Lời nói đầu
Có thể nói, cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ khu vực Châu á là sự kiện nổi
bật nhất trong năm 1997. Tính đến nay, cuộc khủng hoảng này đã diễn ra hơn một năm
và cha có dấu hiệu chấm dứt.
Cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ đã bao trùm bầu trời Đông Nam á và Đông
á nổ ra vào khoảng tháng 7/1997 đến nay, gây chấn động trên phạm vi thế giới, thu
hút sự quan tâm chú ý của những nhà lãnh đạo quốc gia cũng nh đông đảo những ngời
dân bình thờng ở Việt nam. Với điểm xuất phát là Thái Lan, khi ngân hàng Thái Lan
chính thức tuyên bố thả nổi đồng Bath đồng tiền Thái Lan lập tức giảm 5 - 7% đến
20%, cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ đã kéo theo những sự kiện quốc tế lớn
chứng minh vai trò của các thế lực tài chính quốc tế và khu vực trong quá trình toàn cầu
hoá nền kinh tế thế giới hiện nay.
Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế đang đi vào sâu rộng dần tới
vấn đề ảnh hởng của cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Chân á là tất yếu. Khi kinh
nghiệm cho thấy để ngăn chặn mức tàn phá nặng nề và nhanh chóng của các cuộc
khủng khoảng tiền tệ trớc đây, Chính phủ các nớc đã phải chấp nhận những tốn kém
về tiền của, công sức rất lớn.
Do vậy, rất cần thiết phân tích những ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính
trớc tiên đối với những nớc trong khu vực Châu á, hay nói cách khác việc nhận dạng
rõ vấn đề này để đa ra những bài học và hoàn chỉnh các biện pháp chiến lợc, ngăn
1
ngừa, phòng tránh ảnh hởng của cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế Việt nam hiện
nay ngày càng bức thiết.
Phần I
diễn biến Cuộc khủng hoảng Tài chính tiền
tệ khu vực Châu á
1. Diễn biến ở Thái lan:
Có thể nói Thái Lan là nơi châm ngòi cho cuộc khủng hoảng Tài chính
tiền tệ trong khu vực với dấu mốc ngày 2/7/1997 khi Ngân hàng trung ơng
Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng bath. Ngay sau khi đồng bath giảm giá (15 -
20% so với USD) với mức thấp nhất 32 bath/1USD kể từ 20 năm trở lại đây,
pẩm và dịch vụ nớc ngoài nhiều hơn là thu nhập từ xuất khẩu và đầu t, Thái
Lan trở thành nớc có mức thâm hụt tài khoản vãng lai cao nhất thế giới (8%
so với GDP năm 1996).
Theo phân tích cho thấy chính sách quản lý ngoại hối của Thái Lan t-
ơng đối tự do, cơ chế chuyển đổi ngoại tệ đồng bath khá dễ dàng, do đó tạo
điều kiện cho các luồng vốn nớc ngoài đổ vào hoặc chảy ra bất cứ lúc nào
theo ý kiến của các nhà đầu t. Chính vì vậy, khi có biến động trên thị trờng
Tài chính tiền tệ, luồng vốn ngoại tệ chuyển ra ngoài tăng mạnh, đã kéo theo
đồng Bath xuống giá. Bối cảnh này càng thúc đẩy giới đầu cơ trong và ngoài
nớc muốn phá giá đồng Bath để kiếm lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá.
Hơn nữa từ những năm trớc, giới đầu cơ tiền tệ đã có xu hớng chú
trọng nhiều vào các đồng tiền ASEAN ( mà đồng Bath là mục tiêu đầu tiên)
nên tới thời điểm này họ đã đồng loạt bán các đồng tiền này ra (ớc tính 10 -
15 tỷ USD ) để kiếm lời về giá cả. Cho nên việc tuyên bố phá giá ở Ngân
3
hàng trung ơng Thái Lan chẳng qua cũng chỉ là giải pháp cuối cùng nhằm
cứu vãn tình thế, nhng trên thực tế lại góp phần đẩy tỷ giá USD/bath tăng
thêm.
Trớc tình hình đó, Chính phủ Thái lan đã phải công bố những giải
pháp u tiên hàng đầu. Đó là sát nhập một số công ty tài chính với nhau (có số
vốn ít nhất là 7,5 tỷ bath) và dùng quỹ của Ngân hàng trung ơng Thái Lan để
cứu vãn tình trạng của khoảng 91 công ty có số nợ trên 200 triệu bath. Chính
phủ Thái Lan cũng kêu gọi sự giúp đỡ về mặt tài chính của các quốc gia
trong khu vực và IMF để có đợc ít nhất là 10 tỷ USD giải quyết cuộc khủng
hoảng Tài chính tiền tệ trầm trọng này.
