ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TRẺ - Pdf 68

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TRẺ
I. Phân tích và đánh giá thực trạng lực lượng lao động trẻ
1. Quy mô
Tính đến năm 2007, lực lượng lao động cả nước là 46,7 triệu người, trong
đó dân số trong độ tuổi là 44,16 triệu người (chiếm 94,54%), lao động ở nhóm
tuổi 15 – 34 là 21,27 triệu người (chiếm 45,54% trong tổng lực lượng lao
động), là lợi thế lớn về nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, đồng thời cũng tạo nên sức ép lớn về nhu cầu việc làm của hơn 1 triệu
người bước vào tuổi lao động mỗi năm.
Bảng 2: Số thanh niên bước vào độ tuổi lao động hàng năm 2000 – 2007
Đơn vị : nghìn người
Năm Thành thị Nông thôn Cả nước
2000 499 1476 1975
2001 478 1478 1956
2002 450 1491 1941
2003 425 1463 1888
2004 391 1484 1875
2005 386 1478 1864
2006 380 1454 1834
2007 374 1466 1840
2008 (sơ bộ) 369 1457 1826
Nguồn: Tổng Cục thống kê
Theo kết quả điều tra của Tổng Cục thống kê , dân số trong độ tuổi lao
động năm 2000 là 55,36 triệu, chiếm 65 % dân số; năm 2005 là 45,10 triệu,
chiếm 54,3% dân số, đến năm 2007 là 44,16 triệu người, chiếm 51,85% dân
số. Điều này cho thấy, quá trình “trẻ hóa” ở Việt Nam đang chững lại nhường
chỗ cho quá trình “già hóa” của dân số, tỷ lệ người cao tuổi đang gia tăng trong
khi tỷ lệ người trẻ lại có xu hướng giảm xuống. Dự báo đến năm 2010, dân số
trong độ tuổi lao động là 57,4 triệu người, chiếm 64,65% dân số.
Thời kỳ 2006 – 2010 được dự báo là sẽ có những biến động nhỏ về dân

đoạn 1995 – 2000.
2. Cơ cấu
Việc nghiên cứu cơ cấu (cấu trúc) dân số theo các tiêu chí khác nhau chính
là việc làm rõ các đặc trưng về dân số của nhóm dân số đó ở các khía cạnh khác
nhau. Các tiêu chí được dùng chủ yếu là giới, tuổi, ngành, thành phần kinh tế…
Lao động trẻ là một nhóm dân số thuộc lực lượng lao động được chia khi nghiên
cứu cơ cấu dân số theo tuổi – tức xem xét xem độ tuổi nào là lực lượng lao động
chính, chiếm phần đông trong lực lượng lao động. Tuy nhiên, để có thể hiểu sâu
hơn về cơ cấu lao động trẻ theo nhóm tuổi, việc nghiên cứu sẽ được lồng ghép
với các tiêu chí khác. Trong bài viết này, hai tiêu chí khác được sử dụng để làm rõ
thêm cơ cấu lao động trẻ là giới tính và vùng, lãnh thổ (hay khu vực thành thị và
khu vực nông thôn).
2.1. Cơ cấu theo giới tính
Cấu trúc của lực lượng lao động trẻ cho biết trong tổng số lao động trẻ thì
có bao nhiêu là nam, bao nhiêu là nữ.
Biểu đồ 2: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo độ tuổi năm 1996 và 2007
Đơn vị : %
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trẻ là khá cao
(chỉ trừ nhóm tuổi từ 15 – 19, đây là nhóm lao động vị thành niên), trung bình
đạt 90,69 % năm 1996, và 88,68% năm 2007 cao hơn tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động ở các nhóm tuổi còn lại, năm 1996 là 70,71 %, năm 2007 là 73,27%.
Tuy nhiên tỷ lệ này lại có sự giảm sút theo thời gian, tỷ lệ tham gia lao động
của thanh niên từ 15 tuổi đến 24 tuổi năm 1996 cao hơn so với năm 2007, đặc
biệt là những lao động thuộc nhóm tuổi 15 – 19; năm 1996 có hơn 1/2
(55,51%) số lao động ở nhóm tuổi này tham gia lao động nhưng đến năm 2007
tỷ lệ này chỉ còn khoảng 1/3 (36,91%); ở nhóm tuổi từ 20 – 24 tỷ lệ tham gia
lực lượng lao động là 86,69 % năm 1996 giảm xuống còn 79,11 % năm 2007.
Sở dĩ có sự giảm sút này là do mức sống của người dân sau 10 năm có sự cải
thiện đáng kể làm gia tăng cơ hội học tập ở các trường cao đẳng, đại học và
dạy nghề cho thanh niên. Và cũng nhờ đó, tỷ lệ tham gia ở nhóm tuổi lớn hơn

