Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh vĩnh phúc giai đoạn 2009 2010 - Pdf 95

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong thời gian qua cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ, từ
khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, trong đó đáng chú ý là
sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo, láp ráp sản phẩm linh kiện
điện tử, công nghiệp chế biến. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tất yếu
dẫn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động.
Thực tế cho thấy giai đoạn vưa qua sự xuất hiện ngày càng nhiều các
khu công nghiệp, doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh
nghiệp liên doanh 100% vốn đầu tư nước ngoài và hàng ngàn doanh nghiệp
hoạt động theo quy mô hộ gia đình khác… đã và đang không ngừng thu hút
một bộ phận không nhỏ lao động trong và ngoài tỉnh tìm đến tỉnh Vĩnh Phúc
dẫn tới hiện tượng giao lưu và mở rộng thị trường lao động của tỉnh. Sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng dẫn tới việc chuyển đổi mục đích
sử dụng đất, đất nông nghiệp bị thu hẹp lại. Người dân tại các vùng nông thôn
của tỉnh phải di chuyển đến các khu công nghiệp, khu đô thị để kiếm việc
làm. Thị trường lao động của tỉnh đang chịu áp lức lớn về tăng dân số và tăng
cung lao động. Tình trạng người lao động mất việc và không có việc làm đang
là vấn đề cấp thiết nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế như hiện nay.
Khi mà các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những khó khăn tài chính
cũng như thị trường tiêu thụ. Giải pháp mà các doanh nghiệp hay sử dụng là
cắt giảm nhân công làm cho tình trạng thất nghiệp của tỉnh ngày càng trở nên
trầm trọng hơn. Những người công nhân mất việc, những người lao động
chưa có việc đang đứng trước những khó khăn tìm được việc làm phù hợp.
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng giải quyết việc làm giai đoạn 2006-2008 và đưa ra

1. Khái niệm việc làm
Việc làm là mối quan tâm lớn nhất của mỗi quốc gia, của mọi người
dân. Nhìn chung các lý thuyết về việc làm, các học giả đều thống nhất rằng
một hoạt động được coi là việc làm khi đáp ứng được các yêu cầu sau:
Thứ nhất: đó là các hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm
Thứ hai: hoạt động đó phải đem lại thu nhập cho người lao động hoặc
tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo ra thu nhập hoặc giảm chi phí
trong gia đình hoặc tạo ra quyền có thể mang lại thu nhập trong tương lai.
Việc làm là những hoạt động cần thiết của người lao động, trong khuôn
khổ pháp luật cho phép và có thu nhập chính đáng cho bản thân, gia đình và
đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Hoạt động đem lại thu nhập có thể
lượng hóa hoặc cụ thể hóa dưới dạng như: người lao động được nhận tiền
công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật từ người sử dụng lao động, tự đem
lại thu nhập cho bản thân thông qua các hoạt động kinh tế mà bản thân người
lao động làm chủ, đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người thực
hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình, do gia đình quản lý. Như vậy
một hoạt động được coi là việc làm hay không phải được xem xét chủ yếu
dựa trên tính hợp pháp và kết quả hoạt động đó.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp
giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi tư liệu lao động theo mục
đích của con người. Theo quan điểm này việc làm có những đặc trưng sau:
Trước hết việc làm là sự biểu hiện quan hệ của hai yếu tố sức lao động
và tư liệu sản xuất(C)
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hai là lấy lợi ích( vật chất, tinh thần) mà các hoạt động đem lại cho cá
nhân, xã hội và không bị ngăn cấm để xem xét hoạt động đó có được coi là
việc làm hay không. Trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất
được thể hiện bằng công thức sau:

