Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động việt nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố đà nẵng - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHÙNG THỊ HOÀI THƢƠNG

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

ĐÀ NẴNG - 2015


LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên,
giúp đỡ của rất nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn –
Tiến sĩ Nguyễn Am Hiểu, người đã đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình
thực hiện luận văn.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các quý thầy cô giáo, người
đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học
vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo,
Khoa Sau đại học, Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội… đã tạo điều
kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và viết luận văn này.

1.1.2. Vai trò của giải quyết việc làm…………………….……………...…………16
1.2.

Pháp luật về giải quyết việc làm……………………….……..…...….....19

1.2.1. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm……… ………...19
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm……...……………22
Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn giải
quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng……………………………………....28
2.1.

Pháp luật về giải quyết việc làm từ năm 1945 đến nay…………...…….28

2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 ………………..………………...28
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1985 ………………………………….30
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1993………………………………..…….33
2.1.4. Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2012……..……………………………34
2.1.5. Giai đoạn từ năm 2013 đến nay…………………………………………36
2.2. Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm ……………………………36
2.2.1. Về trách nhiệm của các bên trong giải quyết việc làm...………………...36
2.2.2. Giải quyết việc làm cho lao động đặc thù……………………………….43
2.2.3. Tổ chức dịch vụ việc làm……………………………....………………...47
2.2.4. Quỹ giải quyết việc làm………………………………………………….48
2.3. Thực tiễn giải quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng…...………………53
2.2.1. Điều kiện tự nhiên – xã hội …………….……………..………………...53
2.2.2. Thực tiễn giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng………………….57
Chƣơng 3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của giải
quyết việc làm ở Việt Nam và Thành phố Đà Nẵng……………………...…63
4


Bộ luật lao động

TTDVVL

Trung tâm dịch vụ việc làm

XKLĐ

Xuất khẩu lao động

QGQVL

Quỹ giải quyết việc làm

GDP

Tổng sản phẩm nội địa

ILO

Tổ chức lao động quốc tế

WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới

ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á


đề giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố là hết sức quan
trọng, góp phần không nhỏ cho sự phát triển bền vững của một Thành phố được
coi là trung tâm của miền trung. Chính vì thế tôi chọn đề tài “Giải quyết việc
làm theo pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà
Nẵng” làm luận văn Thạc sỹ luật học của mình với mong muốn góp phần hoàn

7


thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam nói chung và thực
tiễn giải quyết việc làm ở Thành phố Đà Nẵng nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Lao động và việc làm có vai trò rất quan trọng, cho nên đề tài về lĩnh vực
này luôn tạo sức hút mạnh mẽ cho các nhà nghiên cứu, những chuyên gia kinh tế
pháp lý tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra nhiều đề tài khoa học có giá trị.
Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài, công trình nghiên cứu
khoa học về vấn đề này. Dưới góc độ kinh tế - xã hội có thể kể tới một số bài
viết trên các tạp chí như: “Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập” của tác
giả Nguyễn Thị Kim Ngân (Tạp chí Cộng sản số 23 năm 2007), “Giải quyết việc
làm cho lao động Việt Nam: Nghịch lý thiếu, thừa” của tác giả Lan Ngọc (Báo
Lao động số 291 ngày 16/12/2008), “Pháp luật lao động trong quá trình toàn
cầu hóa” của tác giả Phạm Trọng Nghĩa (Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 11
năm 2008), “Việc làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta” của tác giả
Nguyễn Tiệp (Tạp chí Lao động – Xã hội số 394 năm 2010), “Cho thuê lại lao
động và những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật lao động Việt
Nam” của tác giả Lê Thị Hoài Thu (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 28
năm 2012).
Bên cạnh đó là các đề tài khoa học: “Đánh giá việc thực hiện chiến lược
việc làm giai đoạn 2001-2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong kỳ đại hội
X” của Viện Khoa học Lao động xã hội năm 2004, “Nghiên cứu, đánh giá tác

tích các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết việc làm.
- Phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về
giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động về
giải quyết việc làm và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc
làm tại Thành phố Đà Nẵng
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và
9


Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về vấn đề việc làm và giải quyết việc
làm. Trong quá trình nghiên cứu các tác giả sẽ vận dụng các nguyên lý của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích làm sáng tỏ các nội
dung nghiên cứu.
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp
phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê, điều tra... làm cơ sở cho quá
trình nghiêm cứu.
5. Ý nghĩa luận văn và thực tiễn của luận văn
Với kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho
sinh viên các trường đại học chuyên luật và không chuyên luật cũng như cán bộ
nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách khi nghiên cứu về lĩnh vực này. Bên
cạnh đó, các cá nhân quan tâm, tìm hiểu pháp luật về giải quyết việc làm, về
thực tiễn thực hiện các chính sách giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng
cũng có thể tham khảo.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thiết thực trong việc giải quyết hiệu
quả vấn đề việc làm trong phạm vi cả nước nói chung và tại thành phố Đà Nẵng
nói riêng.
6. Kết cấu của luận văn

nhiên, đối với con người, kiếm sống không phải là hoạt động sinh vật đơn thuần
giúp con người thích ứng với tự nhiên, với điều kiện sống mà qua đó còn cải tạo
con người, biến con người từ sinh vật hoang dã thành sinh vật xã hội, có ý thức,
tham gia các quan hệ xã hội, hình thành xã hội.
Theo Phó cố vấn kinh tế Giăng Mu-tê, Văn phòng lao động quốc tế:
“Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công
bằng tiền hoặc hiện vật, có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và
trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [9, trang 10-11]
Theo Guy Hân-tơ, Viện phát triển hải ngoại Luân-đôn (Anh): “Việc làm
theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả
11


những gì quan hệ đến việc kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và
các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”.
Giáo sư Sô-nin và Phó Tiến sỹ Ê. Jit-nốp (Liên Xô cũ) lại cho rằng: “Việc
làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có
ích trong khu vực xã hội hóa của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ,
trong kinh tế phụ của công trang viên”.
Đối với Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thuật ngữ “việc làm” được đề
cập trong nhiều văn kiện như Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944; “Chương
trình việc làm thế giới” năm 1969; Tuyên bố tại Hội nghị việc làm thế giới năm
1976; Công ước số 22 năm 1964... nhưng trong các văn kiện này chưa nêu ra
khái niệm “việc làm”. Đến tận Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1993 của các
nhà thống kê lao động, ILO mới đưa ra quan niệm về người có việc làm và
người thất nghiệp. Theo đó, người có việc làm được hiểu là những người làm
một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật
hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì
lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật; còn
người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm

nhiên, trước năm 1986, khái niệm việc làm chỉ bó hẹp trong phạm vi những gì
mà pháp luật cho phép. Trong giai đoạn này, chỉ những người trong biên chế
Nhà nước hoặc là xã viên hợp tác xã mới được coi là có việc làm nghiêm chỉnh.
Quan niệm này xuất phát từ việc đề cao các hình thức sở hữu được coi là thể
hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là quốc doanh và tập thể. Bên cạnh
đó, luật pháp cũng không thừa nhận sức lao động là một loại hàng hóa, không
thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội như thất nghiệp, thị
trường lao động, quyền tự do kinh doanh của người dân. Nhà nước là chủ sở hữu
lớn nhất và cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất của nền kinh tế, có trách
nhiệm đảm bảo việc làm cho mọi người lao động theo kế hoạch. Từ quan niệm
trên, các quy định pháp lý về vấn đề việc làm chủ yếu thể hiện các chế độ như
tuyển dụng lao động, cho thôi việc đối với công nhân viên chức Nhà nước. Nhà
nước lo tất cả mọi vấn đề về việc làm cho lực lượng lao động trong biên chế từ
tiền lương, các chế độ bảo hiểm xã hội... cũng như các ưu đãi, phúc lợi xã hội
13


khác. Do vậy, khi đề cập đến việc làm ở khía cạnh pháp lý, người ta thường cho
rằng việc làm trước hết là quyền của người lao động. Điều 58 Hiến pháp 1980
khẳng định: “công dân có quyền có việc làm”.
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ
chế giải quyết việc làm đã có những thay đổi căn bản. Điều 55, Hiến pháp 1992
khẳng định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội
có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động”. Trong bối cảnh
đó trên cơ sở tiếp thu và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và hoàn
cảnh nước ta, Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã
quy định tại Điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” và Điều 5, BLLĐ năm 1994 khẳng
định quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm: “Mọi người đều có quyền có
việc làm, lựa chọn việc làm và nghề nghiệp...Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự

pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề
và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong
quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày
nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh liên
kết, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của
pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà
nước. Điều này còn khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao
động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức.
Quan niệm về việc làm theo quy định tại BLLĐ năm 1994 và BLLĐ năm
2012 đã tiếp thu có chọn lọc các quan điểm, khái niệm về việc làm trên thế giới.
Nó mang tính khái quát cao và nêu bật được các yếu tố cấu thành việc làm.
Quan niệm một cách đúng đắn về việc làm sẽ là cơ sở để ban hành những chính
sách đảm bảo việc làm và giải quyết tốt vấn đề việc làm ở nước ta.
1.1.1.2. Quan niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ
làm và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các chỗ làm việc