này ở thanh niên nông thôn chỉ là 1,9 %. Năm 2007, tỷ lệ thanh niên trong độ
tuổi lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật là 34,75%, chủ yếu là đào tạ
nghề không chứng chỉ.
3. Chất lượng lực lượng lao động trẻ
Chất lượng lao động là yếu tố hàng đầu, cực kỳ quan trọng, có vai trò
quyết định đến khả năng cạnh tranh của lao động trẻ trên thị trường lao động.
Chất lượng lao động thanh niên biểu hiện chủ yếu ở trình độ học vấn và
chuyên môn kỹ thuật. Chỉ tiêu này được xem xét ở phạm vi quốc gia và cấp
doanh nghiệp.
3.1. Trình độ học vấn
Một trong những chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá khả năng và hiệu quả sử
dụng các công nghệ tiên tiến của một nền kinh tế chính là trình độ học vấn.
Nó cũng phản ánh khả năng làm việc của người lao động nhằm đáp ứng nhu
cầu với nhu cầu và sự cạnh tranh ngày càng lớn trong thị trường lao động.
So với các nước trên thế giới có cùng mức phát triển, trình độ học vấn
của lao động Việt Nam tương đối cao. Theo kết quả điều tra Lao động – Việc
làm hàng năm từ năm 2000 đến năm 2007, số lao động trẻ không biết chữ
hoặc học hết tiểu học đã giảm liên tục, các cấp học cao hơn có xu hướng
tăng. Lao động trẻ có trình độ học vấn cao hơn mức chung của cả nước,
khoảng trên 50 % có trình độ hết THCS và THPT.
Bảng 3: Trình độ học vấn của lao động trẻ qua các năm 2000 – 2007
Đơn vị : %
Năm
Trình độ học vấn
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Chưa biết chữ 5,7 5,1 3,8 4,1 4 3,7 3,6
Chưa hết tiểu học 22,8 20,3 18,6 18,0 16,5 15,4 14,2
Đã tổt nghiệp tiểu học 26,9 28,1 29,4 28,9 29,3 28,6 26,6
Tôt nghiệp THCS 31,1 32,4 32,3 31,9 33 34,2 36,4
Tốt nghiệp THPT 13,5 14,1 15,9 17,1 17,2 18,1 19,2

công nghệ; nâng cao trình độ nghề nghiệp, kỹ năng và dễ dàng hơn trong hội
nhập thị trường lao động.
3.2. Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Ngoài chỉ tiêu trình độ học vấn, chất lượng lao động trẻ còn thể hiện rất
rõ trong cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Bảng 5: Tỷ lệ lao động phân theo nhóm tuổi và trình độ chuyên môn kỹ thuật
Nhóm tuổi Tổng số
Không có
trình độ
CMKT
Sơ cấp/
chứng chỉ
nghề
Công nhân
kĩ thuật
không có
bằng
Công nhân
kĩ thuật có
bằng
Trung học
chuyên
nghiệp
CĐ, ĐH
trở lên
Cả nước
15 – 19 100 91,4 2,9 2,4 3,3 - -
20 – 24 100 79,8 4,1 4,3 5,4 2,8 3,6
25 – 29 100 77,2 3,2 5,0 5,4 3,3 5,9
30 – 34 100 80,0 3,0 4,82 5,0 4,2 3,6

