Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động việt nam và thực tiễn thực hiện tại vùng đồng bằng sông hồng - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯU THỊ HOÀI ANH

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đào Thị Hằng

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả
Lưu Thị Hoài Anh



2.2.5. Dạy nghề gắn với việc làm ................................................................... 45
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM VÀ GIẢI
QUYẾT HIỆU QUẢ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG HỒNG .............................................................................................. 51
3.1. Yêu cầu cơ bản hoàn thiện pháp luật về giải quyết việc làm ở Việt
Nam
....................................................................................................... 51
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước ...................... 51
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải phù
hợp với xu thế chung toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ................................ 52
3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động về giải quyết
việc làm ....................................................................................................... 53
3.2.1. Xây dựng, ban hành và sửa đổi, bổ sung một số quy định .................... 53
3.2.2. Hoàn thiện khung pháp luật về việc làm ............................................... 62
3.3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm tại vùng đồng
bằng sông Hồng ............................................................................................ 62
3.3.1. Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng
bằng sông Hồng gắn với giải quyết việc làm ................................................. 62
3.3.2. Thực hiện tốt vấn đề dân số, kế hoạch hoá gia đình ............................. 63
3.3.3. Hoàn thiện và phát triển thị trường lao động ....................................... 64
3.3.4. Đẩy mạnh công tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài ................. 65
3.3.5. Hoàn thiện các thể chế, chính sách có liên quan .................................. 66
KẾT LUẬN .................................................................................................. 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 69


CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

tế và là nguyên nhân, nguồn gốc sâu xa nhất gây ra những tiêu cực về mặt xã
hội. Đối với nước ta, giải quyết việc làm còn là tiền đề quan trọng để sử dụng
có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp
ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,
là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người.
Xuất phát từ tầm quan trọng và tính bức xúc của vấn đề giải quyết việc
làm, từ nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của người lao động, Đảng và
Nhà nước có những chủ trương, chính sách và biện pháp để tạo việc làm,
kiểm soát thất nghiệp. Việc ban hành các văn bản luật như BLLĐ, Luật
Doanh nghiệp, Luật Bảo hiểm Xã hội, Luật Đất đai, Luật Dạy nghề, Luật
người lao động Việt Nam đi làm việc theo hợp đồng… đã xác lập khung pháp
lý tương đối hoàn chỉnh, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi trong việc
đầu tư phát triển sản xuất, thúc đẩy quan hệ lao động và thị trường lao động
phát triển, người lao động tự tạo việc làm và có việc làm, đáp ứng yêu cầu


2

bức xúc về đời sống của xã hội. Những kết quả đó đã góp phần quan trọng
đưa nước ta bước sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Bên cạnh những thuận lợi, quá trình đổi mới cũng đặt ra nhiều thách
thức, tạo sức ép đối với vấn đề tạo việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2012 của
lao động trong độ tuổi là 1,99%, trong đó khu vực thành thị là 3,25%, khu vực
nông thôn là 1,42%. Tỷ lệ thiếu việc làm vẫn còn khá cao, 2,8% (khu vực
thành thị là 1,58%, khu vực nông thôn là 3,35%). Thực tế cho thấy, chúng ta
vẫn còn thiếu những chính sách đủ mạnh để khuyến khích đầu tư, huy động
mọi nguồn lực, phát triển các thị trường (đặc biệt là thị trường lao động), các
quy định của pháp luật còn bộc lộ nhiều bất cập trong quá trình triển khai thực
hiện, phần nào ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, đặc biệt

lược việc làm giai đoạn 2001 - 2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong kỳ
đại hội X” của Viện Khoa học Lao động xã hội năm 2004, “Nghiên cứu, đánh
giá tác động về lao động, việc làm và xã hội sau khi Việt Nam gia nhập WTO
và đề xuất những giải pháp” của Cục Việc làm năm 2008, “Pháp luật lao
động về việc làm - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn
Thắng Lợi năm 2010. Một số công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý như
luận văn thạc sỹ luật học “Việc làm và quy định của pháp luật về việc làm ở
Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Văn
Quynh (2003), “Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập” của tác giả Đinh Thị Nga Phượng (năm 2011),
“Những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm trong bối
cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lâm Thị Thu Huyền
(2012).
Các công trình nêu trên đã đề cập tới khía cạnh pháp luật về việc làm