Tất nhiên cuộc khủng hoảng này tác hại của nó không chỉ giới hạn
trong nền kinh tế Thái lan mà còn nhanh chóng lan sang các nớc khác nh
Malaysia, Indonesia, Philipin ... và đến nay hậu quả của nó đã ảnh hởng đến
thị trờng trờng Tài chính tiền tệ nhiều nớc Châu á, cũng nh có những ảnh h-
ởng nhất định tới các thị trờng tài chính Châu Âu, Bắc Mỹ.
khả năng bảo vệ đồng tiền của họ chống lại các nhà đầu cơ tiền tệ là rất hạn
chế.
Sau một tuần mở rộng khung can thiệt, tỷ giá tăng lên mức
2520RP/USD và tỷ lệ mất giá của Rupi khoảng 8,2% vợt quá mức độ phá giá
trớc đây ( 4-6 % ). Ngày 13/5/1997 Ngân hàng trung ơng Inđônêxia đã phải
bỏ ra 500 triệu USD để giữ đồng Rupi biến động trong mức 12% . Cuối cùng
đến ngày 14/8/1997 Ngân hàng trung ơng Inđônêxia buộc phải tuyên bố thả
nổi đồng Rupi và giá trị đồng Rupi đã sụt xuống 4,5 % so với ngày hôm trớc.
Vào thời điểm cuối tháng 9/1997, tỷ giá đồng Rupi/USD là 3260. Sau đó tình
hình kinh tế và chính trị Inđônêxia có những biến động rất mạnh, rối loạn,
5
đồng Rupi bị mất giá mạnh. Vào thời điểm 10/1 tỷ giá khoảng 10.000
RP/USD . Giá trị đồng Rupi đã giảm 77% so với cuối tháng 6/1997.
- ảnh hởng đến Hàn quốc:
Trong số các trờng hợp ở các nớc nói trên thì cuộc khủng hoảng ở Hàn
quốc là nặng nề nhất. Đồng Won mất giá liên tục, ngày 3/11/1997 tỷ giá
Won/USD là 966,2 đến ngày 10/12/1997 tăng lên là 1450. Sự mất giá nhanh
chóng của đồng Won đã buộc Ngân hàng trung ơng Hàn quốc công bố thả
nổi đồng Won. Đồng thời có sự cải thiện trong cán cân thanh toán, mức
thặng d tháng 11/1997 là 600 triệu USD, so với mức thâm hụt của cùng kỳ
năm trớc là 2,07 tỷ giá USD, giá của đồng Won đã đợc ổn định hơn, tỷ giá
giảm xuống 1.400 Won/USD . Nh vậy, nếu so với cùng thời điểm trớc cuộc
khủng hoảng tiền tệ ở Đông nam á (cuối tháng 6/1997) thì giá trị của đồng
Won đã bị giảm khoảng 40%. Cùng với sự giảm giá của đồng tiền, giá cổ
phiếu trên thị trờng chứng khoán ở Hàn quốc
Những điều này không có nghĩa cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ
chỉ đa đến nhngc ảnh hởng tiêu cực mà còn đem lại một số tích cực nữa:
6
Phần II
Nguyên nhân khủng hoảng tiền tệ ở chân á
Một sự tăng cũng ồ ạt trong khi sử dụng hết dẫn đến một sự giảm giá của
khu vực bất động sản. Điều này sẽ dẫnđến việc khủng hoảng ở khu vực bất
động sản và ảnh hởng trực tiếp tới khả năng trả nợ của các Doanh nghiệp sau
đó ảnh hởng hàng loạt đến các ngân hàng và Công ty tài chính vào tình trạng
không có khả năng thanh toán.
Nh vậy nguyên nhân đầu tiên cần khẳng định là do sự đầu t mất cân
đối trong nền kinh tế của các nớc này, đặc biệt là Thái Lan.
Khủng hoảng nợ đồng USD.
Trong một thời gian dài, các nớc Đông Nam á đã gắn tỷ giá hồi đoái
của mình với đồng USSD. Các Doanh nghiệp, ngân hàng trong nớc và cả nhà
đầu t nớc ngoài dần dà tin tởng vào sự ổn định của động nội tệ đối với USD.