hai là việc làm trong ngành công nghiệp xây dựng- đó là các việc làm được
tạo ra trên cơ sở các hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành công nghiệp
xây dựng như: hoạt động khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên thiên
nhiên sẵn có trong lòng đất, hoạt động gia công và chế biến sản phẩm có
nguồn gốc từ nông lâm nghiệp, hoạt động xây dựng trong các ngành xây dựng
và các dịch vụ phục vụ cho các hoạt động sản xuất trên. Bộ phận thứ ba là
việc làm trong ngành dịch vụ- đó là các việc làm được tạo ra trên cơ sở các
hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ nhà hàng, du lịch, khách sạn…
Trong quá trình hoạt động sản xuất các ngành kinh tế có mối quan hệ
tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển dẫn tới việc làm giữa các
ngành kinh tế cũng có có mối quan hệ tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau
cùng phát triển và hướng tới mục tiêu chung là tạo ra nhiều việc làm trong
nền kinh tế. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành là tăng nhanh tỷ trọng việc
làm trong ngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ và giảm dần tỷ trọng việc
làm trong ngành nông- lâm nghiệp.
Cơ cấu việc làm theo khu vực: Cơ cấu việc làm theo khu vực là sự
tương quan giữa việc làm theo khu vực với nhau, thể hiện mối quan hệ hữu cơ
và mối quan hệ qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa việc làm trong khu
vực này với việc làm trong khu vực kia.
Nếu như cơ cấu việc làm theo ngành được hình thành trên cơ sở chuyên
môn hóa sản xuất thì cơ cấu việc làm theo khu vực lại được hình trên cơ sở
việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Mỗi khu vực kinh tế là một bộ
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phận tổ hợp của nền kinh tế quốc dân, do đó sự khác nhau về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, kết cấu hạ tầng và các điều kiện xã hội khác tạo cho mỗi khu
vực có những đặc thù, những thế mạnh riêng trong việc tạo ra việc làm cho
người lao động. Cơ cấu việc làm theo khu vực phản ánh thế mạnh của từng
khu vực, nó bao gồm hai bộ phận như sau: bộ phận thứ nhất là việc làm trong

xảy ra khi một bộ phận lực lượng lao động có khả năng và sẵn sàng làm việc
nhưng không tìm được việc làm. Đây là hình thức thất nghiệp mà ta có thể
nhìn thấy, hình thức thất nghiệp này chủ yếu xảy ra đối với lao động ở khu
vực thành thị, nơi hình thức lao động làm công ăn lương là chủ yếu.
Thất nghiệp trá hình: Hay còn gọi là thiếu việc làm là một trong những
đặc trưng cơ bản của của nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển. Đây là
tình trạng xảy ra khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà
bình thường người lao động sẵn sàng làm việc, hay nói cách khác là tình trạng
sử dụng không hết thời gian lao động. Hình thức thất nghiệp này xảy ra đối
với cả lao động làm việc ở khu vực thành thị và nông thôn.
Trong khu vực thành thị hình thức thất nghiệp này tồn tại dưới các
dạng khác nhau như: làm việc với năng suất thấp, không góp phần tạo ra thu
nhập cho xã hội mà chủ yếu là tạo ra thu nhập đủ sống( nhiều khi dưới mức
sống tối thiểu). Trong khu vực nông thôn thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại
dưới dạng thiếu việc làm. Nguyên nhân là do giới hạn của đất đai nông
nghiệp, do khu vực kinh tế phi nông nghiệp nông thông phát triển chậm và do
tính thời vụ của việc làm nông nghiệp. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, ở
một số vùng nông thôn do lấy đất nông nghiệp để xây dựng các công trình
công cộng, phát triển công nghiệp và nhà ở nên đã xuất hiện tình trạng thất
nghiệp trá hình.
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thất nghiệp tạm thời: hay còn gọi là thất nghiệp cơ cấu, là hình thức
thất nghiệp trong thời gian chuyển đổi nghề nghiệp, thay đổi nơi làm việc vì
muốn tìm việc làm tốt hơn, sinh viên ra trường đi tìm việc.
Thất nghiệp tự nguyện: là hình thức thất nghiệp ẩn náu trong những
người làm nội trợ trong gia đình do các mức tiền công thấp không đủ bù đắp,
thường là phụ nữ.
II. TẠO VIỆC LÀM VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI

2.1. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu thổ nhưỡng, đất đai…
có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó có công tác tạo
việc làm của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương.
2.1.1. Vị trí địa lý:
Do đặc điểm tự nhiên mà mỗi địa phương đều nằm trên những vị trí
địa lý nhất định, từ đó mà có những đặc điểm khác biệt về khí hậu, thời tiết,
nhiệt độ, lượng gió, lượng mưa, bão lụt…ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất,
kinh doanh, đặc biệt là sản xuất nông lâm ngư nghiệp vì thế nó có thể cho
phép mỗi địa phương hình thành một phương thức tổ chức sản xuất, lao động
khác nhau.
Những vùng có vị trí thuận lợi thì cây cối xanh tươi, bốn mùa hoa trái,
có các loại cây con hải sản hết sức đa dạng phong phú. Với điều kiện đất đai
màu mỡ con người có thể phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công
nghiệp chế biến… xuất khẩu các mặt hàng đặc sản quý hiếm trên thị trường
quốc tế. Đây cũng chính là những lợi thế nhất định của mỗi địa phương trong
việc tạo ra công ăn việc làm thu hút người lao động.
Tuy nhiên có những vùng vị trí không thuận lợi sẽ ảnh hưởng xấu đến
lao động sản xuất: hạn hán, lũ lụt…những vùng địa hình chia cắt, giao thông
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
không thuận lợi, vùng không chịu sự phát triển lan tỏa từ các vùng kinh tế lân
cận cũng gây khó khăn cho phát triển kinh tế, thu hút đầu tư giải quyết công
ăn việc làm.
2.1.2. Khí hậu
Ở mỗi vùng, địa phương, quốc gia có những đặc điểm tự nhiên ảnh
hưởng rất lớn tới khí hậu của mỗi quốc gia. Ngay trong một quốc gia những
vùng khác nhau cũng có khí hậu khác nhau. Nhiệt độ nóng lạnh, mưa gió bão
lụt, độ ẩm… là những đặc trưng cơ bản của khí hậu của mỗi vùng, miền, quốc

vàng, thiếc, sắt nhôm… Giúp con người phát triển các ngành công nghiệp
khai thác, chế biến từ các sản phẩm khai thác, từ đó tạo nhiều việc làm cho
con người.
Các loại tài nguyên khác như sông ngòi, núi non cũng giúp con người
tạo ra nhiều công ăn việc làm bằng cách phát triển các ngành nghề khai thác,
nuôi trồng thủy sản, trồng cây công nghiệp…
Như vậy có thể nói những tiềm năng trên cho phép chúng ta tổ chức
phân công lao động tạo ra hàng trăm nghìn loại hình công việc khai thác từ
các lợi thế tài nguyên trên. Với các địa phương có các điều kiện ưu đãi về tài
nguyên thiên nhiên sẽ có cơ hội tạo ra nhiều việc làm hơn cho con người, và
ngược lại với những địa phương không có các điều kiện ưu đãi về tài nguyên
thiên nhiên sẽ ít có cơ hội tạo ra nhiều việc làm cho con người.
2.2. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế: Kinh tế tăng trưởng ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ
tiết kiệm dành cho tái sản xuất và do đó ảnh hưởng vốn đầu tư sản xuất cho
giai đoạn sau của nền kinh tế. Kinh tế tăng trưởng cao, tỷ lệ tiết kiệm dành
cho tái suất cao, vốn đầu tư sản xuất cho giai đoạn sau cao, và như như vậy
quy mô sản xuất nền kinh tế được mở rộng, quy mô việc làm cũng được tăng
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
theo. Và ngược lại tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, tỷ lệ tiết kiệm cho tái sản
xuất thấp, vốn đầu tư thấp, quy mô sản xuất không được mở rộng thêm thậm
chí bị thu hẹp để cắt giảm chi phí, việc làm mới không được tạo thêm thậm
chí còn gia tăng tỷ lệ mất việc làm do bị sa thải.
Xuất khẩu sản phẩm: Các địa phương có lợi thế về xuất khẩu sản phẩm
sẽ giúp các địa phương đó phát triển những ngành có lợi thế riêng. Kim ngạch
xuất khẩu sản phẩm cao sẽ đóng góp vào GDP cao, góp phần tăng trưởng
kinh tế, mở rộng quy mô các ngành có lợi thế riêng, từ đó mở rộng quy mô
việc làm góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động.