Tổng điều tra dân số năm 2007 cho thấy, 69,7% lao động trẻ ở khu vực đô thị
và 93,4% lao động trẻ ở khu vực nông thôn không có chuyên môn nghiệp vụ.
18% lao động trẻ ở đô thị có trình độ đại học và trên đại học, trong khi tỷ lệ này
ở lao động trẻ nông thôn chỉ là 1,9%. Năm 2006, tỷ lệ lao động trẻ trong độ tuổi
lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật là 32,9%, chủ yếu là đào tạo
nghề không có chứng chỉ.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trẻ trong các doanh nghiệp so
với trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trẻ chung của cả nước là khá
cao. Số công nhân kỹ thuật có bằng , trung cấp, cao đẳng và đại học từ gần
2/3 năm 2001 lên trên ¾ năm 2007. Số lao động trẻ có trình độ chuyên môn
kỹ thuật không có bằng chiếm khoảng ¼ đa số là lao động phổ thông mới
tuyển vào doanh nghiệp được đào tạo ngắn hạn và kèm cặp, tích lũy kinh
nghiệm ngay tại nơi làm việc. Đây cũng là hiện tượng phổ biến của các doanh
nghiệp hiện nay, nhất là các doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu (dày da, may mặc, lắp ráp
điện tử, chế biến thủy hải sản…) có nhu cầu tuyển nhiều lao động, trong khi lao
động qua đào tạo không đủ để cung cấp cho doanh nghiệp.
Bảng 6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trẻ trong các doanh nghiệp
năm 2001, 2007
Đơn vị: %
Trình độ chuyên môn kỹ thuật Năm 2001 Năm 2007
Công nhân kỹ thuật không có bằng 36,6 24
Công nhân kỹ thuật có bằng 31,2 36,4
Trung cấp 26,6 30,7
Cao đẳng, đại học 5,6 8,9
Nguồn: Điều tra thị trường lao động 2007
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Qua việc nghiên cứu chất lượng lao động trẻ ta có thể thấy:
- Tỷ lệ lao động trẻ qua đào tạo, nhất là đào tạo nghề thấp, kỷ luật
lao động, tác phong làm việc công nghiệp cơ bản đã có nhưng mới

và Xã hội
Tổng cầu lao động trẻ có xu hướng tăng và chiếm trên 1/3 tổng cầu của
nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt, số chỗ việc làm mới được tạo ra hằng năm
tăng liên tục 1,2 triệu năm 2000 – 2002; 1,42 triệu năm 2004 và 1,6 triệu năm
2006 – 2007. Số chỗ này chủ yếu được tạo ra cho thanh niên và từ năm 200
trở đi, bằng hoặc cao hơn số thanh niên mới bước vào lực lượng lao động
(khoảng 1,18 triệu người / năm).
Tình hình việc làm cho lao động trẻ được thể hiện rõ thông qua tỷ lệ đủ
việc làm của lao động trẻ qua các năm.
Nhóm tuổi
Thành thị Nông thôn Cả nước
2006 2007 2006 2007 2006 2007
15 – 19 71 77 85 86 84 85
20 – 24 81 81 87 88 86 86
25 – 29 88 88 90 91 89 90
30 – 34 90 92 95 92 92 93
Chung 15–34 85 87 90 91 88 89
Cả nước 90 90 92 93 91 92
Nguồn: Điều tra Lao động – Việc làm các năm 2006, 2007
Qua bảng trên ta có thể thấy, lao động trẻ trong lực lượng lao động có tỷ
lệ đủ việc làm thấp hơn tỷ lệ chung của cả nước. Tỷ lệ đủ việc làm của lao
động trẻ khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn từ 5 – 6 %. Trong nhóm
lao động trẻ thì lao động ở nhóm tuổi từ 15 – 19 có tỷ lệ đủ việc làm thấp nhất,
tiếp đến là nhóm tuổi 20 – 24 . Đây là 2 nhóm tuổi mới tham gia vào thị trường
lao động, đang trong thời kỳ làm quen với công việc, thiếu kinh nghiệm và kỹ
năng nghề nghiệp, vì thế việc làm thường không ổn định
2. Cơ cấu việc làm
2.1 Cơ cấu theo nhóm ngành
Trong ba năm gần đây (2005 – 2007), số việc làm mới được tạo ra cho
lao động trẻ là xấp xỉ 53,71% trong ngành nông – lâm – ngư nghiệp nói chung;