4

và giải quyết việc làm ở mức độ nhất định. Song việc tiếp tục nghiên cứu để
có các góc nhìn đa chiều và góp thêm tiếng nói để hoàn thiện pháp luật việc
làm trong giai đoạn hiện nay cũng là cần thiết, đặc biệt khi chưa có một công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết
việc làm tại vùng đồng bằng sông Hồng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận
cơ bản về việc làm, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của
pháp luật về việc làm tại vùng đồng bằng sông Hồng, phát hiện những điểm
còn hạn chế, bất cập của pháp luật; từ đó luận văn sẽ đề xuất những giải pháp
hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về giải quyết việc làm và nội dung
pháp luật lao động hiện hành về giải quyết việc làm.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết việc làm tại
vùng đồng bằng sông Hồng.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả giải quyết việc làm taị vùng đồng bằng sông Hồng.


6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1. Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1. Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1.1. Khái niệm việc làm
Việc làm là vấn đề mang tính chất toàn cầu, phản ánh sự phát triển của
lao động xã hội. Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế
giới động vật nói chung và con người nói riêng. Tuy nhiên, đối với con người,
kiếm sống không chỉ là hoạt động đơn thuần giúp con người thích ứng với
thiên nhiên, với điều kiện sống mà qua đó còn cải tạo con người, biến con
người từ sinh vật hoang dã thành sinh vật xã hội, có ý thức, tham gia các quan
hệ xã hội. Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm
hoặc thực hiện việc làm.
Theo Phó cố vấn Kinh tế Giăng Mu - tê, Văn phòng Lao động quốc tế,
“Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công
bằng tiền hoặc hiện vật, có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và
trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [9, trang 10-11].
Theo Guy Hân - tơ, Viện Phát triển hải ngoại Luân Đôn “Việc làm theo

Khái niệm việc làm mang tính trừu tượng nên một số quốc gia đã đưa
ra quan niệm về việc làm dựa vào khái niệm đối lập, đó là khái niệm thất
nghiệp của ILO. Mặc dù, có rất nhiều quốc gia đã sử dụng khái niệm thất
nghiệp để đưa ra quan niệm về việc làm, nhưng mỗi quốc gia lại có quan niệm
khác nhau về khoảng thời gian không có việc làm (thất nghiệp).
Ở Việt Nam, dưới góc độ ngôn ngữ học, việc làm nói chung là “công
việc được giao cho và được trả công” [38, Trang 1076].


8

Dưới góc độ pháp lý, quyền có việc làm được coi là quyền hiến định
của mọi công dân. Tuy nhiên, trước năm 1986, khái niệm việc làm chỉ bó hẹp
trong phạm vi những gì mà pháp luật cho phép. Do đó, mọi hoạt động của con
người không trái pháp luật nhưng pháp luật không cho phép đều không được
thừa nhận là có việc làm. Trong giai đoạn này, chỉ những người trong biên
chế Nhà nước hoặc là xã viên hợp tác xã mới được coi là có việc làm nghiêm
chỉnh. Quan niệm này xuất phát từ việc đề cao các hình thức sở hữu được coi
là thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là quốc doanh và tập thể. Bên
cạnh đó, luật pháp cũng không thừa nhận sức lao động là một loại hàng hoá,
không thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội như thất
nghiệp, thị trường lao động, quyền tự do kinh doanh của người dân. Nhà nước
là chủ sở hữu lớn nhất và cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất của nền kinh
tế, có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho mọi người lao động theo kế hoạch.
Cũng từ quan niệm trên, các quy định pháp lý về vấn đề việc làm chủ yếu thể
hiện các chế độ như tuyển dụng lao động, cho thôi việc đối với công nhân
viên chức Nhà nước. Nhà nước lo tất cả mọi vấn đề về việc làm cho lực lượng
lao động trong biên chế từ tiền lương, các chế độ bảo hiểm xã hội… cũng như
các ưu đãi, phúc lợi xã hội khác.
Về mặt xã hội, mọi người có sức lao động đều có quyền có việc làm.

Thứ nhất, là hoạt động lao động, thể hiện sự tác động của sức lao động
của con người vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
Thứ hai, việc làm tạo ra thu nhập, điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và
nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Những hoạt động của con
người dù có tiêu tốn sức lực mà không tạo ra thu nhập, tức không vì mục đích
kiếm sống thì không được thừa nhận là việc làm.