Thêm vào đó, trong mấy năm qua, các nớc này đã tự do hoá và mở cửa thị tr-
ờng vốn của mình, tào điều kiện để các Doanh nghiệp và ngân hàng trong n-
ớc lần giới đầu t tài chính thế giới cho vay đồng USD lãi suất thấp, cho vay
lại bằng đồng nội tệ suất cao ăn chênh lệch lãi suất mà không phải lo sợ rủi
ro phá giá đồng nội tệ.
Nh vậy dự trữ ngoại tệ đã không đủ để trả nợ nớc ngoài,. Vì dòng chảy
USD vào nhiều nh vậy (thể hiện bằng việc vay ngân hàng nớc ngoài0 nên dù
4 nớc trên gặp thiếu hụt lớn tỏng cán cân thanh toán đơng kỳ 9từ 4% đến 8%
GDP), đồng tiền của nớc họ vẫn ổn định so với USD. Trong năm 1996, xuất
khẩu và tăng trởng kinh tế của các nớc này bắt đầu chậm lại, nhiều ngân
hàng và Công ty tài chính bắt đầu bị khó khăn vì cho vay quá nhiều vào khu
vực địa ốc. Các nhà đầu t tài chính quốc tế vì cậy bắt đầu đặt dầu hỏi về khả
8
năng có thể tiếp tục duy trì lãi suất cao để ổn định tỷ giá hồi đoái của nớc
này. Lãi suất cao sẽ thu hút luồng tài chính từ nớc ngoài vào nhiều cung về
ngoài tệ )USD) nhiều và nh vậy vẫn có khả năng giữ ổn định đợc tỷ giá.
Qua sự phân tích ở trên đây thì có thể thấy đợc việc vay nợ nớc ngoài
có thể giúp các nớc tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tuy nhiên nó cũng
có thể bóp chết các nớc này nếu nguồn vay đó không đợc sử dụng đúng
vấn đề này. Hoạt động của ngân hàng phải theo sự chỉ đạo và mục đích phát
triển của nền kinh tế đất nớc.
Sai lầm trong chiến lợc xuất khẩu
Trong suốt một thập kỷ từ năm 1985 - 1995, đồng USD đã mất giá một
nửa so với các đồng tiền mạnh khác nh DM của Đức và Yên Nhật. Do việc
gắn chặt tỷ giá, hối đoái của mình so với hàng hoá thị trờng Châu á và Nhật.
Từ năm 1995 trở lại đây USD đã tăng gaias khoảng 20% so với DM và Yên,
làm giảm bớt tính cạnh tranh cảu hàng hoá Đông Nam á. đặc biệt là quan
trọng hơn, năm 1994 Trung quốc đã phá giái đồng nhân dân tệ khoảng 30%
làm cho các mặt hàng chế biến của Trung Quốc đã hấp dẫn trên thị trờng thế
giới. Lấn át thị phần của các nớc Đông Nam á. Thêm vào đó, giá kinh doanh
và sinh hoạt ở thủ đô các nớc trong khu vực trong mấy năm qua đã trở thành
đắt nhất thế giới, làm cho các nớc này mất đi lợi thế so sánh giá cả. Tổng kim
gạch xuất khẩu của các nớc Asean sau khi tăng trởng khoản 20% mỗi năm
trong hai năm 1994 - 1995 đã giảm mạnh còn 8% trong năm 1996.
Đồng thời với việc giảm xuất khẩu là việc tăng nhập khẩu, các nớc này
đã theo đuổi chính sách theo hớng xuất khẩu một cách cứng nhắc và tập
trung quá cao vào một vài mặt hàng theo kiểu độc canh đã làm mất dầu
khả năng cạnh tranh trên thị trờng Quốc tế và công nghệ chậm đợc đổi mới
làm cho tốc độ xuất khẩu giảm dẫn và nhập khẩy tăng lên, kết quả thâm hụt
10
tài khoản vãng lai tăng cao (thâm hụt tài khoản vãng lai năm 1996 của Thái
Lan là 8,5% so với GDP, Philippine là 13%. Để bù đắp thiếu hụt ngoại tệ
phải bổ xung bằng vay nợ, mà chủ yếu là vay nợ ngắn hạn nớc ngoài với
những điều kiện không nhuận lợi và lãi suất cao.
Việc chính sách tỷ giá gẵn chặt với đồng USD, cơ chế tỷ giá cố định
duy trì quá lâu nh phân tích ở trên là có lợi cho xuất khẩu khi đồng USD
giảm giá và không lợi khi USD tăng giá. Trong suốt 13 năm qua, tỷ gái đồng
Baht Thai Lan so với đồng USD luôn ở mức 24 - 25 Baht/USD. Chính sách
này trong thời gian gần đây đã vừa kìm hãm xuất khẩu, vừa kích thích tiêu