nghiệp.
Bảng 8: Cơ cấu việc làm mới tạo ra cho lao động trẻ các năm 2005 – 2007
Đơn vị : %
Ngành
Năm
Theo ngành Theo chương trình
Nông – lâm –
ngư nghiệp
Công nghiệp
– xây dựng
Dịch vụ
Chương trình
phát triển kinh
tế
Chương
trình
XĐGN
Chương trình
XKLĐ và
chuyên gia
2005 54,95 19,26 25,80 74,57 22,84 2,29
2006 53,71 20,06 26,23 74,22 22,53 3,25
2007 52,48 20,88 26,64 73,44 21,63 4,93
Nguồn: Số liệu thống kê các năm 2005 – 2007
Mặc dù vậy, lao động trẻ trong cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động
xã hội cả nước cũng đã có những chuyển biến tích cực theo hướng giảm dần
số lao động trong nông nghiệp, tăng dần lao động trong công nghiệp và dịch
vụ. Năm 2000, cả nước có 69% lao động làm việc trong lĩnh vực nông – lâm –
thủy sản, 10,9% làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và 20,1% lao
động làm trong lĩnh vực dịch vụ. Đến năm 2005, cơ cấu này đã có sự thay đổi,

Những kết quả trên đã cho thầy rõ lao động trẻ ít có cơ hội làm việc trong
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và tỷ trọng phân công lao động đã lỗi thời,
với tỷ trọng nông nghiệp cao trong nền kinh tế nói chung. Trong hầu hết các
trường hợp, các cơ sở sản xuất kinh doanh ngần ngại tuyển dụng lao động trẻ
bởi lý do chi phí dado tạo cao. Đây là một nghịch lý vì các khu chế xuất ở miền
Nam đều đang cần thêm lao động nhưng lại không tuyển dụng đủ số lao động
cần thiết. Tay nghề trình độ thấp, chỉ có khả năng lao động thủ công là những
yếu tố đang cản trở thanh niên Việt Nam tìm được việc làm trong những khu
vực sản xuất công nghiệp và các lĩnh vực có công nghệ hiện đại khác. Các xí
nghiệp tư nhân và quy mô nhỏ tuy được coi là nguồn tạo công ăn việc làm,
nhưng cũng gặp phải nhiều bất cập trong tuyển dụng và đào tạo lao động trẻ
nhằm đáp ứng được yêu cầu kỹ năng tay nghề. Khu vực Nhà nước chỉ đáp
ứng được 7% việc làm cho lực lượng lao động trẻ. Chế độ bảo hiểm xã hội và
các phúc lợi bảo trợ xã hội khác mà việc làm trong khu vực Nhà nước có được
hầu như còn “nằm ngoài tầm tay” với phần lớn thanh niên hiện nay, đặc biệt là
nhóm thanh niên ở độ tuổi từ 15 – 29.
2.3. Cơ cấu theo vị thế
Vị thế công việc ở Việt Nam được hiểu là các loại làm việcquan trọng và
hữu ích bao gồm: chủ sử dụng lao động; tự làm việc cho bản thân; làm công;
làm việc gia đình không hưởng công và những người không thuộc vị thế công
việc nào do không có đầy đủ thông tin.
Tuy nhiên, vì không có điều kiện nghiên cứu sâu theo từng thành phần
theo cách phân loại trên và để đơn giản hóa cho việc nghiên cứu, bài viết sẽ
nghiên cứu vị thế lao động theo hai khía cạnh chính là làm công ăn lương và
không làm công, ăn lương. Năm 2007, số lao động trẻ làm công ăn lương
(tham gia thị trường lao động) chiếm 25,6% số lao động trẻ có việc làm, tăng
1,6% so với năm 2006. Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỷ lệ làm công ăn lương
cao nhất là Đông Nam Bộ (44,2%), tiếp đến là Đồng bằng Sông Cửu Long
(28,1%), Duyên hải Nam Trung Bộ (27,5%); Đồng bằng Sông Hồng (26,2%),
thấp nhất là vùng Tây Bắc (9,8%), Đông Bắc (15,3%). Ở các vùng còn lại, tỷ lệ