15


chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động,
đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước.
Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà là trách
nhiệm chung của toàn xã hội, các doanh nghiệp và ngay cả bản thân của người
lao động. Hiện nay, các chính sách của nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến
việc tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm
pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân
sẵn sàng làm việc. Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những yếu tố
quan trọng tác động rất mạnh đến việc làm của người lao động, khuyến khích
các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh như giảm thuế sử dụng đất, thuê

tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự
nhiên, cơ sở hạ tầng,..), vào những nhóm người nhất định (lao động không có
trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp,..). Việc không có việc làm trong dài
hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề
nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có.
Ở khía cạnh pháp lý, có việc làm là quyền cơ bản của con người. Mỗi cá
nhân có khả năng lao động, có nhu cầu lao động đều có quyền được làm việc để
tạo ra thu nhập cho bản thân nếu hoạt động đó không trái pháp luật. Điều này đã
được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều
nước. Điều 2 Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 của Liên hợp quốc ghi
nhận: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề, được có những điều
kiện làm việc thuận lợi và chính đáng và được bảo vệ chống lại thất nghiệp”.
Điều 1 Công ước số 122 của ILO về chính sách việc làm năm 1964 cũng nêu rõ:
“Các nước thành viên phải tuyên bố và áp dụng một chính sách tích cực nhằm
xúc tiến toàn dụng lao động, có năng suất và được tự do lựa chọn” cho người
lao động. Ngay tại điều 5 BLLĐ năm 1994 của Việt Nam cũng khẳng định:
“Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học
nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính,
dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo”. Về mặt pháp lý, những quy
định trên của quốc tế cũng như của quốc gia là cơ sở pháp lý để đảm bảo cho
mỗi cá nhân đều có việc làm và thu nhập, có được cuộc sống ổn định và bền
vững, đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người.
17


Thứ hai, đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan
trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố
tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo
tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài
hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng

Chính sách giải quyết việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính
sách kinh tế - xã hội khác, đặc biệt là mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách việc
làm với các chính sách như: chính sách dân số, chính sách giáo dục – đào tạo,
chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách công nghệ...
Chính sách giải quyết việc làm kéo theo các chính sách phát triển giáo
dục để nhằm đào tạo nguồn lực phù hợp cung cấp cho thị trường lao động. Trên
cơ sở về cơ cấu dân số, chính sách giải quyết việc làm cũng được xây dựng phù
hợp.
Giải quyết việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt
chính trị và xã hội. Các chính sách về giải quyết việc làm phù hợp sẽ giảm tỉ lệ
thất nghiệp, giảm các tệ nạn xã hội. Ngược lại, thực hiện không tốt công tác giải
quyết việc làm giúp, nhất là trong giai đoạn kinh tế suy thoái, nạn thất nghiệp sẽ
tăng và cùng với nó là tình trạng đói nghèo, các tệ nạn sẽ dễ dàng phát sinh. Khi
đó gánh nặng sẽ đè lên các chính sách về bảo trợ xã hội, an ninh xã hội. Tình
trạng bất ổn trong công tác giải quyết việc làm kéo dài có thể gây ra bất ổn về
chính trị, xã hội.
1.2. Pháp luật về giải quyết việc làm
1.2.1. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm
Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do việc làm của công dân. Khoản 1, điều 5
BLLĐ quy định quyền của người lao động: “a) Làm việc, tự do lựa chọn việc
làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân
biệt đối xử; b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả
thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều
kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ
hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể; c) Thành lập, gia nhập,
hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của
19


pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện


được cơ hội việc làm như nhau do có sự khác nhau trong những vấn đề như: giới
tính, mức độ trưởng thành hay những đặc điểm đặc thù khác nhau như là người
tàn tật, người có hoàn cảnh đặc biệt, yếu thế, nhất là trong điều kiện cạnh tranh
lao động ngày càng gay gắt. Do vậy, chính sách giải quyết việc làm đã dành cho
các đối tượng cụ thể như: Tại chương X, BLLĐ có những quy định riêng đối với
lao động nữ như chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ; Nghĩa vụ của
người sử dụng lao động đối với lao động nữ; Bảo vệ thai sản đối với lao động
nữ; Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ
mang thai; Nghỉ thai sản; Bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản; Trợ
cấp nghỉ để chăm sóc con ốm, khám thai, thực hiện các biện pháp tránh thai;
Quy định một số công việc không được sử dụng lao động nữ. Chương XI, BLLĐ
quy định lao động chưa thành niên và một số lao động khác như lao động là
người cao tuổi; lao động là người khuyết tật; lao động là người giúp việc gia
đình; người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lao động cho các tổ
chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, người lao động làm việc trong lĩnh vực
nghệ thuật, thể dục thể thao, người lao động nhận công việc về làm tại nhà.
Chính sách pháp luật có những ưu đãi nhất định nhằm hỗ trợ họ có được những
cơ hội việc làm, hòa nhập với cộng đồng, khắc phục những yếu thế đặc thù của
họ. Đây cũng là một nội dung trong chính sách xã hội của Nhà nước.
Nguyên tắc khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo ra
việc làm. Khoản 2, 3, 4 và 5, điều 12 BLLĐ quy định về chính sách hỗ trợ phát
triển việc làm của Nhà nước, cụ thể: “2) Có chính sách bảo hiểm thất nghiệp,
các chính sách khuyến khích để người lao động tự tạo việc làm; hỗ trợ người sử
dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao
động là người dân tộc ít người để giải quyết việc làm.3) Khuyến khích, tạo điều
kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát
triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động. 4) Hỗ trợ người
sử dụng lao động, người lao động tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động ở
nước ngoài. 5) Thành lập Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo

khẳng định: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham
gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ
22


hội có việc làm”. Đây là những khẳng định có tính chất tuyên ngôn của Nhà
nước về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Theo đó, giải quyết việc
làm còn bao gồm phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm, khuyến khích
mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế nhằm tự tạo việc làm cho mình và
cho xã hội. Điều này có nghĩa là, vấn đề tự tạo việc làm cho bản thân chịu tác
động của việc thực hiện hàng loạt cơ chế pháp lý khác như quyền tự do kinh
doanh, tự do cư trú, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế, khuyến khích đầu tư... Còn việc làm cho người lao động trong quan hệ với
người sử dụng lao động chịu sự tác động của các chế độ pháp lý như quyền được
lao động, tự do tìm kiếm việc làm, tự do cư trú hợp đồng lao động, dạy nghề,
bảo đảm việc làm, thất nghiệp...
Do vậy, có thể khẳng định, giải quyết việc làm là một chính sách lớn của
Nhà nước thông qua hàng loạt cơ chế, biện pháp pháp lý và kinh tế - xã hội và
bảo đảm các vấn đề xã hội. Đó cũng là nội dung điều chỉnh của pháp luật về vấn
đề việc làm.
1.2.2.1. Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động:
Trong những năm đổi mới, nhất là từ giai đoạn 2001 đến nay, hệ thống
pháp luật kinh tế tiếp tục được hoàn thiện đã góp phần tạo nên thị trường lao
động phát triển. Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002 và 2006,
Bộ luật lao động năm 2012, Luật bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, các nghị định, thông tư liên quan
tới lao động, thị trường lao động và việc làm đã hoàn thiện khung pháp lý cho
thị trường lao động phát triển, tăng cường cơ hội việc làm và hoàn thiện quan hệ
lao động. Các chế độ về tiền lương, thu nhập, trợ cấp ngày càng hoàn thiện, góp
phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu nhập của người lao động.

việc làm quốc gia theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992, đã
tạo môi trường pháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung-cầu về lao động, tăng
cường cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công
việc. Đặc biệt, với việc sửa Điều 18 của Bộ luật lao động năm 1995, Nghị định
số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/5/2005 và Nghị định số 71/2008/NĐ-CP của Chính
phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP đã từng
24


bước hoàn thiện khung pháp lý cho dịch vụ việc làm. Cùng với các trung tâm
giới thiệu việc làm công lập, các doanh nghiệp cũng được phép hoạt động giới
thiệu việc làm, kể cả sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
1.2.2.3. Hỗ trợ lao động di chuyển
Chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ di cư đến các vùng kinh tế
mới; hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số
(Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg); Chương trình di dân gắn với xóa đói giảm
nghèo (thuộc nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai
đoạn 2006- 2010). Các chương trình di dân đã đáp ứng một phần về tái phân bổ
nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng, góp phần ổn định đời
sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và bảo vệ an ninh quốc phòng.
Các quy định về cư trú, đăng ký hộ khẩu tại các khu đô thị, các thành phố
lớn ngày càng thông thoáng. Luật Cư trú (năm 2007) đã mở rộng quyền cư trú
của công dân, giúp cho việc di chuyển lao động dễ dàng hơn. Các chính sách
phát triển đô thị, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các vùng kinh tế trọng
điểm... cũng có tác động kích thích di chuyển lao động, nhất là di chuyển nông
thôn - đô thị, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao điều kiện về việc
làm và thu nhập cho lao động nông thôn.
1.2.2.4. Tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh
Thông qua việc ban hành gần 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status