Sáng kiến kinh nghiệm Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều - Pdf 38

Sáng kiến kinh nghiệm

PhÇn Më §Çu

NguyÔn H÷u Hïng

I. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta tự hào với bạn bè thế giới bằng một tác phẩm mang đậm đà bản
sắc dân tộc, đồng thời cũng là đỉnh cao về nghệ thuật, đó là kiệt tác Đoạn trường tân
thanh - thường được gọi bằng nhan đề quen thuộc là Truyện Kiều của Nguyễn Du
(1). Trong chương trình THCS, giáo viên và học sinh được tìm hiểu nhiều đoạn trích
hay của tác phẩm, song đó chỉ là những mảng nhỏ mà dẫu có tuyệt đối đến mấy cũng
không thể tạo nên được một cái nhìn trọn vẹn, chỉ đến với tác phẩm trong sự toàn
vẹn của một chỉnh thể mới có thể cho chúng ta một cái nhìn nghiêm túc, khoa học,
thấu đáo về đỉnh cao nghệ thuật này của nước nhà. Với ý nghĩa như vậy, bản thân đi
vào tìm hiểu đề tài Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều, đây
là một công trình khoa học nhỏ, song nó có thể hữu ích với giáo viên và học sinh khi
đi vào tìm hiểu những đoạn trích được giảng dạy trong chương trình.
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Trong đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu là giá trị nội dung và nghệ thuật của
Truyện Kiều. Bản thân đi vào tìm hiểu một cách sơ lược nhất những giá trị căn bản
về nội dung, nghệ thuật tác phẩm, đồng thời đi vào tóm tắt những chi tiết về con
người cũng như sự nghiệp văn chương của tác giả Nguyễn Du.
III. Lịch sử vấn đề
Với vị trí là đỉnh cao nghệ thuật của đất nước, Truyện Kiều được hầu hết
những nhà nghiên cứu lớn về văn học tìm hiểu, với những tên tuổi như Đào Duy
Anh, Trương Chính, Hoài Thanh, Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đăng Na,
Trần Nho Thìn v.v. Trong đó có thể kể đến những công trình như chương viết về
Nguyễn Du trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết
thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc, Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm của Đặng Thanh

Tây Sơn và triều đại Quang Trung, công cuộc trung hưng của nhà Nguyễn.
Như vậy, Nguyễn Du đã có một cuộc đời trải dài theo một thời đại mà
truyền thống nhân văn và tinh thần dân tộc được kết tinh một cách rực rỡ. Những
biến cố xã hội, truyền thống nhân văn và tinh thần dân tộc của thời đại ấy đã để lại
những âm hưởng, những màu sắc trong nhân cách cũng như sáng tác của nhà thơ.
2. Gia đình
Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc, trí thức, tài
hoa và có danh vọng vào bậc nhất đương thời. Không những thế, gia đình ông còn có
một truyền thống về văn học. Hoàn cảnh gia đình đã có những tác động rõ rệt đối với
sự hình thành thiên tài văn học ở Nguyễn Du.
Gia đình Nguyễn Du có nhiều người đậu đạt cao và làm quan to tại triều đình:
Thân sinh của Nguyễn Du đậu tiến sĩ, từng làm tể tướng.
Nguyễn Khản, anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du đậu tiến sĩ giữ chức lớn
dưới cả hai thời Trịnh Sâm và Trịnh Tông .
Nguyễn Huệ, bác ruột Nguyễn Du, đậu tiến sĩ.
Theo Phạm Ðình Hổ thì dòng họ này có 12 tiến sĩ và 5 quận công.
Hoàn cảnh gia đình đã để lại những dấu ấn vàng son trong tâm hồn nhà thơ và
cũng chắc chắn rằng qua thực tiễn của gia đình, ông cũng đã nhận thức được nhiều
điều về giới quan lại đương thời.
Dòng họ này còn có truyền thống văn học. Thân sinh của ông là Nguyễn Nghiễm
- một sử gia cũng là một nhà thơ. Nguyễn Khản giỏi thơ Nôm, tương truyền có dịch
Chinh phụ ngâm. Nguyễn Hành, Nguyễn Thiện (cháu gọi Nguyễn Du bằng chú) đều
là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đương thời.
3. Nguyễn Du
Những gì Nguyễn Du để lại cho đời đã chứng tỏ ông là một tài năng xuất
chúng về văn học của đất nước. Xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc
có danh vọng vào loại bậc nhất đương thời nhưng Nguyễn Du sống trong nhung lụa
không được bao lâu. Bởi vì nhà thơ lớn lên giữa lúc gia đình đang sụp đổ nhanh
chóng theo đà lụn bại của tập đoàn phong kiến thống trị Lê - Trịnh. Nguyễn Du phải
sớm đương đầu với những biến cố lớn lao của gia đình và xã hội. Có lúc nhà thơ

Sinh tế Trường Lưu nhị nữ.
Thác lời trai phường nón.

