BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ LAN HƯƠNG
QUYỀN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ
DỤNG LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
TS. TRẦN THỊ THÚY LÂM
HÀ NỘI - 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến cô giáo Trần Thị Thuý Lâm,
người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm đề tài này. Đồng thời
cũng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã ủng hộ, giúp đỡ tôi trong thời
gian qua.
NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN ................................... 21
2.1. CĂN CỨ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ................................... 21
2.1.1. Căn cứ đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động .................................. 21
2.1.2. Căn cứ đơn phương chấm dứt chấm dứt hợp đồng lao động ................... 24
2.2. THỦ TỤC CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ................................. 34
2.2.1. Đối với trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động .............. 34
2.2.2. Đối với trường hợp đương phương chấm dứt hợp đồng lao động .......... 36
2.3. QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
KHI CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG .................................................. 43
2.3.1. Trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động hợp
pháp ................................................................................................................. 43
2.3.2. Trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động bất hợp
pháp ................................................................................................................ 48
CHƯƠNG III - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA
NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ................................................................... 50
3.1. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG50
LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG .............................................50
3.1.1. Yêu cầu chung của việc hoàn thiện pháp luật về quyền chấm dứt hợp đồng
lao động của người sử dụng lao động ............................................................... 50
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử
dụng lao động. .................................................................................................. 52
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 59
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ
đoạn hiện nay là rất cần thiết. Thực tế cũng cho thấy người sử dụng lao động đa
số thực hiện đúng quyền đơn phương chấm dứt của mình theo pháp luật lao
động nhưng vẫn còn tồn tại việc người sử dụng lao động “lạm quyền” dẫn đến
việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với người lao động. Điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, dẫn đến tranh chấp
lao động phát sinh trong quan hệ lao động và từ đó cũng sẽ làm ảnh hưởng
không nhỏ đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì thế với mong muốn góp phần làm sáng tỏ nội dung quy định của
pháp luật về quyền của người sử dụng lao động và cơ chế thực thi quyền của
người sử dụng lao động qua việc chấm dứt hợp đồng lao động, tôi đã lựa chọn
vấn đề “Quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động theo
pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn thực hiện” làm đề tài nghiên cứu của
mình.
2
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Bộ luật lao động ra đời dựa trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người lao động, bên cạnh đó là đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng lao
động. Tuy nhiên vấn đề bảo vệ quyền lợi cho người lao động được rất nhiều
công trình khoa học đề cập đến, còn việc bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng
lao động lại được đề cập rất ít, đặc biệt trong vấn đề chấm dứt hợp đồng lao
động - một vấn đề luôn có nguy cơ xảy ra tranh chấp giữa các bên trong quan hệ
lao động, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của người sử dụng lao
động. Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, trực
tiếp toàn diện về vấn đề quyền của người sử dụng lao động trong chấm dứt hợp
đồng lao động và nếu có thì cũng chỉ được đề cập một cách gián tiếp. Đó là công
trình: “Pháp luật hợp đồng lao động Việt Nam thực trạng và phát triển”( tác giả
Nguyễn Hữu Chí-Nxb Lao động- xã hội, Hà Nội, 2003); Luận văn thạc sĩ năm
3. MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Nhằm mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật, và
thực tiễn thực thi trên thực tế quyền chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao
động để từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về
chấm dứt hợp đồng lao động.
-
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử
dụng lao động theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài được nghiên cứu trên quan điểm duy vật lịch sử với phương pháp
duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Cùng với đó, là phương pháp
khảo cứu thực tiễn cũng được tác giả áp dụng trong suốt quá trình nghiên cứu
của mình.
Bên cạnh đó luận văn còn kết hợp các phương pháp để nghiên cứu đó là
4
phương pháp lôgíc, phân tích, tổng hợp kết hợp với so sánh.
5. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được hoàn chỉnh sẽ là một đóng góp nhất định về mặt thực tiễn
và mặt lý luận của vấn đề bảo đảm quyền lợi cho người sử dụng lao động theo
pháp luật Việt Nam.
