Lời mở đầu
Tính đến tháng 7/97, tức là sau 30 năm trong lịch sử Asean lần
đầu tiên phải chịu biến cố đầy sóng gió cả về kinh tế và chính trị. cuộc
khủng khoảng Tài chính - Tiền tệ đầu tiên nổ ra ở Thái Lan vào tháng 7
-1997. Sau đó nhanh chóng lan rộng hầu hết ra các khu vực Châu á.
Khiến cho nền kinh tế ASEAN lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn.
Việt Nam tuy mức độ ảnh hởng có ít hơn nhng cũng không tránh khởi
những ảnh hởng nhất định do cuộc khủng hoảng đem lại.
Với mong muốn tìm hiểu để làm quen với nghiên cứu khoa học,
bằng kiến thức kinh tế của mình em đã thu thập và sử lý những thông
tin cập nhật nhất về vấn đề và qua đó cũng mạnh dạn đa ra những
quan điểm riêng của mình về cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế khu
vực Châu á. ảnh hởng đối với Việt Nam và bài học kinh nghiệm cho
phát triển kinh tế Việt Nam.
Do còn có nhiều hạn chế về kiến thức và việc xử lý tài liệu còn
nhiều thiếu sót nên chất lợng của đề tài cha đợc nh ý. Em rất mong nhận
đợc sự chỉ bảo tận tình của thày cô giáo trong bộ môn kinh tế học đặc biệt
thầy Phí Mạnh Hồng là thầy giáo trực tiếp hớng dẫn em hoàn toàn
thành đề tài này.
Em xin trân thành cảm ơn thầy Phí Mạnh Hồng về sự chỉ bảo
tận tình đối với em trong quá trình viết bài.
1
Chơng I
nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
tài chính - tiền tệ khu vực Châu á
I-/ Sơ lợc diễn biến, tình hình của cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ.
Tháng 2 năm 1997, dấu hiệu bất thờng trên hệ thống tài chính Thái
Lan: giá cả bất động sản không tăng nh ngời ta dự đoán mà ngợc lại đang
giảm với tốc độ rất mạnh tới vài chục phần trăm. Tình hình này không chỉ
diễn ra ở Thái Lan mà còn ở hầu hết các nớc đang phát triển khác ở
giúp Thái Lan nhng dờng nh là đã quá muộn. Cuộc khủng hoảng kinh tế này
bớc đầu đã làm Thái Lan thiệt hại khoảng 120 tỷ USD, số ngời thất nghiệp
lên hơn 3 triệu ngời. Tốc độ tăng trởng năm 1998 gần nh 0% so với mức
7,1% năm 1997.
Những khó khăn do cuộc khủng hoảng đem lại không chỉ riêng mình
Thái Lan gánh chịu mà nó đã lan rộng nh một dịch bệnh ảnh hởng tới toàn bộ
nền kinh tế Châu á. Hàn Quốc có một nền kinh tế đợc xem là bền vững nhất
trong các nớc đang phát triển lại phải đơng đầu liên miên với khủng hoảng
chính trị có căn nguyên kinh tế. Sự sụp đổ của tập đoàn kinh tế khổng lồ
Hanboo đã mở đầu cho sự khủng hoảng của các Cheabol khác. Các khoản nợ
của Cheabol lên tới gần 50 tỷ USD quá hạn và theo dự đoán nếu không có sự
giúp đỡ từ bên ngoài thì Hàn Quốc sẽ phá sản vào cuối năm 1997. Để giúp đỡ
Hàn Quốc IMF đã cho vay tới 57 tỷ USD, điều này cũng chứng tỏ sự khủng
hoảng các khoản vay của Hàn Quốc ghê gớm đến mức nào. Đồng Won đã
mất giá trị 914,9 won/USD (25/9/97) xuống còn 1.390 won/USD
(11/6/1998). Số ngời thất nghiệp là 1,43 triệu ngời, chiếm 6,7% lực lợng lao
động.
Nớc bị ảnh hởng nặng nề nhất là Inđônêsia. Sự suy thoái kinh tế ở nớc
này trầm trọng đến mức có thể nói là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những
cuộc biểu tình của sinh viên và sự từ chức của tổng thống Suharto. Khủng
hoảng kinh tế và chính trị đã làm đồng Rupiah mất giá từ mức 2.500
rupiah/USD trớc khủng hoảng xuống đến 17.000 rupiah trong thời gian cuối
năm 1998. Số ngời thất nghiệp lên tới 10,27 triệu ngời, chiếm 10,2% lực lợng
lao động, nợ nớc ngoài trên 140 tỷ USD.
Nhật Bản là một nớc có nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới cũng chịu
ảnh hởng của cuộc khủng hoảng. Đồng Yên giảm giá từ 79 yên/USD vài năm
trớc đây xuống còn 146,55 yên/USD (15/6/1998). Mức tăng trởng kinh tế của
3
Nhật là - 0,4%. Trong quí IV năm 1997, sang quí I năm 1998 tiếp tục suy
giảm. Số ngời thất nghiệp trong tháng 5 năm 1998 đạt kỷ lục là 2,93 triệu ng-
4
3. Việc tuyên bố chính sách tự do hóa tài chính năm 1990 của Ngân
hàng TW Thái Lan khiến cho cơ cấu kinh tế nớc này gắn chặt với thị trờng
thế giới và nguồn vốn đầu t lớn còn do giá nhân công, đất đai,... đều hạ.
