ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÙNG THỊ HOÀI THƢƠNG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
ĐÀ NẴNG - 201
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
Chƣơng 1. Khái niệm chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải
quyết việc làm ……………….………………………………… ………….…11
1.1.
Khái niệm chung về giải quyết việc làm ………………………..……...11
1.1.1. Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm………………….…....…….11
1.1.2. Vai trò của giải quyết việc làm…………………….……………...…………16
1.2.
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về giải quyết việc làm ở Việt Nam……...…63
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.…………….…...63
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải phù hợp với
xu thế chung toàn cầu và hội nhập quốc tế…………………...……………….64
3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định về giải quyết việc làm trong của pháp
luật lao động Việt Nam………………………………………………………………..65
3.2.1. Xây dựng, ban hành và sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về giải
quyết việc làm……………………………………………………..…………….…...65
3.2.2. Hoàn thiện khung pháp luật về việc làm ..……………...……………….65
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm tại thành phố
Đà Nẵng………………………………………………………………………...66
3.3.1. Tăng cường các yếu tố đẩy mạnh phát triển kinh tế tạo việc làm mới.…66
3.3.2 Đẩy mạnh đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực..……………………..67
3.3.3. Phát triển nguồn vốn, phát huy hiệu quả sử dụng vốn cho vay giải quyết
việc làm, giảm nghèo……………………………………………………………...…..68
3.3.4. Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài…………………………………69
3.3.5. Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động…......…………...……69
3.3.6. Nâng cao hiệu quả các Trung tâm dịch vụ việc ……………………………70
3.3.7. Tổ chức thực hiện ………………………….……….…………………………70
KẾT LUẬN ………………………………………………………………..…75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………...76
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới động vật
nói chung và của con người nói riêng. Tuy nhiên, đối với con người kiếm sống
Lao động và việc làm có vai trò rất quan trọng, cho nên đề tài về lĩnh vực
này luôn tạo sức hút mạnh mẽ cho các nhà nghiên cứu, những chuyên gia kinh tế
pháp lý tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra nhiều đề tài khoa học có giá trị.
Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài, công trình nghiên cứu
khoa học về vấn đề này. Dưới góc độ kinh tế - xã hội có thể kể tới một số bài
viết trên các tạp chí như: “Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập” của tác
giả Nguyễn Thị Kim Ngân (Tạp chí Cộng sản số 23 năm 2007), “Giải quyết việc
làm cho lao động Việt Nam: Nghịch lý thiếu, thừa” của tác giả Lan Ngọc (Báo
Lao động số 291 ngày 16/12/2008), “Pháp luật lao động trong quá trình toàn
cầu hóa” của tác giả Phạm Trọng Nghĩa (Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 11
năm 2008), “Việc làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta” của tác giả
Nguyễn Tiệp (Tạp chí Lao động – Xã hội số 394 năm 2010), “Cho thuê lại lao
động và những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật lao động Việt
Nam” của tác giả Lê Thị Hoài Thu (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 28
năm 2012).
Bên cạnh đó là các đề tài khoa học: “Đánh giá việc thực hiện chiến lược
việc làm giai đoạn 2001-2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong kỳ đại hội
X” của Viện Khoa học Lao động xã hội năm 2004, “Nghiên cứu, đánh giá tác
động về lao động, việc làm và xã hội sau khi Việt Nam gia nhập WTO và đề xuất
những giải pháp” của Cục Việc làm năm 2008, “Pháp luật lao động về việc làm
– Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thắng Lợi năm 2010,
“Pháp luật về quan hệ lao động Việt Nam – Thực trạng và phương pháp hoàn
thiện” của ĐHQGHN do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu chủ trì.
Một số công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý như: Luận văn Thạc sỹ
luật học: “Việc làm và quy định của pháp luật về việc làm ở Việt Nam – Những
5
vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Văn Quynh (2003), “Pháp luật
lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về vấn đề việc làm và giải quyết việc
làm. Trong quá trình nghiên cứu các tác giả sẽ vận dụng các nguyên lý của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích làm sáng tỏ các nội
dung nghiên cứu.
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp
phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê, điều tra... làm cơ sở cho quá
trình nghiêm cứu.
5. Ý nghĩa luận văn và thực tiễn của luận văn
Với kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho
sinh viên các trường đại học chuyên luật và không chuyên luật cũng như cán bộ
nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách khi nghiên cứu về lĩnh vực này. Bên
cạnh đó, các cá nhân quan tâm, tìm hiểu pháp luật về giải quyết việc làm, về
thực tiễn thực hiện các chính sách giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng
cũng có thể tham khảo.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thiết thực trong việc giải quyết hiệu
quả vấn đề việc làm trong phạm vi cả nước nói chung và tại thành phố Đà Nẵng
nói riêng.
6. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và
phạm vi nghiên cứu. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải
quyết việc làm.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn giải
quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng.
7
trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [9, trang 10-11]
Theo Guy Hân-tơ, Viện phát triển hải ngoại Luân-đôn (Anh): “Việc làm
theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả
những gì quan hệ đến việc kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và
các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”.
Giáo sư Sô-nin và Phó Tiến sỹ Ê. Jit-nốp (Liên Xô cũ) lại cho rằng: “Việc
làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có
ích trong khu vực xã hội hóa của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ,
trong kinh tế phụ của công trang viên”.
Đối với Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thuật ngữ “việc làm” được đề
cập trong nhiều văn kiện như Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944; “Chương
trình việc làm thế giới” năm 1969; Tuyên bố tại Hội nghị việc làm thế giới năm
1976; Công ước số 22 năm 1964... nhưng trong các văn kiện này chưa nêu ra
khái niệm “việc làm”. Đến tận Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1993 của các
nhà thống kê lao động, ILO mới đưa ra quan niệm về người có việc làm và
người thất nghiệp. Theo đó, người có việc làm được hiểu là những người làm
một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật
hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì
lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật; còn
người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm
việc làm hoặc đang chờ trở lại việc làm. Gần đây nhất, năm 2005, Tổ chức Lao
động quốc tế đã đưa vào Từ điển chuyên ngành khái niệm “việc làm”. Theo đó,
“Việc làm là một công việc được trả công. Việc làm cũng đề cập đến số người tự
tạo việc làm và tham gia làm việc để được trả công” [21]. Đây là khái niệm ngắn
gọn, chỉ chung chung đến những công việc do cá nhân thực hiện cho chính bản
thân hoặc cho chủ thể khác để được trả công.
Có thể còn có nhiều khái niệm khác nữa về việc làm. Nhưng dù ở góc độ
nào, khái niệm đó đều thể hiện các tiêu chí định danh việc làm là những dạng
9
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Nguyễn Hữu Dũng (2000), “Chiến lược an toàn việc làm trong thời kỳ
CHH-HĐH đất nước”, Tạp chí Lao động và Công đoàn.
2.
Đào Thị Hằng (2003), “Vấn đề bảo vệ người lao động nữ trong Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của BLLĐ”, Tạp chí Luật học.
3.
Nguyễn Thị Hằng (2003), “Xuất khẩu lao động khu vực nông thôn, góp
phần xóa đói giảm nghèo”, Tạp chí Cộng sản.
4.
Trần Văn Hằng (2003), “Xuất khẩu lao động, cơ hội và thách thức”, Tạp
chí Lao động và Xã hội.
5.
Đặng Tú Lan (2002), “Những nhân tố tác động đến vấn đề giải quyết việc
làm ở nước ta hiện nay”, Tạp chí lý luận chính trị.
6.
12.
Lan Ngọc (2008), “Giải quyết việc làm cho lao động Việt Nam: Nghịch lý
thiếu, thừa”, Báo Lao động số 291 ngày 16/12/2008.
13.
Phan Trọng Nghĩa (2008), “Pháp luật lao động trong quá trình toàn cầu
hóa”, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 11 năm 2008.
14.
Nguyễn Tiệp (2010), “Việc làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta”,
Tạp chí Lao động – Xã hội số 394 năm 2010.
Lê Thị Hoài Thu (2012), “Cho thuê lại lao động và những yêu cầu đặt ra
15.
đối với việc điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam”, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, Luật học 28 năm 2012.
16.
Viện Khoa học Lao động xã hội (2004), Đánh giá việc thực hiện chiến
lược việc làm giai đoạn 2001-2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong kỳ đại
hội X.
17.
Cục Việc làm (2008), Nghiên cứu, đánh giá tác động về lao động, việc làm
26. Lâm Thị Thu Huyền (2011), Những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và
giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Luận
văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
27.
International Labour Organization, Bureau of Library and Ingormation
Services,
ILO
Thesaurus
2005,
http://www.ilo.org/public/libdoc/ILO-
Thesaurus/english.
28. Ngân hàng Chính sách xã hội (2012), Báo cáo tình hình thực hiện cơ chế
Quản lý và điều hành Quỹ quốc gia về việc làm theo Quyết định số 71/2005/QĐTTg và Quyết định số 15/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ - Đề xuất, kiến
nghị trong thời gian tới.
29.
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Đà Nẵng,
http://ldtbxh.danang.gov.vn
30. Tổng cục Dạy nghề, http://tcdn.gov.vn.
31. Tổng cục Thống kê, http://gso.gov.vn.
32.