TIỂU LUẬN TRIẾT - THỰC CHẤT MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY - Pdf 38

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1.

Thực chất mối quan hệ giữa lý luận và thực

1.1.
1.2
1.3

tiễn
Phạm trù lý luận
Phạm trù thực tiễn
Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực

2.

tiễn
Sự vận dụng của Đảng trong công cuộc đổi

2.1.

mới ở nước ta hiện nay
Đảng ta thường xuyên tổng kết thực tiễn
để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận cách

2.2.

mạng, trước hết là đường lối đổi mới
Đảng ta luôn coi trọng việc nâng cao trình

luận và nhận thức vào điều kiện lịch sử Việt Nam đầy khó khăn, thử thách để
đưa nước ta ngày càng vững bước trên con đường cách mạng vì mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, việc làm rõ vấn đề: “Thực chất
mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng của Đảng trong công
cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” có ý nghĩa rất quan trọng để nhận thức
đúng vai trò, năng lực lãnh đạo, tư duy ngang tầm thời đại của Đảng trong sự
nghiệp đổi mới đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

NỘI DUNG
1. Thực chất mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
1.1. Phạm trù lý luận


Quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận
thức lý tính. Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, là
sự phản ánh trực tiếp, cụ thể, sinh động hiện thực khách quan vào các giác
quan của con người. Nhận thức cảm tính gồm các hình thức cảm giác, tri giác
và biểu tượng. Nhận thức lý tính hay tư duy trìu tượng là giai đoạn cao của
nhận thức, nó là sự phản ánh trìu tượng, khái quát và gián tiếp hiện thực.
Nhận thức lý tính được hình thành từ những tài liệu do nhận thức cảm tính
đem lại và được thể hiện dưới các hình thức là khái niệm, phán đoán và suy
luận.
Sự phát triển của nhận thức con người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của lý
luận. Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực
khách quan. Xét về bản chất, lý luận là một hệ thống những tri thức được
khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy
luật của thế giới khách quan. Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các
nguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là
sản phẩm của quá trình nhận thức nên bản chất của lý luận là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan.

tạo tự nhiên và xã hội.
Quan điểm đó đã chỉ ra rằng: Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt
động của con người, mà chỉ là những hoạt động vật chất để (phân biệt với
hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận), hay nói theo thuật ngữ của Mác là
hoạt động cảm tính của con người. Trong hoạt động thực tiễn, con người phải
sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất của mình tác
động vào tự nhiên, xã hội để cải tạo làm biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu
của mình. Bằng hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi bản thân sự vật
trong hiện thực, từ đó làm cơ sở để biến đổi hình ảnh của sự vật trong nhận
thức. Do đó, hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động, sáng tạo, là
quá trình chuyển hoá cái tinh thần thành cái vật chất. Hoạt động thực tiễn là
quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể. Chủ thể luôn hướng vào cải tạo
khách thể trên cơ sở đó nhận thức khách thể. Vì vậy, thực tiễn trở thành mắt
khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài.
1

V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ M.1980, tập 18, tr167


Tuy trình độ và các hình thức của hoạt động thực tiễn có thay đổi qua
các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng
hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người. Thực tiễn là hoạt động có
tính chất loài (loài người). Hoạt động đó không thể được tiến hành chỉ bằng
vài cá nhân riêng lẻ, mà phải bằng hoạt động của đông đảo quần chúng nhân
dân trong xã hội. Do đó, về nội dung cũng như về phương thức thực hiện,
thực tiễn có tính lịch sử - xã hội. Thực tiễn cũng có quá trình vận động và
phát triển của nó, trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục
giới tự nhiên, trình độ làm chủ xã hội của con người.
Thực tiễn có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố và nhiều dạng hoạt
động. Bất kỳ quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm những yếu tố như