Chương II
ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
I. Một số vấn đề chung về Truyện Kiều
1. Nguồn gốc tác phẩm
Truyện Kiều của Nguyễn Du có tên là Ðoạn trường tân thanh, theo ý kiến
truyền thống thì nhan đề tác phẩm có nghĩa là tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột. Gần
đây nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã đưa ra một công trình nghiên cứu mới,
trong đó lý giải về nhan đề tác phẩm: Đoạn trường là một loài hoa màu hồng, gọi là
thu hải đường, liên quan đến tích một cô gái khóc nhớ người yêu, nước mắt nhỏ
xuống loài hoa này; tân thanh là từ chỉ một thể văn viết theo lối nhạc phủ, do đó ý
nghĩa tên tác phẩm phải là một tác phẩm thơ ca viết theo lối nhạc phủ về một kiếp
hoa đau khổ. Đây là một ý kiến mới cho độc giả hướng đến một cách hiểu rất khoa
học, hợp lý.
Tác phẩm không phải do Nguyễn Du hoàn toàn hư cấu mà tác giả đã dựa vào một
tác phẩm của văn học cổ Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều truyện của tác giả có
biệt hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân.
Trường THCS Yªn L¹c

3


Sáng kiến kinh nghiệm

NguyÔn H÷u Hïng

So sánh nội dung hai tác phẩm Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện người ta
thấy chúng giống nhau về cơ bản. Có thể nói Nguyễn Du đã dựa khá sát vào Kim

Dựa khá sát vào Kim Vân Kiều truyện nhưng Nguyễn Du sáng tạo cũng rất
nhiều. Ông đã tạo theo cách riêng của mình trên cơ sở những điều trông thấy, những
cảm xúc, những suy nghĩ của bản thân hoàn cảnh xã hội Việt nam đương thời. Nói
chung nhà thơ đã có cống hiến về nhiều mặt, nổi bật nhất là vấn đề ngôn ngữ, thi
pháp, nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nguyễn Du cũng đã tước bỏ những chi tiết tự
nhiên chủ nghĩa của nguyên tác. Về mặt tinh thần nhân đạo ông vượt xa Thanh Tâm,
mặt khác ông là một nhà nho thâm trầm nên nhưng yếu tố tiêu cực càng sâu sắc hơn.
Tổng quát lại về nội dung cũng như về nghệ thuật, Truyện Kiều của Nguyễn Du
đã vượt xa bản gốc đúng như Nhữ Bá Sĩ (1788-1876) đã nhận xét “Kỳ tài diệu bút,
Thanh Hiên viễn quá Thanh Tâm".
2. Thời điểm sáng tác Truyện Kiều
Có hai loại ý kiến khác nhau:
Trường THCS Yªn L¹c

4


Sáng kiến kinh nghiệm

NguyÔn H÷u Hïng

Có ý kiến cho rằng, Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều trước khi đi sứ Trung
Quốc, cụ thể có ý kiến cho là ông viết tác phẩm khi giữ chức quan Ðông Các (18051809).
Có ý kiến cho rằng Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều sau khi đi sứ về (18141820).
Dư luận hiện nay đồng tình với ý kiến thứ nhất.
II. Nội dung Truyện Kiều
Truyện Kiều là một cuốn tiểu thuyết bằng thơ, là tác phẩm phản ánh xã hội
thông qua vận mệnh và tính cách nhân vật trung tâm: Vương Thúy Kiều.
Ngoài nhân vật trung tâm Thúy Kiều, nhân vật Từ Hải giữ vị trí quan trọng thứ
hai trong tác phẩm. Từ không chỉ đóng vai trò là vị cứu tinh của Kiều, không chỉ có

Trường THCS Yªn L¹c

5


Sáng kiến kinh nghiệm

NguyÔn H÷u Hïng

Từ nét đẹp của Thúy Vân, Nguyễn Du đưa ta đến với vẻ đẹp của Thúy Kiều bằng
một câu thơ chuyển tiếp rất tài tình:
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Nhà thơ đã không đi vào miêu tả trực tiếp, cụ thể hình tượng mà chỉ viết “Kiều
càng…”, lời đánh giá chỉ có một ý là không có gì so sánh được. Nếu ở Vân tác giả
chú ý làm nổi bật nét đoan trang, phúc hậu thì ở Kiều cái mà ông muốn nhấn mạnh là
nét sắc sảo, mặn mà. Cái sắc sảo là cái thông minh, cái mặn mà chính là cái đằm
thắm, cái đa tình, cái cốt cách nổi bật nhất ở Thúy Kiều.
Kiều là con người tuyệt sắc và cũng là con người tuyệt tài. Tài của nàng là tài
cầm, kỳ, thi, họa. Cái tài này thật ra là biểu hiện của cái tình. Tài năng của Thúy
Kiều được thể hiện tập trung nhất là ở tài thi phú, ở cung đàn có sức chinh phục tuyệt
đối.
Như vậy, cốt cách tài sắc của Kiều hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Du khá nổi
bật. Những trang thơ miêu tả tài sắc ấy là một trong những biểu hiện của tư tưởng
nhân đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều và khi viết nên những trang thơ ấy nhà
thơ đã được đánh giá là nghệ sĩ của cuộc đời.
Thuý Kiều là hiện thân của những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ, của con
người bị áp bức dưới thời đại phong kiến.
* Thúy Kiều là hiện thân của những phẩm chất tốt đẹp
Khía cạnh đặc sắc nhất trong phẩm chất của Kiều là trong nàng luôn tồn tại một