lượng cao, sử dụng ít lao động chân tay và đòi hỏi người lao động phải có
trình độ chuyên môn, hay đòi hỏi trình độ chất xám từ người lao động nhiều
hơn. Và như vậy người lao động không có trình độ sẽ có nguy cơ mất việc và
không tìm được việc làm cao hơn. Nhưng tác động tiêu cực này chỉ có thể xảy
ra khi nền kinh tế áp dụng trình độ khoa học công nghệ ở mức cao.
Tuy nhiên có một tác dụng tích cực nữa là việc ứng dụng khoa học
công nghệ đã và đang tạo ra nhiều ngành nghề mới trong xã hội, mà trước đây
loài người chưa từng biết tới( công nghệ điện tử và tin học). Ngành nghề mới
và quy mô của mỗi ngành không ngừng mở rộng đã tạo cho con người những
việc làm mới trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoài lĩnh vực truyền thống
như công, nông nghiệp còn phát triển nhiều lĩnh vực mới về công nghệ mới,
dịch vụ… Tuy nhiên ngành nghề mới này cũng đòi hỏi người lao động phải
có trình độ, tiêu chuẩn nghề nghiệp cao hơn nhiều so với trước.
Chính sách thu hút vốn đầu tư tạo việc làm: Vốn đầu tư là nhân tố quan
trọng hàng đầu để mở rộng quy mô sản xuất trong nền kinh tế. Trong lĩnh vực
sản xuất vật chất muốn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động yếu tố
đầu tiên là vốn đầu tư. Việc thu hút vốn đầu tư phụ thuộc rất lớn vào chính
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sách thu hút vốn. Nếu chính sách thu hút vốn đầu tư thông thoáng thì càng thu
hút được nhiều vốn, càng có điều kiện tạo ra nhiều chỗ việc làm mới. Ngược
lại chính sách thu hút vốn không thông thoáng, vốn đầu tư càng ít và càng ít
có điều kiện tạo ra nhiều việc làm mới.
2.4. Tốc độ đô thị hóa
Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh sẽ có cơ hội tạo ra nhiều việc làm cho
người lao động do các trung tâm công nghiệp, trường học, dịch vụ mọc lên
nhiều. Nhưng đô thị hóa kèm theo dân số nhập cư tăng nhanh gây khó khăn
cho giải quyết việc làm, đồng thời đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng
từ đất nông nghiệp thành đất xây dựng các cụm khu công nghiệp, công trình

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang trên đà phát triển
trong hai năm qua( doanh thu bình quân hàng năm đã tăng từ 116,57 tỷ năm
2006 lên 137,2 tỷ năm 2008). Tổng số lao động và số lao động làm việc bình
quân/doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2006-2008. Cụ thể,
tổng số lao động trong các doanh nghiệp năm 2006 là 14972 người và năm
2008 là 20785 người. Quy mô số lao động bình quân/doanh nghiệp đã tăng
lên từ 155,96 lao động/doanh nghiệp năm 2006 lên 173,20 lao động/doanh
nghiệp năm 2008. Đặc biệt mức độ thu hút lao động vào làm việc trong các
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh nghiệp mới được thành lập thời kỳ này cao hơn nhiều so với trước đây,
lao động địa phương chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động làm việc trong
các doanh nghiệp.
Đó là kết quả cho thấy các chính sách khuyến khích doanh nghiệp mở
rộng đầu tư có hiệu quả cao. Các doanh nghiệp mới đầu tư đi vào hoạt động
thu hút nhiều lao động, các doanh nghiệp cũ hoạt động có doanh thu tăng cao
qua các năm và do đó cơ hội tiết kiệm cho tái đầu tư mở rộng quy mô sẽ cao,
là điều kiện để góp phần giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh.
2. Chính sách về đào tạo nghề trong các doanh nghiệp
Một trong những chính sách mà Vĩnh Phúc đã sử dụng trong giải quyết
việc làm là Vĩnh Phúc đã khuyến khích các công ty, doanh nghiệp tự mở các
lớp, các trung tâm đào tạo để chủ động về nhân lực. Một số công ty, doanh
nghiệp lớn như Toyota, Honda, VinaKorea…cũng có những mô hình này.
Công ty Toyota mỗi năm đã tổ chức 25-30 khoa học, đào tạo được khoảng
300 kỹ thuật viên, cố vấn dịch vụ cho công ty. Nhằm nâng cao năng lực quản
lý cho các chủ doanh nghiệp, các cán bộ quản lý, cán bộ nòng cốt, năm 2007
các doanh nghiệp đã phối hợp cùng trung tâm khuyến công của tỉnh hợp tác
với viện kinh tế và phát triển- trường Đại học kinh tế quốc dân và trung tâm
dạy nghề và giới thiệu việc làm- Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức 4 lớp bồi