nó, còn thực tiễn là phương thức cơ bản để nó tác động đến khách thể. Thực
tiễn là hình thức liên hệ thực tại khách quan, nhờ đó mà chủ thể tự đối tượng
hoá bản thân, các ý định và mục đích của mình trong khách thể, phát triển các
năng lực của mình. Như vậy, ngoài thực tiễn, chủ thể không có một phương
thức nào để chuyển từ bức tranh lý tưởng về thế giới sang việc thực hiện nó
trong thế giới.
Thực tiễn là quá trình cải tạo vật chất hiện thực, thông qua quan hệ chủ
thể – khách thể, thực tiễn thể hiện là phương thức chủ thể chuyển hoá cái ý
mệnh mục đích, động cơ…) thành cái vật chất (khách thể được cải tạo phù
hợp với mục đích). Trọng tâm ở đây được đặt vào hai mặt của một quá trình
thống nhất: Từ cái ý niệm đến cái vật chất. Nếu chúng ta nhấn mạnh, tuyệt đối
hoá sự cải tạo vật chất, thì sự định hướng thực tiễn bởi ý thức sẽ bị biến mất,
và do vậy, thực tiễn bị biến thành một hành vi máy móc, vô thức. Còn nếu
tuyệt đối hoá sự sự chuyển biến cái ý niệm thành cái vật chất, thì chúng ta
không thể quan niệm thực tiễn là một quá trình khách quan rơi vào chủ nghĩa
duy tâm.
Theo đó, thực tiễn và lý luận không thể là tuyệt đối đối lập với nhau.
Tính tương đối của sự đối lập ấy trước hết được quy định bởi điều là: Quan hệ
lý luận của con người với thế giới không bao giờ có thề là quan hệ tuyệt đối


biệt lập với thực tiễn. Hơn nữa, quan hệ lý luận luôn phục tùng thực tiễn, phục
vụ thực tiễn và phát triển trên cơ sở cải tạo thực tiễn xã hội. Lý luận phải dựa
trên cơ sở quan hệ thực tiễn với hiện thực. Đến lượt mình vốn là hoạt động
của chủ thể có ý thức và ý chí, thực tiễn luôn bao hàm quan hệ lý luận của chủ
thể với khách thể với tư cách là vòng khâu đạt mục đích của hoạt động thực
tiễn.
Sự đối lập tuyệt đối đó không có nghĩa là không có sự đối lập tuyệt đối
giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận do thực tiên chế định và phục vụ thực tiễn,
song chúng có tính độc lập tương đối, mang những đặc trưng riêng của hoạt

thức.
Xét về phương diện nhận thức luận, nếu vật chất và ý thức là tuyệt đối
đối lập, thì thực tiễn và lý luận lại không tuyệt đối đối lập nhau. Mọi ý kiến
khác đều có nghĩa rằng thực tiễn, về nguyên tắc, không thể là phương tiện đối
chiếu tri thức về hiện thực và bản thân hiện thực. Trong lý luận nhận thức, tri
thức về đối tượng tuyệt đối độc lập với bản thân lý luận. Các nhà duy vật
trước Mác đã nhìn thấy điều đó nhưng họ không biết đối chiếu tri thức với đối
tượng và do vậy, họ đã bất lực trước các lý lẽ của chủ nghĩa duy tâm và bất
khả lý luận. Nếu tuyệt đối đối lập thực tiễn với lý luận, thì chúng ta cũng sẽ
vấp phải vấn đề đó. Vậy, đâu là bước chuyển từ lý luận đến thực tiễn? Trong
khi đó cuộc cách mạng được C.Mác thực hiện trong nhận thức luận chính là ở
chỗ: ông đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức ở lĩnh vực mà ý thức tuyệt
đối đối lập với vật chất, Mác đã phát hiện ra khâu trung gian, bước chuyển từ
cái ý niệm đến cái vật chất và từ cái vật chất đến cái ý niệm. Thực tiễn xã hội
hoàn thành vai trò thước đo chân lý và cơ sở của nhận thức chính là do nó
không đối lập tuyệt đối mà đối lập tương đối với ý thức về mặt nhận thức luận
và do nó luôn là hệ thống những hoạt động nhằm đạt tới mục đích xác định.
Do vậy, không nên tuyệt đối hoá cả tính chủ quan lẫn tính khách quan của
thực tiễn.
Như vậy, giữa lý luận và thực tiễn dù xét ở bình diện nào, phương diện
nào cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau, ràng


buộc lẫn nhau, đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau, trong đó thực tiễn giữ vai
trò quyết định, ngược lại lý luận luôn có tác động trở lại hướng dẫn hoạt động
thực tiễn. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn được thể hiện:
Thứ nhất, thực tiễn có vai trò to lớn đối với lý luận. Ăngghen nhận xét
rằng: “Từ trước tới nay khoa học tự nhiên cũng như triết học đã hoàn toàn coi
thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ. Hai môn
Êy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư tưởng. Nhưng chính