Kiều là một con người giàu ý thức, trong đau khổ nàng luôn ý thức được những
khổ đau của bản thân và luôn có khát vọng vươn lên một cuộc sống trong sạch. Rơi
vào lầu xanh của Tú Bà, Thúy Kiều đã tìm đến cái chết rồi sau đó lại trốn theo Sở
Khanh. Sự gắn bó của nàng với Thúc Sinh, Từ Hải cũng đều xuất phát từ khát vọng
đó.
Ngoài ra nàng còn là một con người giàu tình nghĩa, chung thủy trong tình yêu.
Tóm lại, hoàn toàn có thể nói Kiều là hiện thân của những vẻ đẹp của con người,
nàng là kết tinh những tinh hoa của con người, là con người chứa đựng tất cả những
gì đẹp đẽ nhất.
b. Kiều là hiện thân của những con người bị áp bức.
Thúy Kiều là hiện thân của tất cả những nỗi oan khổ của người phụ nữ trong xã
hội xưa. Bao trùm là nỗi khổ vì hạnh phúc tình yêu tan vỡ, nỗi khổ của kiếp lầu
xanh, kiếp làm lẽ, kiếp làm nô tỳ và những sự chà đạp khác về mặt nhân phẩm. Thiên
tài của Nguyễn Du đặc biệt được biểu hiện khi ông đi sâu miêu tả những đau khổ
của con người nạn nhân này.
Mở đầu cho chương lệ sử của cuộc đời Kiều là nỗi oan kêu trời không thấu của
gia đình nàng. Tai họa đã ập đến đột ngột trong lúc những rung động về mối tình đầu
đang còn ngân nga trong lòng người thiếu nữ. Vì mục đích làm tiền, bọn sai nha đầu
trâu, mặt ngựa đã đánh đập cha và em nàng một cách tàn nhẫn. Trong hoàn cảnh bi
đát ấy, Kiều đành phải đi đến quyết định bán mình.
Bán mình để cứu cha, để vãn hồi hạnh phúc gia đình, một vấn đề đặt ra với nàng
lúc này. Ðó là lời thề với chàng Kim. Khi từ biệt Kim Trọng về Liêu Dương thọ tang
chú, Kiều đã hẹn ước trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai. Ðây là lời thề sâu nặng,
lời thề được thốt ra từ đáy lòng nàng. Cuối cùng người con gái ấy đã quyết định nhờ
em gái mình là Thúy Vân thay lời nước non. Với tài năng, với tấm lòng nhân đạo cao
cả, với tấm lòng yêu thương con người bao la của mình, Nguyễn Du đã miêu tả một
màn trao duyên này rất thành công. Có lẽ nhờ sự cảm thông kỳ diệu mà tác giả đã lột
tả hết những đau đớn của nhân vật khi mối tình tuyệt đẹp tan vỡ một cách chân thực
và xúc động.

Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Mai sau dù có bao giờ
Ðốt lò hương ấy so tơ phím này
“Mai sau dù có bao giờ” - câu thơ toàn những hư từ chỉ khả năng, được xếp vào
loại những câu thơ hay nhất của tác phẩm diễn tả sự đau khổ đến tột cùng, đến mức
không còn dám tin đó là sự thật nữa.
Trao duyên cho em xong Kiều mới nghĩ đến mình. Nàng thương cho thân phận
của mình. Tình cảm của Kiều lâm ly đến cực độ, Nàng đã quên cô em gái Thúy Vân
trước mặt, nàng độc thoại với mình rồi nói với người yêu vắng mặt:
Bây giờ trâm gãy bình tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi
Ðã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
Thật ra đây không còn là những lời nói nữa. Ðây là những tiếng khóc, tiếng khóc
nức nở đến quặn lòng. Nước mắt của người trong truyện và người viết truyện như
còn dầm dề trên trang giấy .
Tiếp theo là quãng đời 15 năm lưu lạc của Vương Thúy Kiều trong xã hội đầy rẫy
bọn ác nhân. Suốt thời kỳ thanh xuân tươi đẹp và quý giá của mình nàng đã trải qua
biết bao cảnh ngộ đoạn trường (những cảnh ngộ bi kịch): Hai lần làm gái lầu xanh,
hai lần làm nô tỳ, một lần làm lẽ, ba lần đi tu. Nói chung Kiều đã trải qua những địa
vị thấp hèn nhất trong xã hội ngày xưa. Sống thân phận con người bị áp bức nàng đã
phải nếm trải đủ mùi cay đắng, tủi nhục. Thể xác bị chà đạp, tài hoa nhan sắc bị giày
vò, nhân phẩm bị sỉ nhục, quyền sống bị tước đoạt, tất cả những mơ ước lớn nhỏ hết