5
CHƯƠNG I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHẤM DỨT
HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
1.1. QUAN NIỆM VỀ QUYỀN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
1.1.1. Khái niệm về quyền chấm dứt hợp đồng lao động
Quyền nói chung được hiểu là “thế, sức mạnh, lợi lộc được hưởng do
pháp luật công nhận hoặc do địa vị đem lại”1
Quyền chủ thể là “cách thức xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được
tiến hành. Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách
thức nhất định được pháp luật cho phép. Nói là khả năng có nghĩa là chủ thể có
thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc
không xử sự như vậy.”2
Quyền chấm dứt hợp đồng lao động cũng là một trong các quyền của
người sử dụng lao động. Do đó cũng được hiểu là quyền năng mà pháp luật cho
phép người sử dụng lao động được chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ đối với người lao động. Quyền chấm dứt hợp đồng bao gồm quyền đương
nhiên chấm dứt hợp đồng lao động và quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động. Trong đó “về mặt lí luận, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là
hành vi pháp lí trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm chấm dứt quan
hệ lao động với bên kia. Ý chí bên này phải được biểu thị ra bên ngoài dưới hình
thức nhất định và phải được truyền đạt tới chủ thể đối tác mà không cần thiết
phải được chủ thể đó chấp thuận. Về nguyên tắc, hình thức để biểu thị ý chí có
1
hệ quả tất yếu xuất phát từ hai đặc trưng kể trên. Đó là khi có tranh chấp xảy ra,
người sử dụng lao động có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền
lợi cho mình
3
TS. Đào Thị Hằng (2001), “Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, Tạp chí luật học, (8), tr.16
7
1.1.2. Phân loại về quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng
lao động
Chấm dứt hợp đồng lao động là sự kiện pháp lý làm kết thúc mối quan hệ
của các bên trong quan hệ lao động. Có nhiều cách để phân chia về quyền chấm
dứt hợp đồng của người sử dụng lao động. Nếu căn cứ vào tính hợp pháp thì có
thể phân chia việc chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
thàng hai loại hợp pháp và chấm dứt hợp đồng lao động bất hợp pháp. Chấm dứt
hợp đồng lao động hợp pháp được hiểu là trường hợp người sử dụng lao động
chấm dứt hợp đồng lao động có căn cứ và tuân thủ đúng các thủ tục do pháp luật
quy định. Còn chấm dứt hợp đồng lao động bất hợp pháp được hiểu là trường
hợp chấm dứt hợp đồng không có căn cứ hoặc không tuân thủ đúng các thủ tục
do pháp luật quy định hoặc do cả hai.
Căn cứ vào tính chất của quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người
sử dụng lao động thì có thể chia làm thành hai trường hợp là quyền đương nhiên
chấm dứt hợp đồng lao động và quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động. Đây cũng chính là hướng nghiên cứu của tác giả khi tiếp cận đề tài. Cụ thể
như sau:
-
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là vấn đề phức tạp vì trên thực tế
những tranh chấp phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động chủ yếu xuất
phát từ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Chính vì vậy vai trò của
pháp luật trong vấn đề điều chỉnh hài hòa giữa quyền và lợi ích của các bên khi
chấm dứt hợp đồng lao động là rất cần thiết.
Pháp luật của các quốc gia trên thế giới có những quan điểm khác nhau về
vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động.
Một số quốc gia thì phân định quyền chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao
động thành hai trường hợp là đương nhiên chấm dứt hợp đồng và đơn phương
chấm dứt hợp đồng, chẳng hạn như Việt Nam, Trung Quốc và một số quốc gia
phát triển trên thế giới. Một số quốc gia khác thì có sự khác biệt tương đối rõ,
pháp luật lao động của các quốc gia này không phân chia thành đương nhiên
chấm dứt hợp đồng lao động hay đơn phương chấm hợp đồng mà quy định
quyền của người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng không
4
Tòa án nhân dân tối cao (1999), Báo cáo tổng kết công tác ngành tòa án năm 1999 , Hà Nội, tr.74
9
cần lý do, chẳng hạn như pháp luật của Mỹ. Quốc gia này cho phép người sử
dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần lý do cụ thể.
1.2. ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG
LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Quyền chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động là một trong
những vấn đề rất quan trọng, bởi nó không chỉ liên quan đến việc sử dụng lao
động tại các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến tình trạng việc làm của người
lao động. Tuỳ theo phong tục tập quán, điều kiện kinh tế xã hội mà các quốc gia
có sự quy định khác nhau về vấn đề này. Có quốc gia quy định tương đối chặt
luật cần phải có những quy định nhằm hạn chế sự lạm quyền này của người sử
dụng lao động. Thông thường, có hai cách quy định căn cứ chấm dứt hợp đồng
lao động, đó là các quy định mang tính định tính và các quy định mang tính định
lượng khi xác định căn cứ làm chấm dứt hợp đồng lao động.