10

Thứ ba, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính chất
pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành
nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt
Nam trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp
pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do
liên doanh liên kết, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong
khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay
ngoài khu vực Nhà nước. Điều này còn khẳng định tính chất pháp lý trong
hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực
phi chính thức.
Bản thân tác giả cho rằng, quan niệm về việc làm theo quy định tại
BLLĐ năm 1994 và BLLĐ năm 2012 đã tiếp thu có chọn lọc các quan điểm,
khái niệm về việc làm trên thế giới. Nó mang tính khái quát cao và nêu bật
được các yếu tố cấu thành việc làm. Quan niệm một cách đúng đắn về việc
làm sẽ là cơ sở để ban hành những chính sách đảm bảo việc làm và giải quyết
tốt vấn đề việc làm ở nước ta.
1.1.1.2. Khái niệm giải quyết việc làm
Bên cạnh quan niệm về việc làm, pháp luật cũng quy định về vấn đề
giải quyết việc làm, bảo đảm việc làm cho người lao động. Điều 13 BLLĐ
năm 1994 khẳng định: “Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả

Đối với từng cá nhân, việc làm sẽ tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân
mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân.
Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng
cá nhân. Tình trạng không có việc làm trong thời gian dài sẽ dẫn tới việc mất
cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp, làm hao


12

mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có. Giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ là
điều kiện và cơ sở để triển khai các chính sách xã hội khác như phát triển văn
hóa, y tế, giáo dục… góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội.
Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất. Nó là nhân
tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân. Nền kinh tế luôn phải
đảm bảo nhu cầu việc làm cho các cá nhân trong xã hội. Chỉ có như thế, nền
kinh tế mới thực sự phát triển một cách bền vững. Đồng thời, nó cũng duy trì
lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động. Đó là tiền đề quan trọng để
sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội, là yếu tố quyết định để phát huy
nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp
ứng nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của nhân dân. Nếu không giải quyết
tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
Đối với xã hội, mỗi cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã
hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội. Khi mọi cá nhân trong
xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu
thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con
người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ… Ngược lại, khi nền kinh
tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến
nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân
cách con người. Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu
đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong

nhân đều có việc làm và thu nhập, có được cuộc sống ổn định và bền vững,
đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người.


14

1.2. Giải quyết việc làm theo quy định của pháp luật hiện hành
1.2.1. Trách nhiệm của các chủ thể hữu quan trong việc giải quyết
việc làm
Điều 13 BLLĐ năm 1994 quy định: “Giải quyết việc làm, bảo đảm cho
mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của
Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội” [27].
Ở tầm vĩ mô, Nhà nước định ra chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, lập Quỹ quốc gia về việc làm
từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn khác. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội
đồng nhân dân cùng cấp quyết định. Nhà nước cũng có những chính sách về
hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm miễn thuế, khuyến khích và tạo điều
kiện thuận lợi cho những tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát
triển sản xuất kinh doanh để giải quyết việc làm cho người lao động; gắn
chương trình việc làm với các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội, di
dân phát triển vùng kinh tế mới; phát triển hệ thống dịch vụ việc làm. Nhà
nước còn có chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các dự án phát triển kinh
tế - xã hội sử dụng nhiều lao động, ưu tiên sử dụng lao động tại chỗ, lao động
là người Việt Nam.
Các đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện các chương trình
và Quỹ giải quyết việc làm. Đặc biệt, công đoàn có trách nhiệm tham gia
cùng với cơ quan nhà nước, đơn vị tổ chức hữu quan giải quyết việc làm, tổ
chức dạy nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp, văn hóa, khoa học kỹ thuật

quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.