a. Giấc mơ về tình yêu tự do
Giấc mơ này được thể hiện tập trung trong mối tình Kim - Kiều. Thái độ của
Nguyễn Du đối với mối tình này là thái độì đồng tình, ngợi ca. Ðiều đó được thể hiện
ở chỗ nhà thơ đã đem hết tài năng, tâm lực, tình cảm để xây dựng mối tình này. Tất
cả chỉ độ vài tháng thôi, vài tháng so với 15 năm lưu lạc của Kiều thì quả là ngắn
ngủi. Thế mà Nguyễn Du đã giành 1/8 tác phẩm để trang điểm cho cái thuở ban đầu
lưu luyến ấy.
Qua mối tình Kim - Kiều tuyệt đẹp nhà thơ đã gửi gắm nhiều quan niệm mới mẻ,
táo bạo của mình về tình yêu. Nhưng nổi bật nhất là quan niệm, là khát vọng về tình
yêu tự do. Mối tình ấy là mối tình nằm ngoài mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến.
Mối tình được diễn ra theo một quá trình diễn biến rất hợp lý nên rất hấp dẫn.
+ Bước1: Kim, Kiều gặp gỡ.
Nhà thơ đã để cho Kim, Kiều gặp nhau trong một hoàn cảnh khá đặc biệt về
không gian và thời gian. Ðó là một buổi chiều tà bên nấm mộ "hương khói vắng
tanh" của Ðạm Tiên- nhân vật vừa là hiện thân của cái mệnh vừa là nạn nhân của cái
mệnh. Lần gặp gỡ đầu tiên này thật ngắn ngủi và đột ngột. Hai người chưa kịp nói
với nhau một lời nhưng trái tim đôi lứa đã thật sự xúc động. Sự rung động ấy đã
được Nguyễn Du ghi nhận với một thái độ thông cảm, trân trọng và cũng đầy tế nhị:
Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã mặt ngoài còn e
+ Bước 2:Tiếp theo lần gặp gỡ ban đầu ấy là mối tương tư.
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không
Câu thơ như một lời trách móc, lời trách móc ấy bao hàm nhiều nỗi niềm: Có băn
khoăn, có lo lắng và có cả một chân trời hy vọng. Thúy Kiều là vậy còn Kim Trọng
thì sao?
Trở về nhà Kim Trọng cũng tương tư Kiều không kém. Trước khi miêu tả mối
tương tư của chàng trai si tình ấy nhà thơ đã viết hai câu thơ để biện hộ cho nhân vật,
để người đọc không hiểu nhầm nhân vật của mình.
Cho hay là giống hữu tình,

Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung
Và cũng trong lần gặp gỡ đó họ đã trao kỷ vật cho nhau.
Ðến với nhau, đến với tình yêu, cả Kim lẫn Kiều không hề để một chút tính toán
nào về địa vị, về môn đăng hộ đối làm vẩn đục mối tình của họ. Ðặt trong hoàn cảnh
xã hội phong kiến mối tình Kim-Kiều quả là táo bạo, vượt lễ giáo phong kiến, vượt
thời đại.
+ Bước 4: Tình yêu đã được nuôi dưỡng một thời gian và đã có được nhiều kỷ
niệm nên đến với Kim Trọng Thúy Kiều đã có những cử chỉ táo bạo. Nàng đã chủ
động xây dựng hạnh phúc cho mình. Nhân dịp cha mẹ và hai em đi vắng, Kiều đã
sang nhà người yêu để tình tự:
Nhà lan thanh vắng một mình
Ngẫm cơ hội ngộ đã giành hôm nay
Kiều mừng vui, nàng như reo lên, rối rít sắp đặt hoa quả và sang nhà chàng Kim:
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường
Gót sen này quả thật còn làm ngơ ngác nhiều thiếu nữ ngày nay. Nàng tình tự với
người yêu trọn một ngày mà vẫn còn thấy quá ít ỏi. Trời tối rồi nàng mới sực nhớ :
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai.
Trở về nhà thấy cha mẹ và hai em vẫn chưa về nàng lại:
Cửa ngoài vội rủ rèm the
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Hai từ xăm xăm gợi hình ảnh một nàng Kiều đi băng băng, không rón rén, không
nhìn trước nhìn sau. Cái đáng sợ nhất là dư luận, là những quan niệm khắt khe của lễ
giáo, Kiều cũng không sợ nốt. Câu thơ không còn là một câu thơ bình thường nữa
Trường THCS Yªn L¹c