Cách thứ nhất: là quy định căn cứ mang tính định lượng. Đó là việc xác
định chấm dứt hợp đồng lao động dựa trên các căn cứ pháp luật cụ thể. Người sử
dụng lao động khi chấm dứt HĐLĐ với NLĐ phải đưa ra được các căn cứ và
điều kiện cụ thể theo pháp luật quy định. Các quốc gia tiểu biểu theo quan điểm
này là Trung quốc, Liên bang Nga và Việt Nam. Trong đó, căn cứ để chấm dứt
hợp đồng lao động là dựa trên cơ sở thoả thuận giữa các bên (Điều 24 Luật lao
động CHND Trung Hoa), (khoản 3 điều 36 BLLĐ Việt Nam); hoặc là xuất hiện
các sự kiện pháp lý làm chấm dứt hợp đồng lao động (Điều 23, Điều 25 Luật lao
động CHND Trung Hoa), (Điều 36, BLLĐ Việt Nam).
Cách thứ hai: là việc quy định căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động chỉ
mang tính định tính. Đó là việc khi muốn chấm dứt hợp đồng với người lao
động, người sử dụng lao động chỉ cần chứng minh được căn cứ mà họ áp dụng
thuộc loại căn cứ do luật định. Các nước theo trường phái này là Thụy điển, Hàn
quốc …. Như vậy, nội hàm của các căn cứ này có thể thay đổi và phụ thuộc vào
các điều kiện kinh tế mà nó tồn tại. Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật lao
động Thụy Điển thì khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng
11
lao động chỉ cần dựa vào hai căn cứ: đó là căn cứ do dư thừa lao động trong
doanh nghiệp hay do nhược điểm của người lao động không thể tiếp tục hoàn
thành công việc được giao (theo điều 7 của luật bảo vệ việc làm SFS 1982:80,
sửa đổi, bổ sung năm 2007). Pháp luật nước này không đưa ra quy định như thế
nào là “lý do chính đáng” để chấm dứt hợp đồng lao động, việc giải thích lý do
sa thải của người sử dụng lao động có chính đáng hay không thì khi có tranh
sử dụng lao động phải tuân thủ khi chấm dứt hợp đồng lao động. Việc người sử
dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động phải tuân thủ theo đúng quy trình
mà pháp luật quy định có ý nghĩa quan trọng. Bởi trong quá trình thực hiện thủ
tục này người sử dụng lao động cũng sẽ xem lại, cân nhắc quyết định của mình,
quyền lợi của người lao động vì thế sẽ được đảm bảo hơn. Chính vì vậy mà thủ
tục chấm dứt HĐLĐ cũng sẽ quyết định đến tính hợp pháp của việc chấm dứt
hợp đồng của người sử dụng lao động. Nếu vi phạm về thủ tục (dù có đúng về
căn cứ) người sử dụng lao động cũng sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm nhất định.
Thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động thông
thường bao gồm các thủ tục về thời gian báo trước, tham khảo ý kiến của Công
đoàn, và thủ tục xin ý kiến của chính quyền. Pháp luật của các quốc gia trên thế
giới có những cách quy định khác nhau về thủ tục chấm dứt hợp đồng của người
sử dụng lao động với người lao động. Các thủ tục trên có được áp dụng một
cách đầy đủ hay không tuỳ thuộc vào chính sách pháp luật và chính sách đối với
người lao động của quốc gia đó.
Thứ nhất, về vấn đề tuân thủ quy định thời gian báo trước. Việc làm là
một vấn đề có ý nghĩa “sống còn” đối với người lao động, bởi việc làm là “cần
câu cơm” của mỗi người lao động. Việc quy định thời gian báo trước của người
sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng với người lao động xuất phát từ ý
nghĩa chuẩn bị cho người lao động có thời gian và tâm lý đi tìm việc mới, việc
báo trước còn có ý nghĩa trong việc giúp người lao động đưa ra các biện pháp để
bảo vệ quyền lợi của họ nếu việc chấm dứt hợp đồng lao đó là trái pháp luật. Vì
13
vậy, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định về vấn đề này,
cụ thể như theo quan điểm của tổ chức Lao động thế giới (ILO) “người lao động
sắp bị chấm dứt việc làm có quyền được báo trước trong một thời hạn vừa phải,
hoặc được nhận một khoản bồi thường thay thế, trừ khi đã vi phạm một lỗi nặng
thuộc vào từng người lao động, tùy thuộc vào tình hình việc làm và người lao
động đó đã có thời gian làm việc được trên 12 tháng cộng dồn trong khoảng thời
gian 3 năm trở lại hay chưa. Nếu khoảng thời gian làm việc đó quá ít để thực
hiện thông báo trong thời gian một tháng thì người lao động được thông báo vào
thời điểm bắt đầu của khối công việc tiếp theo. Trong trường hợp người lao
động làm việc theo mùa vụ, nếu đến cuối thời vụ mà thời gian làm việc đã được
hơn 6 tháng trong vòng 2 năm thì việc thông báo trước này thì sẽ được thực hiện
ít nhất một tháng trước khi bước vào vụ mới theo Điều 15 SFS 1996:1424. Theo
pháp luật lao động Việt Nam thì thời hạn báo trước được quy định cũng khá linh
hoạt với các loại thời hạn khác nhau tùy thuộc vào loại hợp đồng lao động. Đối
với loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn, người sử dụng lao động
phải báo trước ít nhất 45 ngày làm việc, đối với hợp đồng lao động xác định thời
hạn từ 12 đến 36 tháng báo trước ít nhất 30 ngày làm việc và đối với hợp đồng
lao động dưới 12 tháng báo trước ít nhất 3 ngày làm việc.
