nam là không
lớn:
* Việt Nam chịu tác động gián tiếp hơn tác động trực tiếp, do hệ thống
Ngân hàng Việt Nam chưa có nhiều hoạt động giao thương trực tiếp với
các trung tâm tài chính và các luồng chuyển dịch tiền thế giới.
* Tốc độ tăng trưởng GDP có thể chậm ở mức 5,5 – 6 %
* Dòng vốn đầu tư vào chứng khoán sẽ ít đi, tác động tâm lý đến thị
trường chứng khoản Việt Nam: Vn-Index giảm xuống mức thấp 242,53
điểm vào ngày 26/2/2009.
Nhưng xét về mặt dài hạn, những tác động này có thể trở nên sâu rộng
hơn:
tiếp nước ngoài và vốn vay ngân hàng nước ngoài có thể đem lại những
Friendship_TCNHEK33 Page 15
tác động bất lợi với nền kinh tế của họ. Do đó, nhiều chính phủ đã ban
hành những quy chế nhằm điều tiết các dòng vốn này.
Bên cạnh đó,những thỏa thuận ở cấp khu vực nhằm phát triển một hệ
thống phòng ngừa khủng hoảng tái diễn đã được thúc đẩy ở châu Á, ví dụ
như Sáng kiến Chiang Mai, Tiến trình Đánh giá và Đối thoại Kinh tế
ASEAN+3, Sáng kiến Thị trường Trái phiếu Châu Á,
Về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận thấy sự hạn chế
của các mô hình lý luận về khủng hoảng tiền tệ trước đây trong việc giải
thích nguồn gốc và sự lây lan của khủng hoảng tài chính Đông Á. Đã có
nhiều nỗ lực nhằm đưa ra một mô hình mới về khủng hoảng tiền tệ,
chẳng hạn như mô hình phương pháp tiếp cận bảng cân đối tài sản, lý
thuyết bong bóng, lý thuyết về nguồn gốc khủng hoảng từ chính sách tài
chính và chính sách tiền tệ.
Quốc từ A1 xuống B2 càng khiến tâm lý mọi người trở nên hỗn loạn.
Đồng Won giảm từ 1000 W còn khoảng 1700 W/USD.
- Cuốn sách The Economics of Money
Trên góc độ kinh tế, Frederic Mishkin, tác giả cuốn sách The
Economics of Money, Banking and Financial Markets, nói rằng:
Tiến trình xảy ra cuộc khủng hoảng Châu Á khác với những gì đã xảy ở
nước Mỹ, sự khác biệt này đến từ những đặc trưng khác nhau của cách
thức tổ chức thị trường vốn và thị trường nợ.
Một trong những yếu tố căn bản dẫ đến cuộc khủng hoảng là tình trạng
xấu đi nhanh chóng của bảng cân đối kế toán ngân hàng mà nguyên nhân
trực tiếp là từ những khoản vay không có khả năng thanh toán ngày càng
tăng. Khi những quốc gia, đặc biệt ở khu vực Đông Á, bắt đầu nới lỏng
các quy định với thị trường tài chính vào đầu những năm 1990, một làn
sóng vay dâng lên rất cao, trong đó, hoạt động cho vay tín dụng với các
khu vực kinh doanh phi tài chính tư nhân tăng đặc biệt nhanh. Do khả
Về thời gian Sáng kiến Chiang Mai đi vào thực tế thì Bộ trưởng Tài
chính Thái Lan Korn Chatikavanij cho hay mỗi nước có một quy trình
riêng về việc thông qua các chính sách và sẽ mất các khoảng thời gian
khác nhau để hoàn tất. Do đó, mọi việc cần được tiếp tục bàn thảo giữa
các nước.
Hội nghị lần này cũng thảo luận các vấn đề về khủng hoảng kinh tế
toàn cầu và các chính sách phản ứng của các nước. Mở đầu hội nghị, Bộ
trưởng Tài chính Thái Lan Korn Chatikavanij phát biểu: “Cuộc họp hôm
nay chắc chắn sẽ đưa ra một tín hiệu mạnh mẽ đến toàn thế giới rằng
chúng ta sẽ giải quyết các vấn đề và nhìn nhận sự suy giảm của kinh tế
toàn cầu một cách nghiêm túc”.
Friendship_TCNHEK33 Page 18
Mục tiêu của cuộc họp hôm qua, cũng theo ông Korn, là khuyến khích và
củng cố hợp tác kinh tế và tài chính giữa các nước ASEAN+3 đồng thời
xây dựng các mối quan hệ quốc tế vững mạnh hơn trong bối cảnh kinh tế
toàn cầu đang khủng hoảng và hệ thống tài chính bất ổn. Cuộc họp hôm
qua cũng có sự xuất hiện của Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan và
Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á Haruhiko Kuroda.
III. CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Để khôi phục nền kinh tế và ngăn ngừa khủng hoảng tái diễn, các nền
kinh tế Đông Á bị ảnh hưởng nặng đều tiến hành các cải cách cơ cấu
mạnh mẽ, gồm: cải tổ cách thức quản lý trong khu vực doanh nghiệp, cải
cách tài chính, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đổi mới phương pháp quản lý
kinh tế vĩ mô, và đổi mới cả phương thức tăng trưởng kinh tế.
1. Đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô
Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã và đang thực thi một chế độ tỷ giá
hối đoái linh hoạt và cơ chế ổn định giá cả. Cụ thể, các nước từ bỏ chế độ
tỷ giá hối đoái neo và hướng tới chế độ mục tiêu lạm phát. Đồng thời, các
nước nỗ lực gia tăng lượng dữ trự ngoại hối nhà nước của mình. Từ 1997
đến 2005, năm nước bị ảnh hưởng nặng nhất của khủng hoảng đã tăng
Friendship_TCNHEK33 Page 20
1. http://dantri.com.vn/c36/s36-185815/chau-a-hoc-duoc-gi-tu-cuoc-khung-
hoang-tai-chinh-1997.htm
2. http://www.saga.vn/Sukiendoanhnghiep/Nghiencuutinhhuong1/3473.saga
3. Michael Pettis, The Volatility Machine: Emerging Economies and the Threat
of Financial Collapse Oxford University Press 2001 ISBN 0-19-514330-2
Paul Blustein, The Chastening: Inside the Crisis that Rocked the Global Financial
System and Humbled the IMF PublicAffairs 2001 ISBN 1-891620-81-9
Frontline: The Crash, from the PBS series Frontline, unfortunately only the
transcript is available and not the episode itself.
WGBH's Commanding Heights, additional information in Episode 3 Chapters 11-
14.
Peter Gowan: The Globalization Gamble
Ngian Kee Jin, Coping with the Asian Financial Crisis: The Singapore Experience.
http://www.iseas.edu.sg/vr82000.pdf Extracted 13 tháng 12, 2005.
Tiwari, Rajnish (2003): Post-crisis Exchange Rate Regimes in Southeast Asia,
Seminar Paper, University of Hamburg. (PDF)
Kilgour, Andrea, (1999) The changing economic situation in Vietnam: A product of
the Asian crisis? (Link)
Friendship_TCNHEK33 Page 21
MỤC LỤC
Nhóm Friendship
Lời mở đầu Trang2
Lời cám ơn 3
Chương I : Tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính
I. Khủng hoảng tài chính là gì 4
1. Khái niệm 4
2. Phân loại 4
II. Sơ lược về cuộc khủng hoảng tài chính
1. Sơ lược 5