10


Sáng kiến kinh nghiệm


nhân vật chưa có gì để gọi là anh hùng.
Ðến Thanh Tâm, tác giả đã đổi lốt cho nhân vật này, ông đã xây dựng Từ trở
thành một đại vương. Từ một con người có tài năng, đức độ của một người anh hùng
nhưng trong tính cách của nhân vật này vẫn còn rơi rớt tính cách giặc cỏ - tính cách
của một tên tướng cướp tầm thường. Nhìn chung Thanh Tâm Tài Nhân chưa gửi gắm
vào nhân vật này một ước mơ gì lớn lao, nhân vật chưa đáp ứng được khát vọng gì
của cuộc sống.
Ðến Truyện Kiều, Nguyễn Du đã xây dựng Từ thành một nhân vật anh hùng vơi
màu sắc lý tưởng, ông tước bỏ tất cả những chi tiết khiến người ta nghĩ Từ là một
con người tầm thường.
Từ xuất hiện trong hoàn cảnh nào của cuộc đời Kiều? Rơi vào lầu xanh lần thứ
hai, thái độ của Kiều trong Kim Vân Kiều Truyện dường như bình thản đón nhận số
phận. Thái độ ấy làm cho tính chất bi kịch của đoạn đời này không rõ nét, bị phá vỡ.
Giữa lúc ấy Từ Hải xuất hiện. Vai trò của Từ rõ ràng không được đề cao. Còn trong
Truyện Kiều, rơi vào lầu xanh lần hai, Kiều bế tắc đến tuyệt vọng, nàng như bị dồn
đến chân tường:
Trường THCS Yªn L¹c

11


Sáng kiến kinh nghiệm

NguyÔn H÷u Hïng

Ðầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi
Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.
Giữa lúc ấy thì Từ xuất hiện, sự xuất hiện ấy có ý nghĩa. Nhân vật như một vị cứu

do của chàng;
Nửa năm hương lửa đang nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời vời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong.
Từ cất bước ra đi rất nhẹ nhàng. Chàng không dại gái, nếu như dại gái thì Từ đã
không ra đi giữa lúc tình yêu đang nồng thắm như vậy. Kiều vốn thông minh, nàng
biết không thể nào giữ Từ ở lại nên chỉ một mực xin chàng cho mình đi cùng:
Nàng rằng phận gái chữ tòng
Trường THCS Yªn L¹c

12


Sáng kiến kinh nghiệm

NguyÔn H÷u Hïng

Quyết lòng xin chàng đi thiếp cũng đi.
Nhưng Từ đã khuyên Kiều ở lại, hẹn bao giờ chiến thắng sẽ đón nàng nghi gia, có
lâu thì cũng một năm thôi, nói rồi:
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi.
Từ ra đi theo tiếng gọi của tự do như cánh chim bằng gặp gió.
Thêm một lần nữa nhà thơ đã thể hiện khát vọng sống tự do của nhân vật khi
Kiều khuyên Từ ra hàng. Lúc đó Từ Hải chỉ có một băn khoăn duy nhất là được, mất
tự do. Hàng thì được áo xiêm, danh tước nhưng phải gò mình vào cuộc sống gò bó,
từ bỏ cuộc sống ngang tàng và cuối cùng Từ đã đặt tự do lên trên cả công hầu, danh
tước:
Một tay xây dựng cơ đồ


Trường THCS Yªn L¹c

13


Sáng kiến kinh nghiệm

NguyÔn H÷u Hïng

Tòa án này dựng lên đã được sự đồng tình tuyệt diệu của ba quân, của những
người xa gần, của trời đất. Ðây là thứ công lý được quần chúng ủng hộ và hoàn toàn
nằm ngoài đạo đức phong kiến, một thứ công lý nhìn chung còn đơn giản .
Nhưng giấc mơ Từ Hải cuối cùng là một giấc mơ bế tắc không lối thoát. Con
người anh hùng rất mực này cuối cùng đã nghe theo lời Kiều đầu hàng Hồ Tôn Hiến
với những lý lẽ tầm thường để rồi bị phản bội và chết một cách oan uổng. Từ Hải
chết thể hiện sự bế tắc trong thế giới quan của Nguyễn Du.
Như vậy hình tượng Từ Hải bắt nguồn từ thời đại đã tạo nguồn thi hứng cho Nguyễn
Du, hình tượng Từ Hải cũng được lấy từ Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân đồng thời cũng mang những nét chủ quan của nhà thơ.
3. Phần tiêu cực của Nguyễn Du thể hiện trong tác phẩm
Nhân sinh quan tiến bộ của Nguyễn Du đã tạo nên những nhân tố tích cực nhất
của Truyện Kiều. Mặt khác, tác giả lại là một nhà nho nên ông cũng chưa vượt qua
được những hạn chế của ý thức hệ phong kiến cũng như những hạn chế của thời đại
nên phần hạn chế vẫn còn khá nặng nề. Cụ thể là trong tác phẩm nổi bật một số quan
niệm duy tâm siêu hình: Ðó là thuyết thiên mệnh của nhà nho được nhà thơ cụ thể
hóa trong các quan niệm tài mệnh tương đố, hồng nhan bạc phận, là thuyết duyên
nghiệp nhân quả của nhà phật có pha trộn quan niệm quả báo của nhân dân. Chính
những tư tưởng trên đã gây ra những mâu thuẫn trong thế giới quan của nhà thơ.
Mâu thuẫn giữa nhận thức và lý giải về số phận con người.