2000 16,8 4,3
2001 13,7 3,8
2002 16,1 4,0
2003 14,1 4,1
2004 13,9 4,0
2005 13,4 3,7
2006 14,5 3,6
2007 14,2 3,8
Nguồn : Số liệu Điều tra Lao động – Việc làm các năm
Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng thất nghiệp là do hệ
thống giáo dục của nước ta đang còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu
cầu của thị trường lao động. Theo kết quả tổng hợp gần đây của Viện Nghiên
cứu thanh niên TP Hồ Chí Minh, có tới 88,6% doanh nghiệp có nhu cầu tuyển
dụng công nhân kỹ thuật, nhưng số người đáp ứng các tiêu chuẩn lại thấp, nơi
tuyển được cao nhất cũng chỉ đạt 56,7% nhu cầu. Qua khảo sát 50 doanh
nghiệp tại Hà Nội với 33.115 lao động thì7 doanh nghiệp cho biết số lao động
trẻ được đào tạo từ các trường nghề về chất lượng kém hơn nhiều so với yêu
cầu thực tế, 43 doanh nghiệp cho biết họ phải đào tạo lại từ 3 tháng đến 1
năm.
Trong khi cuộc cạnh tranh để kiếm được việc làm có thu nhập ngày một
tăng trong thanh niên, thì lại có sự hụt hẫng giữa kiến thức tiếp thu được trong
nhà trường với những điều mà thị trường lao động đòi hỏi. Các doanh nghiệp
ngần ngại không muốn tuyển dụng lao động trẻ chưa có kinh nghiệm trong
công việc. Đối với những doanh nghiệp này, chi phí để đào tạo lại hoặc bổ túc
tay nghề quá cao, dẫn đến việc họ không muốn tuyển dụng lao động trẻ. Việc
tuyển dụng lao động trưởng thành, với kinh nghiệm công tác và tay nghề nhất
định vừa rẻ, vừa dễ dàng. Ở những nơi cần đến tay nghề, khâu tuyển dụng lại
càng cạnh tranh gay gắt hơn. Trong khi nhu cầu về số lao động có bằng cấp
học thuật rất thấp thì nhu cầu đối với lao động có tay nghề và kinh nghiệm thực
tế lại rất cao. Hệ thống giáo dục – đào tạo của nước ta đã làm trầm trọng thêm

thôn có trình độ đại học và trên đại học… Trường hợp “nguồn lao động dồi dào
nhưng chất lượng chưa cao” ở tỉnh Vĩnh Long là một ví dụ. Các công ty xuất
khẩu lao động ở đây nêu lên thực trạng “thừa – thiếu” lao động tại địa phương.
Do trình độ tay nghề của lao động địa phương hoặc thấp hoặc không có nên
không thể đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp
công nghệ cao gây nên tình trạng lao động không có việc làm còn nhiều nhưng
nhà tuyển dụng vẫn luôn khan hiếm nguồn lao động để tuyển dụng vào làm
việc cho đơn vị mình.
Mặt khác, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chậm chuyển đổi, hiệu quả đầu tư
tài chính thấp, hệ số sử dụng đất còn thấp nên rất khó khăn tạo mở việc làm tại
chỗ. Hơn nữa, sự phát triển của các ngành nghề còn hẹp nên việc chuyển đổi
cơ cấu lao động cũng gặp nhiều khó khăn. Các chính sách lớn có khả năng sử
dụng nhiều lao động như chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở nông thôn, chính sách đầu tư công nghệ chế biến hàng nông sản
theo hướng kinh doanh thị trường… còn chưa thep kịp với yêu cầu thực tế, do
vậy hạn chế các cơ hội việc làm cho thanh niên nông thôn.

Trích đoạn Kết quả đạt được Nguyên nhân thành công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status