16

Điều 13 BLLĐ năm 2012 cũng quy định:
“Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng
chương trình việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp
quyết định.
Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội và người sử dụng lao động khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm tham gia thực hiện chương trình việc làm” [30].
Nội dung chương trình việc làm bao gồm mục tiêu, thời gian, các dự
án, hoạt động, các chính sách, nguồn lực, hệ thống tổ chức để thực hiện
chương trình. Việc xây dựng chương trình phải đảm bảo tính hệ thống, phải
gắn bó giữa mục tiêu và điều kiện thực hiện mục tiêu. Các chương trình việc
làm thông thường được xây dựng trong thời gian năm năm hoặc hàng năm.
1.2.2.2. Hình thành và sử dụng các loại quỹ giải quyết việc làm
Theo quy định của pháp luật hiện hành, có bốn loại quỹ giải quyết việc
làm, gồm Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, Quỹ giải quyết việc làm ở địa
phương, Quỹ giải quyết việc làm cho người tàn tật và Quỹ hỗ trợ việc làm
ngoài nước.
Quỹ quốc gia về việc làm hình thành từ năm 1992, đây là thời kỳ đổi
mới đánh dấu giai đoạn quá độ từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vận động và
phát triển không ngừng. Do đó, thị trường lao động của nước ta cũng diễn ra
hết sức sôi động nhạy cảm và biến chuyển phức tạp ở mọi khu vực từ thành
thị tới nông thôn, trong mọi thành phần kinh tế từ quốc doanh tới kinh tế hộ
gia đình. Trong giai đoạn này, nền kinh tế đã có những biến chuyển rất cơ
bản, đã làm cho thị trường lao động hình thành, vận động để ngày càng phù

được thành lập ở cấp tỉnh và do Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định, có


18

mục đích sử dụng để thực hiện chương trình giải quyết việc làm của địa
phương và hỗ trợ thực hiện chương trình giải quyết việc làm của cấp huyện.
Ngoài hai quỹ trên, còn có Quỹ việc làm cho người tàn tật và Quỹ hỗ
trợ việc làm ngoài nước. Quỹ việc làm cho người tàn tật được sử dụng vào
mục đích hỗ trợ hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với một số cơ sở, doanh
nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tàn tật, các hoạt động phục hồi chức năng
lao động cho người tàn tật. Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước nhằm phát triển
và mở rộng thị trường lao động ngoài nước, nâng cao chất lượng nguồn lao
động, hỗ trợ giải quyết rủi ro cho người lao động và doanh nghiệp.
1.2.2.3. Tổ chức giới thiệu việc làm
Một trong những biện pháp quan trọng để giải quyết việc làm là thành
lập và phát triển hệ thống tổ chức GTVL [27, khoản 1 Điều 15]. Tổ chức
GTVL là đơn vị sự nghiệp có thu hoặc doanh nghiệp được thành lập theo Luật
Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước để thực hiện hoạt động tư vấn,
GTVL cho người lao động, cung ứng và giúp tuyển lao động theo yêu cầu của
người sử dụng lao động, thu thập và cung ứng thông tin về thị trường lao
động, có quyền dạy nghề gắn với tạo việc làm. Theo quy định tại khoản 1 Điều
18 BLLĐ và Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 của Chính phủ về
điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức GTVL, tổ chức GTVL
gồm 2 hình thức là: Trung tâm GTVL và Doanh nghiệp hoạt động GTVL.
Trung tâm GTVL do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội thành lập, là
đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường
xuyên. Các Trung tâm GTVL được nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội giao
chỉ tiêu biên chế, được hỗ trợ đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước về trang
thiết bị, cơ sở vật chất, tài chính và được miễn hoặc giảm thuế theo quy định



20

XKLĐ và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát
triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ
tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước,... cùng
với các giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, XKLĐ và chuyên
gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao
động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá [3].
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang bị ảnh hưởng của cuộc suy
thoái kinh tế trên thế giới hiện nay, việc đưa lao động và chuyên gia ra nước
ngoài làm việc lại càng có ý nghĩa quan trọng.
Thực hiện chủ trương của Đảng, trong các năm qua, Quốc hội, Chính
phủ liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về XKLĐ và chỉ đạo các Bộ, ngành
hữu quan thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để đẩy mạnh XKLĐ. Hiện nay,
văn bản có hiệu lực pháp lý cao điều chỉnh vấn đề này là Luật người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và kèm theo đó là hàng
loạt văn bản như Nghị định, Thông tư, Quyết định... để hướng dẫn triển khai
thi hành Luật trên.
Theo quy định tại Điều 6 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng, người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thể
theo một trong các hình thức sau đây:
- Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh
nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức
sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
- Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh
nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status