đến trung tâm giới thiệu việc làm).
Như vậy nhìn từ góc độ tuyển dụng lao động qua các kênh giao dịch
chính thức trên thị trường lao động vẫn chưa thực sự phát triển trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc. Mặc dù các kênh giao dịch chính thức trên thị trường lao
động vẫn chưa được các doanh nghiệp sử dụng nhiều, nhưng trong thực tế các
doanh nghiệp cũng không thực sự gặp nhiều khó khăn trong tuyển dụng lao
động, số doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tuyển dụng lao động chỉ
chiếm 30% tổng số doanh nghiệp. Nhưng nhìn góc độ này về lâu dài thì đó là
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một hạn chế cần khắc phục trong tương lai khi mà diễn biến trên thị trường
lao động ngày càng phức tạp. Trong số những khó khăn mà doanh nghiệp gặp
phải trong quá trình tuyển dụng lao động, khó khăn lớn nhất đối với họ là
không tìm được lao động có tay nghề và cấp trình độ chuyên môn kỹ thuật
phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chất lượng của
lao động tuyển mới cũng không được doanh nghiệp đánh giá cao.
Xuất khẩu lao động là một trong những chủ trương cơ bản nhằm xóa
đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động hiện đang được thực hiện
một cách có hiệu quả không chỉ ở Vĩnh Phúc mà là chủ chương cơ bản của cả
quốc gia. Chính vì thế công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động đã
được tỉnh quan tâm. Đến nay Vĩnh Phúc có 27 đơn vị tham gia tuyển dụng lao
động đi xuất khẩu, trong đó 4 đơn vị nhà nước, còn lại là các công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp tư nhân. Kết quả năm 2006
tỉnh đã đưa đi xuất khẩu lao động 1536 người, năm 2007 là 1634 người( tăng
6,38% so với năm 2006), năm 2008 là 1036 người( giảm 36,7% so với năm
2007). Nhìn chung cả giai đoạn 2006-2008 số lao động đi xuất khẩu là giảm
và đạt thấp chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, do thu nhập của lao động
ở khu vực Đông nam á thấp, một số doanh nghiệp không thực hiện đúng cam
kết theo hợp đồng với người lao động, trình độ lao động còn thấp, một số lao

5. Chính sách về giáo dục đào tạo của tỉnh
Đào tạo nghề là một trong những hình thức nâng cao chất lượng nguồn
lao động nhằm thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu lao động có trình độ trên thị
trường lao động. Chính vì vậy, công tác này đã được tỉnh quan tâm đầu tư cơ
sở vật chất, số lượng cơ sở dạy nghề, quy mô và chất lượng đào tạo cũng đã
có sự thay đổi để từng bước đáp ứng nhu cầu trên thị trường lao động và phù
hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Vĩnh Phúc, góp phần giải quyết
công ăn việc làm cho nhiều lao động.
Phát triển mạnh về mạng lưới dạy nghề và quy mô dạy nghề:
Mạng lưới dạy nghề: phát triển theo đúng định hướng quy hoạch phát
triển hệ thống đào tạo nghề, từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối về
phân bố giữa các vùng và các ngành. Năm 2006 toàn tỉnh có 52 cơ sở dạy
nghề, thì đến năm 2008 trên địa bàn tỉnh có 55 cơ sở dạy nghề bao gồm: 4
trường cao đẳng dạy nghề, 4 trường trung cấp dạy nghề, 8 trung tâm dạy nghề
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và 29 cơ sở dạy nghề khác. Nhìn chung các cơ sở dạy nghề vẫn còn thiếu so
với yêu cầu thực tế.
Quy mô nghề: Quy mô đào tạo của các cơ sở dạy nghề tăng từ 22550
học viên năm 2006 lên 36400 học viên năm 2008. Hàng năm số học viên
được đào tạo nghề tương đối lớn được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 2.1: Số học sinh được đào tạo nghề ra trường hàng năm
Đơn vị: người
Năm
Số học sinh
2006 2007 2008