4. Việc qui định lãi suất cho vay ở Thái Lan cao hơn nớc ngoài nên
khu vực kinh tế t nhân Thái Lan trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tài
chính để vay vốn của nớc ngoài.
Việc chỉ số giá cả tiêu dùng tăng nhanh đạt 5,9% năm 1996 so với
3,4% của năm 1993, nên chính phủ phải tăng lơng tối thiểu, trung bình 8,5%
năm. Trong khi đó năng suất lao động chỉ tăng trung bình 3% năm. Đặc điểm
này cũng diễn ra tơng tự ở Malaysia, Inđônêsia, Phillipin. Bên cạnh đó, trừ
Inđônêsia phần nào còn dựa vào nguồn dầu mỏ xuất khẩu, còn Thái Lan và
Malaysia đều rơi vào tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức báo động.
Thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan năm 1995 là 8,1% GDP, 1996 là
9,7% GDP. Tơng tự nh vậy Malaysia năm 1996 là 9,7 GDP. Đây là mức thâm
hụt tài khoản vãng lai bằng mức của Mêhicô khi bùng nổ cuộc khủng hoảng
tài chính năm 1994. Trong khi đó mức thâm hụt của Inđônêsia là 4% GDP và
Philippin là 3,2% (1996).
Bàn về nguyên nhân của sự thâm hụt tài khoản vãng lai có thể là do:
1. Kim ngạch xuất nhập khẩu của các nớc Đông Nam á từ 1945 giảm
mạnh. Tính đến năm 1996 xuất khẩu của Thái Lan tăng cha đầy 4% so với
mức tăng trung bình hơn 25% của giai đoạn 1985-1995.
Tơng tự xuất khẩu của Malaysia trong 6 tháng đầu năm 1997 chỉ tăng
2% so với 14% và thâm hụt cán cân ngoại thơng 2,7 tỷ Ringgit so với mức
thâm hụt 687,6 triệu Ringgit cũng vào thời điểm này trong năm 1996. Đối
với Inđônêsia ngời ta ớc tính trong năm 1997 thâm hụt tài khoản vãng lai của
Inđonesia sẽ là 10,6 tỷ USD, tăng 800 triệu USD so với dự tính ban đầu là 9,8
tỷ USD. Đối với Philippin thâm hụt tài khoản vãng lai vào 3 tháng đầu năm
1997 là 1,12 tỷ USD so với 923 triệu USD cùng thời kỳ này năm ngoái. Lý
do giảm mạnh xuất khẩu của các nớc này là do tập trung xuất khẩu vào các
Thái Lan còn mắc kẹt 32 tỷ USD chiếm 14% tổng số vốn lu động ở thị trờng
bất động sản. Đối với Malaysia, Philippin, Inđônêsia cũng diễn ra tơng tự.
Các công trình khổng lồ nh tháp sinh đôi Penonas của Malaysia với diện tích
360.000 m
2
và tòa nhà chọc trời dài 20 km, cao 187 m ngốn mất 3,6 tỷ USD
hay ở Inđônêsia 14% diện tích các khu vực thơng mại với 1/5 số nợ ngân
hàng đang trôi nổi trên thị trờng bất động sản.
6
II.1.2Tỷ giá hối đoái dồn nên 1 cách miễn cỡng:
Nếu vấn đề trên là nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng thì chính
sách neo giá giữa đồng tiền khu vực với đồng đô la Mỹ đã tạo nên một hệ
thống tỷ giá miễn cỡng, đó là nguyên nhân dẫn đến việc phá giá hàng loạt
đồng tiền khu vực vừa qua. Thực tế cho thấy sau những đợt phá giá liên tiếp
các đồng tiền khu vực vào đầu thập kỷ 80, từ 1984 đến nay, đồng baht và các
đồng Pêsô, Ringgit, Rupi ngày càng cột chặt hơn vào đồng đô la Mỹ và giữ
nguyên tỷ giá cố định từ đó đến nay. Theo lý thuyết chế độ tỷ giá hối đoái cố
định theo hệ thống Brettơn woods có ý nghĩa tích cực trong việc ổn định đồng
nội tệ và hỗ trợ cho quá trình tăng trởng kinh tế. Tuy nhiên nếu lạm dụng vào
chế độ tỷ giá cố định trong điều kiện đồng nội tệ trên thực sự bị giảm giá so với
các đồng tiền mạnh khác thì cũng nh cơ cấu kinh tế vĩ mô mất cân đối lớn sẽ
dẫn đến những nguy cơ khủng hoảng.
Trong những năm qua các quốc gia trên đã cột chặt đồng tiền quốc gia
mình vào đồng USD bởi lẽ Mỹ là thị trờng hàng hóa chính của ASEAN. Sự
phụ thuộc của đồng tiền các nớc vào USD có tác dụng tốt trong những năm
qua nhất là thời kỳ 1990-1994 khi đồng USD giảm giá gần 50% so với đồng
Yên Nhật và Mác Đức nhờ đó sức cạnh tranh của ASEAN trên thị trờng thế
giới mạnh lên, xuất khẩu liên tục tăng cao trong nhiều năm. Điều này làm
cho sự ảo tởng xuất hiện ở các nhà doanh nghiệp, các ngân hàng trong nớc và
các nhà đầu t nớc ngoài đều tin vào sự ổn định của tỷ giá hối đoái cố định