Về hình thức của nghĩa vụ báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối
với người lao động, đa số pháp luật của các quốc gia trên thế giới yêu cầu đều
phải thể hiện bằng văn bản, cụ thể như pháp luật lao động của Liên hiệp vương
quốc Anh (Employpsment Rights Act 1996) tại Điều 92 quy định: “khi chấm dứt
hợp đồng đối với người lao động thì người sử dụng lao động phải đưa ra lý do
bằng văn bản”. Việc quy định này đã góp phần hạn chế tranh chấp lao động giữa
các bên trong việc chấm dứt hợp đồng lao động. Văn bản chấm dứt hợp đồng lao
động là cơ sở pháp lý để Tòa án đưa ra phán quyết về việc xác định hành vi có
việc đơn phương chấm dứt hợp đồng hay không?.
Thứ hai, thủ tục thông qua ý kiến ban chấp hành Công đoàn trước khi
15
chấm dứt hợp đồng lao động. Công đoàn “là tổ chức chính trị-xã hội của giai
cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh
kiến gì của tổ chức Công đoàn. Tổ chức Công đoàn muốn bảo vệ người lao động
thì phải có kế hoạch để đưa các nội dung đó vào trong trong thương lượng, thỏa
ước của doanh nghiệp.
Thứ ba, xin ý kiến của chính quyền khi người sử dụng lao động muốn
chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động. Việc xin ý kiến của Chính phủ
khi chấm dứt hợp đồng đối với người lao động của chủ sử dụng lao động có ý
nghĩa trong việc đảm bảo an ninh về thị trường lao động. Việc cắt giảm nguồn
nhân lực lớn trong các đơn vị sản xuất sẽ tạo nên áp lực về việc làm đối với
Chính phủ của các quốc gia đó, gây ra tình trạng thất nghiệp và kéo theo các vấn
đề xã hội phát sinh. Chính vì vậy, việc xin ý kiến của Chính phủ khi chấm dứt
việc làm với một số lượng người lao động nhất định là điều kiện cần phải tính
đến. Hiện nay, pháp luật các quốc gia trên thế giới có những cách quy định khác
nhau về vấn đề này. Quan điểm thứ nhất là việc cắt giảm nguồn nhân công lớn,
nhất thiết phải thông qua thủ tục xin ý kiến của chính quyền (Chính phủ). Quan
điểm thứ hai là việc cắt giảm này phụ thuộc vào ý chí của người sử dụng lao
động, người lao động muốn chấm dứt hợp đồng lao động với bao nhiêu người
lao động là phụ thuộc vào ý chí, tình hình kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp
đó. Quan điểm này thể hiện được tính linh hoạt trong quá trình sử dụng lao động
và giải quyết việc làm của người sử dụng lao động, đồng thời cũng tạo được tính
linh hoạt của thị trường lao động. Trên thế giới hiện nay rất ít các quốc gia theo
quan điểm thứ nhất. Chỉ có một vài nước có thể kể đến như Ấn Độ và Srilanka,
để tạo ra vấn đề an ninh việc làm cho người lao động thì theo quy định của các
nước này việc cắt giảm lao động phải được chính phủ phê duyệt ở các doanh
nghiệp lớn (từ 100 công nhân trở lên theo quy định của Ấn Độ và từ 15 công
17
nhân trở lên theo quy định của Srilanka)6.