NguyÔn H÷u Hïng

chiếm tỉ lệ 35% của ngôn ngữ Truyện Kiều thế nhưng ông đã góp phần Việt hóa từ
gốc Hán bằng cách dịch ra tiếng Việt.
Truyện Kiều còn có thứ ngôn ngữ nhóm tức là thứ ngôn ngữ nghề nghiệp chẳng
hạn ngôn ngữ của bọn buôn thịt bán người.
Tóm lại: Vốn từ phong phú và đa dạng nói trên đã giúp Nguyễn Du dựng lại một
bức tranh xã hội rộng lớn, phức tạp với nhiều hạng người khác nhau. Nhờ có vốn từ
phong phú nên tình huống dù có phức tạp đến mấy ông cũng tìm được cách nói hay
nhất, trúng nhất.
b. Ngôn ngữ Truyện Kiều trong sáng; giàu hình ảnh; giàu sức gợi, truyền cảm.
Câu thơ tả cảnh mùa thu:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.
Hai câu thơ rất trong sáng, hàm súc và giàu hình ảnh. Ngôn ngữ của chúg là ngôn
ngữ thuần Việt, chỉ riêng từ thành" là từ Hán Việt nhưng đã được sử dụng nhiều lần
và trở nên quen thuộc. Qua hai câu thơ, người đọc có thể hình dung được một làn
nước thu trong vắt, hình dung được một cảnh có đường nét, có cảnh vật xa gần. Ở
đây tả cảnh là để nói tình, cảnh được nhìn qua đôi mắt của Thúc Sinh khi trên con
đường trở về với Kiều sau một chuỗi ngày dài sống nặng nề vơi Hoạn Thư.
c. Ngôn ngữ Truyện Kiều điêu luyện được sử dụng một cách cân nhắc có chọn
lựa
Ngôn ngữ của Thúy Kiều khi trao duyên cho em là Thúy Vân:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Cậy em, em có chịu lời, câu thơ giản dị nhưng lại chứa cả một khối tâm sự của
nhân vật. Kiều phải nói cậy mà không nói nhờ, mượn (ba từ này cùng nghĩa nhưng
khác nhau về mức độ và sắc thái biểu cảm. Cậy là nhờ với tất cả sự tha thiết và biết
ơn). Bởi vì câu chuyện mà nàng sắp cậy đây là một sự gửi gắm, ký thác tâm hyết của

Ðã tu/ tu trót/ quá thì/ thì thôi.
Nguyễn Du còn sử dụng còn sử dụng nhiều lối tạo câu mang màu sắc tu từ rõ rệt.
Chẳng hạn đảo trạng ngữ lên trước danh từ: Ào ào đổ lộc rung cây
hoặc đảo định ngữ trước danh từ: Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Câu cảm thán và nghi vấn tu từ có rất nhiều trong Truyện Kiều, nhiều nhất là
đoạn diễn tả tâm trạng Thúy Kiều trong đêm tái hợp, mục đích là xoáy sâu vào nỗi
đau đớn của nàng: Nghĩ mình chẳng thẹn mình sao?
Trong các câu thơ Truyện Kiều có hầu hết các kiểu câu hiện đại, hoặc mầm mống
của các câu hiện đại cho nên ngôn ngữ của Truyện Kiều rất gần với ngôn ngữ hiện
đại.
Tóm lại, từ các nguồn khẩu ngữ, ngôn ngữ văn học dân tộc, ngôn ngữ nước ngoài
Nguyễn Du đã tiến hành chọn lọc, thâu tóm những tinh hoa, xây dựng được những
hình thái, lời nói tiêu biểu; cung cấp những mẫu mực cho ngôn ngữ văn học dân tộc
về nhiều mặt. Ðó là một sự đóng góp rất lớn lao. Thành tựu về nghệ thuật ngôn ngữ
của Nguyễn Du trước hết được cắt nghĩa với sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc
trong thế kỷ XVIII đặc biệt với ngôn ngữ thơ ca. Mặt khác đứng về chủ thể sáng tạo
mà nói nhà thơ đã tiếp thu và vận dụng có sáng tạo vốn văn chương bác học của dân
tộc và Trung Quốc theo hai hướng dân tộc hóa và quần chúng hóa.
2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Ðây là khâu trung tâm của nghệ thuật tiểu thuyết nhưng là chỗ non yếu nhất của
văn học đương thời. Nguyễn Du đã đột phá từ khâu yếu này và đã có sự đóng góp
lớn lao vào nền văn học đương thời.
a. Nguyễn Du chú ý cá thể hóa nhân vật của mình.
Nhân vật trong Truyện Kiều nói chung là sinh động, có sức sống lâu bền là nhờ
ông đã cá thể hóa nhân vật bằng ba biện pháp sau đây: Miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ
nhân vật, hành động nhân vật.
* Ngoại hình nhân vật
Ngoại hình nhân vật trong Truyện Kiều bao giờ cũng cốt ý biểu hiện thế giới nội
tâm nhân vật (so với văn học đương thời đây là nét mới). Tất nhiên trong việc miêu
tả ngoại hình nhân vật có lúc tác giả vẫn chưa thoát khỏi được khuôn sáo, ước lệ