con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật
của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới. Thực
tiễn cũng đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức,
lý luận. Nhu cầu, thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh
nghiệm, khái quát lý luận, thúc đẩy sự ra đời phát triển của các ngành khoa
học.
Như vậy, trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người dược phát
triển, được nâng cao dần cho đến lúc có lý luận, khoa học. Song bản thân lý
luận, khoa học không có mục đích tự thân. Lý luận, khoa học ra đời chính vì
và chủ yếu vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người. Thực
tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận. Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải
quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành
động thực tiễn của quần chúng. Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi
chóng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn phục vụ mục tiêu phát
triển nói chung.
Lênin đã chỉ ra rằng: Thế giới bí ẩn sẽ hoàn toàn bí ẩn với con người nếu
không có sự tác động của con người vào đó. Sự tác động của con người vào
thế giới khách quan diễn ra một quá trình từ việc thu thập những tài liệu cảm
tính, những kinh nghiệm, sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái
quát hoá, trừu tượng hoá… để phát triển thành lý luận và từ lý luận lại trở về
chỉ đạo thực tiễn.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận còn thể hiện ở chỗ thực
tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con
người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một


vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người
phải chứng minh chân lý...”1.
Chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm mới xác nhận được tri thức đạt được là
đúng hay sai, là chân lý hay sai lầm. Thực tiễn sẽ nghiêm khắc chứng minh

pháp trong hoạt động nhận thức và thực tiễn; giúp chủ thể hoạt động thực tiễn
những mục tiêu cần đạt được trong tình hình cụ thể. Nhờ có lý luận cách
mạng mà chủ thể hoạt động thực tiễn có cơ sở hình thành, phát triển nhân
cách và nâng cao chất lượng hoạt động thực tiễn.
Như vậy, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn.
Tuy nhiên, cùng với nhận thức được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của lý
luận thì chủ thể hoạt động không nên cường điệu vai trò của lý luận, coi
thường thực tiễn, tách lý luận khỏi thực tiễn.
2. Sự vận dụng của Đảng trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 25 năm qua
đã đạt được những thành tựu về kinh tế - xã hội to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
“Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và
toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy
mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại
đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định.
Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế
không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất
nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt
đẹp”. Những thành tựu ấy có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên
nhân là Đảng ta luôn quán triệt, vận dụng và giải quyết tốt mối quan hệ biện
chứng giữa lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Bởi lẽ, trên
cơ sở quán triệt, vận dụng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực
tiễn đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước không ngừng


được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam; những căn
bệnh giáo điều, kinh nghiệm, chủ quan duy ý chí đã dần được khắc phục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là
một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý

1

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.72


cùng với phát triển kinh tế phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là
một hướng chiến lược thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta. Đồng thời
chính sách kinh tế nhiều thành phần được Đại hội IX cụ thể hoá hơn nữa.
Chẳng hạn như chủ trương phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan
xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau,
giữa trong nước và nước ngoài; phát triển hình thức tổ chức kinh tế cổ phần;
tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường; đổi mới, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà
nước về kinh tế; thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện
các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thị trường lao
động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và
công nghệ, v.v”1.
Đại hội X tổng kết 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội IX về phát triển
kinh tế thị trường đã phát triển thêm đường lối này và đề ra nhiệm vụ hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa9.
Đại hội XI tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X và xác định:
Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển
kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân;
giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Cũng tại Đại hội XI Đảng ta đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm
2011)”. Cương lĩnh xác định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã

tiễn một cách toàn diện để bổ sung, hoàn chỉnh đường lối đổi mới, nâng tầm
lý luận, làm rõ hơn con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là biểu
hiện sinh động của việc quán triệt, vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý
luận và thực tiễn trong đổi mới của Đảng. Thực hiện Chỉ thị số 24-CT/TW
ngày 12-5-2003 của Ban Bí thư Về tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn
qua 20 năm đổi mới, nhằm hoàn thiện lý luận về con đường lên chủ nghĩa xã


hội ở nước ta, Đảng ta tiếp tục khẳng định giá trị các bài học mà Đại hội X đã
rút ra.
2.2. Đảng ta luôn coi trọng việc nâng cao trình độ lý luận cho toàn
Đảng
Thấm nhuần tinh thần của V.I.Lênin: "Không có lý luận cách mạng thì
không có phong trào cách mạng. Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong
hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong", cũng
như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng mà không có lý luận cách mạng
khoa học như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam, Đảng ta
luôn luôn coi trọng việc nâng cao trình độ lý luận cho toàn Đảng trong quá
trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Đây thực chất là sự quán triệt và vận dụng
sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
của Đảng ta. Bởi lẽ, không có trình độ lý luận thì không thể tổng kết thực tiễn
một cách có lý luận và không thể định hướng đúng cho công cuộc đổi mới,
cũng không thể lãnh đạo sự nghiệp đổi mới có kết quả.
Trước hết, trong các văn kiện, Đảng luôn khẳng định kiên trì lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Trong quá
trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng đã tập trung trí tuệ, trên nền tảng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chèo lái con thuyền cách
mạng, giữ vững sự ổn định chính trị ở nước ta. Đảng đã đề ra một số nghị
quyết nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chẳng hạn, Nghị quyết số 01

lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân,
vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về
phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí
công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo vừa là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Nhận thức được giá trị to lớn của
tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã phát động toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.


Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, “Đảng đã có sự nhận thức
đúng hơn và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên một loạt các vấn
đề (chẳng hạn: vấn đề mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, vấn đề sở hữu tư liệu
sản xuất, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, v.v.). Nhờ đó, tư
duy lý luận của Đảng ngày càng sâu sắc hơn, nhận thức đúng đắn hơn thực
chất những tư tưởng của các nhà kinh điển mácxít, đồng thời có sự vận dụng,
phát triển cho phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam”.
Các văn kiện của Đảng cũng chỉ rõ sự cần thiết phải nâng cao trình độ lý
luận cho cán bộ, đảng viên trong tình hình mới. Để nâng cao trình độ lý luận,
"cần đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học lý
luận, coi trọng chất lượng và tính hiệu quả. Tổ chức học tập một cách nghiêm
túc, có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chủ nghĩa yêu nước và truyền
thống cách mạng của dân tộc, của Đảng. Phát huy tính sáng tạo, chủ động của
người học, dành nhiều thời gian cho việc tự học, tự đọc các tác phẩm lý luận
và văn kiện của Đảng"1. Đại hội X của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao trình

nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Cùng với việc nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên, Đảng ta
cũng thường xuyên, kiên quyết đấu tranh chống lại những biểu hiện lệch lạc,
sai trái về tư tưởng - lý luận, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây cũng chính là sự quán triệt nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới của Đảng. Bởi lẽ, đổi mới không
phải là từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa của sự phát triển mà là từ bỏ mô
hình chủ nghĩa xã hội giáo điều, tập trung, quan liêu; là sự lựa chọn biện
pháp, cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh thực tế Việt Nam cũng như quốc tế. Quá trình thực hiện công cuộc đổi
mới cũng là quá trình Đảng ta tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực
thù địch trên mặt trận tư tưởng - lý luận; chống lại các chiêu bài "dân chủ
hoá"; "tự do hoá"; "đa nguyên chính trị", v.v..


Với các Nghị quyết Trung ương 6, 7, 8 khoá VI và các nghị quyết khác,
Đảng đã có những quyết định quan trọng chỉ đạo công cuộc đổi mới, tỏ rõ lập
trường quan điểm đấu tranh chống lại những luận điểm sai trái, bảo vệ sự
trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối
của mình. Vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các thế lực phản động tìm mọi cách
xuyên tạc, bôi nhọ những người cộng sản cũng như chủ nghĩa xã hội hiện
thực ở Liên Xô và Đông Âu. Trước tình hình ấy, Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương khoá VII ra Nghị quyết 09 ngày 18-2-1995 thể hiện lập trường
cách mạng, quyết tâm bảo vệ những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội
hiện thực cũng như sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh. Các nghị quyết của Đảng đã đề ra những yêu cầu mới cho cuộc đấu
tranh chống những nhận thức lệch lạc, những quan điểm sai lầm, những biểu
hiện dao động về tư tưởng, phê phán, bác bỏ những luận điểm sai trái, thù
địch. Đảng ta chủ động chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu lý luận, phát huy sức
mạnh tập thể của các nhà khoa học trong thảo luận, nghiên cứu chỉ ra bản chất

quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Điều này thể hiện
ở chỗ, Đảng thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện đường
lối, chủ trương, chính sách cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam.
Đồng thời, Đảng làm hết sức mình để nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ,
đảng viên và nhân dân, để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nắm vững chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và biết vận dụng những tư tưởng đó vào
điều kiện nước ta. Không những thế, Đảng còn quan tâm tích cực chỉ đạo
cuộc đấu tranh không khoan nhượng với những kẻ thù về tư tưởng - lý luận,
chỉ ra bản chất sai lầm, phản khoa học, những mục đích sâu xa của chúng.
Trên cơ sở đó, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, bảo vệ sự đúng đắn trong đường lối của mình. Chính vì vậy mà
hơn 80 năm qua, Đảng ta luôn hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác. Hơn 80 năm qua, đặc biệt là những năm Đảng lãnh đạo sự nghiệp đổi
mới, Đảng luôn luôn quán triệt, vận dụng và giải quyết tốt mối quan hệ biện
chứng giữa lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo cách mạng.
2

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG HN.2006, tr.284


KẾT LUẬN
Vấn đề quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt
trong triết học xã hội của chủ nghĩa Mác. Tầm quan trọng đó không chỉ ở chỗ:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status