Còn đa số các nước theo quan điểm thứ hai tức là khi chấm dứt hợp đồng lao
18
lao động dù hợp pháp hay không hợp pháp thì ít hay nhiều đều ảnh hưởng đến
các bên liên quan. Chính vì vậy mà quyền lợi và trách nhiệm của các bên khi
chấm dứt quan hệ việc làm là vấn đề mà pháp luật quan tâm. Vấn đề đặt ra là
người sử dụng lao động có quyền lợi và trách nhiệm gì khi chấm dứt hợp đồng
lao động đối với người lao động.
Quyền lợi mà người sử dụng lao động được hưởng trong việc chấm dứt
hợp đồng lao động là được người lao động thanh toán các khoản nợ còn tồn
đọng, khoản tiền bồi thường cho doanh nghiệp.
Bàn về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng
lao động nhìn chung pháp luật các nước đều quy định trách nhiệm của người sử
dụng lao động trong trường hợp chấm dứt HĐLĐ hợp pháp và chấm dứt bất hợp
pháp.
-
Trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp pháp thì tuỳ theo pháp
luật của mỗi quốc gia mà người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trả cho
người lao động một khoản trợ cấp nhất định (trợ cấp thôi việc). Việc trả khoản
trợ cấp này có nhiều ý nghĩa và mục đích khác nhau nhưng một trong những ý
nghĩa của nó là trả cho những đóng góp của người lao động cho doanh
nghiệp...Ở các quốc gia tuỳ thuộc vào chính sách về lao động việc làm mà quan
điểm trợ cấp thôi việc cũng khác nhau cụ thể như trợ cấp thôi việc ở Malaixia rất
thấp và ở Xingapo không có trợ cấp thôi việc, còn Ấn độ gần đây mới đưa ra trợ
cấp thôi việc ở mức thấp đối với người lao động làm việc trong nhiều năm,
khoản trợ cấp dao động từ 14 ngày tiền công trong một năm làm việc. Ngược
lại, Hàn Quốc và Trung Quốc là hai nước có trợ cấp thất nghiệp ở mức cao hơn
hại gây ra cho người sử dụng lao động” (Điều L122-3-8, Bộ Luật lao động
Cộng hòa Pháp). Phương pháp tiếp cận này thể hiện sự bình đẳng về quyền lợi
giữa các bên trong quan hệ lao động. Tuy nhiên phương pháp này chỉ nên áp
dụng ở những quốc gia có mức an sinh cao như Pháp, Cộng hoà Liên Bang Đức,
Bỉ… Bởi việc quy định này sẽ không khả thi nếu mức an sinh xã hội ở quốc gia
đó thấp. Quy định mức bồi thường ngang bằng nhau là đẩy người lao động vào
tình trạng khó khăn hơn. Bởi mức quy định bồi thường ngang bằng nhau giữa
hai bên thì có nghĩa pháp luật quốc gia đó sẽ quy định ra mức chung mà khi rơi
vào trường hợp đó cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải bồi
thường như nhau. Mức bồi thường này sẽ không căn cứ vào tình trạng, khả năng
20
tài chính của bất kì bên nào.
Phương pháp tiếp cận thứ hai đó là quy định mức bồi thường trong trường hợp
chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật của người sử dụng lao động cao hơn
người lao động. Các nước theo phương pháp tiếp cận này Hàn Quốc, Trung
Quốc, Nhật Bản và Việt Nam…Việc quy định mức bồi thường của người sử
dụng lao động cao hơn người lao động xuất phát từ vị thế của các bên trong
quan hệ lao động. Người lao động là người “làm công ăn lương”, là thế yếu
trong quan hệ lao động, họ chỉ có thể bán sức lao động để kiếm tiền. Còn ngược
lại người sử dụng lao động là chủ thể có tư liệu, kỹ thuật công nghệ sản
xuất…Khi có thiệt hại xảy ra thì người sử dụng lao động bao giờ cũng là bên có
nhiều lợi thế về tài sản hơn. Vì thế việc quy định mức bồi thường của người sử
dụng lao động cao hơn người lao động là hoàn toàn hợp lý. Cách tiếp cận thứ hai
này thể hiện tính nhân văn sâu sắc của pháp luật quốc gia. Quy định mức bồi
thường của người sử dụng lao động cao hơn người lao động là hoàn toàn phù
hợp với chính sách nhân đạo, bảo vệ thu nhập cho người lao động. Mặt khác,
việc quy định vấn đề trách nhiệm bồi thường cùng với một tính chất mức độ vi