Thừa cơ lên bước ra đi,
Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn.
+ Mã Giám Sinh: Dè dặt, giọng nhát gừng, gỏn lọn:
Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều
Sinh nghi xin dạy bao nhiêu cho tường...
* Hành động nhân vật.
Nguyễn Du chú ý tới phương diện làm gì, làm như thế nào của nhân vật: Tác giả
chú ý tới phương diện cá thể hóa nhân vật. Ông đã thu xếp cho Mã Giám Sinh, Tú
Bà, Hoạn Thư mỗi nhân vật một cách ngồi. Qua các cách ngồi ấy người ta biết được
địa vị giai cấp và tính cách của chúng (Tú Bà ngồi vắt nóc, Mã Giám Sinh ngồi tót,
Hoạn Bà ngồi trên...)
b. Nguyễn Du đi sâu miêu tả nội tâm, tâm lý nhân vật.
Nhà thơ thường miêu tả cảnh vật để qua đó thể hiện nội tâm nhân vật. Về điểm
này ông đã kế thừa Chinh phụ ngâm.
Ðoạn tiêu biểu nhất là đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích. Tâm trạng của nàng đầy
phức tạp. Tác giả tập trung tả cảnh lầu Ngưng Bích để khắc họa tâm trạng Kiều lúc
này:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Buồm ai thấp thoáng cách buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ dàu dàu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Ðây là một cảnh có nhiều tầng, nhiều lớp được dựng lên như một tòa thành sầu
vây hãm con người nạn nhân. Cái buồn của Kiều không chỉ toát lên từ điệp từ buồn
trông kéo dài như một khúc nhạc sầu trùm lên cả đoạn thơ mà nó thấm vào từng chữ,
từng dòng. Trong bức tranh thiên nhiên đó ta còn bắt gặp một không gian sâu thẳm,
vời vợi, một không gian có chiều dài như một dòng sông, chiều rộng mênh mang của

mệnh cũng nặng nề hơn, cái buồn đen tối cũng ngày càng dằng dặc hơn. Trong khi
đó ngọn lửa ham sống yêu đời thiết tha, sôi nổi lúc đầu lại dần dần bị mưa gió, bão
táp của cuộc đời làm cho tàn lụi dần đi.
Tóm lại, về phương diện xây dựng nhân vật Nguyễn Du có kế thừa truyền thống,
kế thừa văn học nước ngoài một cách có sáng tạo và nâng cao rõ rệt.
VẬN DỤNG
Đề bài 1:
Phân tích những thành công về nghệ thuật miêu tả, khắc họa nhân vật của
thi hào Nguyễn Du qua các đoạn trích “ Truyện Kiều”.
A.Phân tích đề
1.Xác định kiểu bài: Phân tích + Chứng minh
2. Nội dung: Nghệ thuật miêu tả , khắc họa nhân vật của Nguyễn Du
3. Tư liệu : Các đoạn trích trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
(Chị em Thúy Kiều ; Mã Giám Sinh mua Kiều ; Kiều ở lầu Ngưng Bích; Thúy Kiều
báo ân, báo oán )
B. Lập dàn ý:
I. Mở bài:
Dẫn dắt và đưa được vấn đề nghị luận – thành công về nghệ thuật miêu tả
nhân vật của Nguyễn Du qua các đoạn trích Truyện Kiều.
II. Thân bài:
1. Những đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả, khắc họa nhân vật:
Trường THCS Yªn L¹c

18


Sáng kiến kinh nghiệm

NguyÔn H÷u Hïng


nỗi buồn tủi, cô đơn, lo sợ… của nàng Kiều trước ngoại cảnh rộng lớn, heo hút, mịt
mờ… Những lời độc thoại nội tâm biểu lộ nỗi nhớ thương da diết của Kiều trong
cảnh “bên trời góc bể bơ vơ ”. Tình cảm thương nhớ người yêu, thương xót cha mẹ
càng làm rõ đức hạnh , thủy chung , hiếu thảo, vị tha của nàng.
+ Khắc họa tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại qua Thúy Kiều báo ân báo
oán .
Qua lời Kiều nói với Thúc Sinh cho thấy nàng là người trọng ân nghĩa. Qua lời Kiều
nói với Hoạn Thư cho thấy nàng là người sắc xảo, bao dung. Những lời Kiều nói với
Thúc Sinh, Hoạn Thư cho thấy nàng là người nặng tình nặng nghĩa, vị tha cao cả
Lời đối đáp của Hoạn Thư bộc lộ rõ tính cách“khôn ngoan”, “quỷ quái tinh ma”
của nhân vật này, mụ đã khôn khéo để kịp thoát tội.
2. Đánh giá chung:
Trường THCS Yªn L¹c