phát triển về số lượng, chất lượng từng bước được nâng cao. Đại bộ phận cán
bộ quản lý tại các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề là những giáo viên có
trình độ có kinh nghiệm nhưng nhìn chung năng lực tổ chức quản lý đào tạo
còn hạn chế.
Đầu tư nguồn lực, tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề:
Việc xây dựng các cơ sở dạy nghề được đẩy mạnh, trường đào tạo nghề
Vĩnh Phúc, trung tâm dạy nghề thị xã Phúc Yên, trung tâm dạy nghề Lập
Thạch và Vĩnh Tường cơ bản đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, các cơ sở
dạy nghề này đã cơ bản có đủ phòng học lý thuyết, xưởng thực hành.
Để đáp ứng công tác đào tạo nghề được thực hiện tốt, Vĩnh Phúc đã
đầu tư vào cơ sở vật chất thiết bị dạy nghề. Năm 2006, tỉnh đã đầu tư trên 70
tỷ đồng cho đào tạo nghề trong đó mua sắm máy móc thiết bị dạy nghề cho
các cơ sở đào tạo nghề công lập gần 15 tỷ đồng. Năm 2007 chỉ đầu tư được
gần 4 tỷ đồng cho cơ sở vật chất đào tạo nghề, không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề
ra( kế hoạch là 14,5 tỷ). Đến năm 2008, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề là 7,1 tỷ
đồng, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra. Tuy nhiên trang thiết bị dạy và học nghề
của nhiều cơ sở, nhất là trung tâm dạy nghề vẫn còn thiếu và lạc hậu.
Chất lượng đào tạo nghề:. Chất lượng đào tạo nghề cũng chưa được sát
với yêu cầu công việc trong thực tế và kỹ năng nghề, ý thức kỷ luật, tác phong
công nghiệp, sức khỏe và ngoại ngữ của các học viên học nghề còn nhiều hạn
chế.
Nguồn kinh phí cho dạy nghề: Kinh phí cho đào tạo nghề thời gian qua
theo xu hướng, nguồn từ ngân sách giảm và đóng góp của học viên tăng. Năm
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2006 là kinh phí sự nghiệp đào tạo nghề là 10,5 tỷ đồng trong đó ngân sách là
7,8 tỷ đồng, đóng góp của học viên là 2,5 tỷ, nguồn khác 0,2 tỷ. Nhưng đến
năm 2007 kinh phí là 11,3 tỷ trong đó ngân sách là 4,9 tỷ( giảm 2,9 tỷ), đóng
góp của học viên là 3,8 tỷ( tăng 1,3 tỷ), nguồn khác 2,7 tỷ. Như vậy kinh phí

Dự án 49 60 54
Triệu đồng 12000 11500 11500
3. Số lao động được tạo việc làm Người 600 1855
Nguồn: Sở lao động thương binh và xã hội Vĩnh Phúc
Qua bảng số liệu cho thấy, quỹ quốc gia giải quyết việc làm năm 2006
đã duyệt được 49 dự án với tổng số tiền cho vay là 12 tỷ đồng trong đó vốn
mới bổ sung là 4 tỷ đồng. Năm 2007, quỹ đã duyệt được 60 dự án với tổng số
tiền cho vay 11,5 tỷ đồng trong đó vốn mới bổ sung là 3,5 tỷ đồng. Như vậy
năm 2007 số dự án được duyệt cho vay đã tăng thêm 11 dự án so với năm
2006 nhưng số tiền cho vay lại giảm 0,5 tỷ đồng. Năm 2008, quỹ đã duyệt
được 54 dự án với tổng số tiền cho vay 11,5 tỷ đồng trong đó vốn mới bổ
sung là 3,5 tỷ đồng. Năm 2008, số dự án được duyệt lại giảm so với năm 2007
là 6 dự án nhưng quy mô tiền vốn cho vay lại không đổi. Nhìn chung cả thời
kỳ 2006-2008, quy mô vay vốn của tỉnh đã mở rộng hơn về số dự án, thu hẹp
hơn về số tiền vay. Năm 2008, số dự án cho vay tăng thêm nhưng số tiền vay
không đổi và số lao động được tạo việc làm từ nguồn vốn cho vay này tăng
thêm 1255 lao động so với năm 2007, có được điều này là do sự thay đổi
chính sách cho vay vốn của tỉnh, các dự án tỉnh duyệt đều là các dự án sử
dụng ít vốn nhưng lại sử dụng nhiều lao động. Đó là một một giải pháp tốt mà
tỉnh đã sử dụng, góp phần giải quyết được nhiệu việc làm cho lao động, tuy
nhiên tổng số tiền cho vay còn thấp và trong thời gian tới cần tăng quy mô số
tiền cho vay lên.
Lê Thị Hiếu Lớp: Kế hoạch 47B
25

Trích đoạn Những tồn tại trong giải quyết việc là mở Vĩnh Phúc Những nguyên nhân dẫn đến các tồn tại trong giải quyết việc làm thờ Phát triển kinh tế xã hội nhằm ổn định việc làm và tạo thêm chỗ làm Nhóm giải pháp về quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status