19


Sỏng kin kinh nghim

Nguyễn Hữu Hùng

- Thỳy Võn, Thỳy Kiu, nhng nhõn vt chớnh din khỏc nh T Hi, Kim Trng
u c Nguyn Du tụn vinh v c khc ha bng bỳt phỏp c l c in. H l
nhng nhõn vt lớ tng, c mụ t vi nhng chi tit chn lc, ngụn ng trang
trng phự hp vi cm hng tụn vinh, ngng m trõn trng con ngi. L nột ch
o lm nờn chu ngha nhõn o trung i.
- Nhõn vt phn din nh Mó Giỏm Sinh cng nh S Khanh, Tỳ B, H Tụn Hin
c khc ha bng bỳt phỏp t thc, ngụn ng trc din. Tuyn nhõn vt ny gn
vi thỏi phờ phỏn, t cỏo xó hi, to nờn cm hng hin thc ca Nguyn Du.
- Tụn trng truyn thng ngh thut trung i nhng Nguyn Du cng in du n cỏ

Truyn Kiu
3. T liu : - Cỏc on trớch trong Truyn Kiu ca Nguyn Du
(Ch em Thỳy Kiu ; Mó Giỏm Sinh mua Kiu ; Kiu lu Ngng Bớch; Thỳy Kiu
bỏo õn, bỏo oỏn )
Trng THCS Yên Lạc

20


Sỏng kin kinh nghim

Nguyễn Hữu Hùng

-Cú th l cỏc tỏc phm ca Nguyn Du.
B. Lp dn ý:
I. M bi:
- Dn dt v a c vn ngh lun : T tng nhõn o trong cỏc sỏng tỏc
ca Nguyn Du c bit l Truyn Kiu
- Dn li ý kin ca Mai Quc Liờn
II. Thõn bi:
1 - Giải thích nhận định:
- õy l nhn xột v t tng ca Nguyn Du trong tỏc phm ca ụng.
- Ni dung nhn xột: Nh th luụn hng v cuc i , s phn con ngi , nhng
ngi cựng kh c bit l ngi ph n . Nguyn Du th hin cao s trõn trng ,
yờu thng vi tng nhõn vt , dnh trn tõm huyt i tỡm li gii ỏp cho s phn
ca mi con ngi.Vỡ th ụng ó vit nhng trang th, vn, thm m s khc khoi
v nhõn tỡnh, th thỏi v cú ý kin cho rng : Quyn Kiu thm l ngi vit nú v
ngi c nú . ú l cỏi Tõm ca ngi ngh s thiờn ti Nguyn Du
- C s t tng :
Vn thuc tng lp quý tc nhng Nguyn Du tng tri nhng cnh i c cc nht


21


Sáng kiến kinh nghiệm

NguyÔn H÷u Hïng

- Khẳng định vấn đề: Tư tưởng nhân đạo nó thấm nhuần sâu sắc trong sáng tác
của Nguyễn Du.
- Cùng với tài năng nghệ thuật bậc thầy của người nghệ sĩ làng Tiên Điền, tư
tưởng nhân đạo đã làm nên sức sống lâu bền trong các tác phẩm của ông.

PhÇn KÕt luËn
Xét về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật Truyện Kiều xứng đáng là tác phẩm ưu
tú nhất của văn học Việt Nam trong quá khứ.
Truyện Kiều còn có hạn chế về cả nội dung lẫn nghệ thuật nhưng phần đóng góp
của Nguyễn Du là hết sức to lớn và là phần chủ yếu. Tác phẩm không phải là sáng
tác của một cá nhân mà là tập đại thành của truyền thống văn học dân tộc, là kết tinh
của một giai đoạn phát triển rực rỡ của nền văn học dân tộc.
Cho đến ngày nay Truyện Kiều không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có giá trị thực
tế bởi tiếng kêu thương tâm của nàng Kiều trong xã hội cũ và những ước mơ tốt đẹp
của Nguyễn Du đang thúc giục chúng ta trên bước đường cách mạng xây dựng Tổ
quốc đem lại cuộc sống hạnh phúc, no ấm cho con người. Ngoài ra Truyện Kiều còn
có giá trị bồi dưỡng thẩm mĩ cho chúng ta và góp phần to lớn về phương diện lý luận
văn học.
Vì quá yêu, say mê Truyện Kiều của Nguyễn Du nên tôi mạnh dạn trình bày một
vài suy nghĩ của mình về khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật cuả Truyện
Kiều tất yếu có chỗ chưa thỏa đáng . Với tinh thần khoa học và tình yêu thương con
người chân thành, đằm thắm, rất mong các đồng nghiệp bổ khuyết cho đề tài bớt đi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status