BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________________
Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền
Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số
: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐỨC TUẤN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng
Khoa học Công nghệ và Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Địa
lí và các Thầy Cô trong khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Đức
Tuấn - Thầy đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên
cứu để hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các bạn đồng nghiệp
công ty Polaris đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận
văn.
Cuối cùng, Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, những người
thân yêu, bạn hữu đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong
Đề tài tập trung vào việc vận dụng những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát
triển bền vững du lịch trên thế giới và Việt Nam soi sáng cho việc đánh giá khả
năng phát triển loại hình du lịch này tại Nha Trang, góp phần phát triển du lịch tại
thành phố biển xinh đẹp này theo hướng bền vững.
3. Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
-
Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn vế phát triển du lịch bền vững
trên thế giới và Việt Nam, vận dụng vào thực tế phát triển du lịch biển tại
thành phố Nha Trang.
-
Phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch biển ở Nha Trang theo
hướng bền vững
-
Trên cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững, các định hướng chiến lược
phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, của khu vực, kiến nghị một số giải
pháp phát triển du lịch bền vững ở thành phố Nha Trang.
4. Nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc tổng quan các cơ sở lý luận cho việc phát triển bền
vững du lịch biển thành phố Nha Trang. Phân tích tiềm năng, hiện trạng và đề xuất
một số giải pháp để phát triển bền vững du lịch biển ở thành phố Nha Trang.
5. Phạm vi nghiên cứu
Năm 1996, hưởng ứng chương trình Nghị sự Trái đất, ngành du lịch toàn cầu đại
diện bởi ba tổ chức quốc tế gồm: Hội đồng lữ hành du lịch thế giới (WTTC), Tổ
chức du lịch thế giới (WTO) và Hội đồng Trái đất (Earth council) đã ứng dụng
những nguyên tắc của Agenda 21 vào du lịch, phối hợp xây dựng một chương trình
hành động với tên gọi “Chương trình nghị sự 21 về du lịch: Hướng tới sự phát triển
về môi trường”. Chương trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh
nghiệp du lịch, các chính phủ, các cơ quan du lịch quốc gia, các tổ chức thương mại
và người đi du lịch.
Chương trình nghị sự 21 về du lịch đã đưa ra các lĩnh vực ưu tiên hành động với
mục đích xác định và dự kiến các bước tiến hành. Chương trình này nhấn mạnh sự
cần thiết phối hợp hành động giữa các chính phủ, phân tích tầm quan trọng về chiến
lược và kinh tế của ngành du lịch, đồng thời nêu bật những lợi ích to lớn của việc
phát triển du lịch theo hướng bền vững.
6.2. Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về du lịch mới được quan tâm nhiều từ thập niên 90
của thế kỷ XX trở lại đây cùng với sự khởi sắc của du lịch nước ta. Các công trình
nổi bật như: Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam, Quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch Việt Nam 1995 – 2000, Cơ sở địa lý du lịch, Địa lý du lịch, Du lịch sinh thái,…
và nhiều công trình khác, tập trung nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn với quy mô và
phạm vi lãnh thổ khác nhau. Trong những năm gần đây, các tác động của du lịch
đối với môi trường tự nhiên và xã hội đã ngày càng trở nên nghiêm trọng và thu hút
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Điều đó cũng cho thấy yêu cầu cấp thiết của
việc xây dựng và phát triển du lịch bền vững.
Các cuộc hội thảo như Hội thảo quốc tế về phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam do tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (CHLB Đức) tổ
chức tại Huế (tháng 5/1997), Hội thảo về du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở
Việt Nam (tại Hà Nội, tháng 4/1998),… du lịch bền vững đã được nhiều nhà nghiên
cứu trong nước và quốc tế đề cập, thảo luận.
ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nói riêng và toàn bộ hệ
thống du lịch nói chung. Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống phức tạp gồm
nhiều thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đây là một dạng đặc biệt của
địa hệ mang tính chất hỗn hợp, có đầy đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế, xã hội
và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản. Vì vậy, quan điểm hệ thống luôn
được quán triệt trong nghiên cứu luận văn.
Du lịch biển Nha Trang là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống lãnh thổ du
lịch Việt Nam và đồng thời cũng chính là một hệ thống lãnh thổ du lịch gồm nhiều
thành phần.
7.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Các đối tượng nghiên cứu của địa lý không thể tách rời một lãnh thổ cụ thể
với những đặc trưng riêng. Lãnh thổ du lịch được tổ chức như một hệ thống liên kết
không gian của các đối tượng du lịch và trên cơ sở các nguồn tài nguyên, các dịch
vụ cho du lịch. Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân
tích các tiềm năng và các tác động nhiều mặt đối với lãnh thổ du lịch Nha Trang,
kết hợp có quy luật trên cơ sở phân tích, tổng hợp các thành phần của hệ thống lãnh
thổ du lịch, phát hiện và xác định những điểm đặc thù của chúng.
7.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đồi và phát triển. Nghiên
cứu quá khứ để có cơ sở cho việc đánh giá đúng hiện tại, phân tích nguồn gốc phát
sinh, phát triển tạo tiền đề cho việc dự báo tương lai, dự báo các xu hướng phát
triển. Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích các giai đoạn chủ yếu
của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, các phân hệ cũng như xu
hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ.
7.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Phát triển du lịch đi đôi với bảo vệ môi trường là một bộ phận không thể
thiếu của chính sách sinh thái toàn vẹn. Mục tiêu của du lịch bền vững là bảo vệ tài
nguyên và môi trường, tăng cường bảo tồn và đóng góp lợi ích cho cộng đồng, đảm
và quan điểm của các du khách, các nhà quản lý du lịch một cách khách quan.
7.2.5. Phương pháp đánh giá tổng hợp
Các tài liệu đã được tác giả thu thập, điều tra, thống kê sẽ được tổng hợp,
phân tích với quan điểm hệ thống để làm cơ sở nghiên cứu nội dung đề tài.
7.2.6. Phương pháp điều tra và lấy ý kiến chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu tác giả luôn tranh thủ ý kiến của giáo viên hướng
dẫn đồng thời cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia về du lịch, các nhà điều
hành du lịch ở thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hoà.
8. Những nội dung cơ bản của luận văn, dự kiến các chương mục
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững
Chương 2 : Tiềm năng và thực trạng phát triển bền vững du lịch biển thành
phố Nha Trang
Chương 3 : Định hướng và một số giải pháp phát triển bền vững du lịch
biển ở thành phố Nha Trang
Kết luận và kiến nghị
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. Khái niệm về du lịch bền vững
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Theo thời gian, qua từng thời đại khác nhau, có những quan niệm khác nhau
về du lịch.
Ở thời kỳ đồ đá, con người “đi” vì sự sinh tồn, vì tránh đói, tránh rét, tránh
sợ hãi.
Đến thời kỳ cường thịnh của đế quốc La Mã, các chuyến du ngoạn bằng
ngựa đã mang mục đích tiêu khiển của những tầng lớp thống trị. Sự ra đời của tàu
hỏa vào thế kỷ XIX đã tạo động lực cho giao thông phát triển, đồng thời cũng tạo
và thực hiện các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo, thể thao có tác
dụng nâng cao chất lượng cuốc sống của con người. Ngoài ra, du khách phải
nghỉ đêm và mua các dịch vụ ở nơi đến”.
1.1.2. Quan niệm về phát triển bền vững
Từ thế kỷ XIX, qua thực tiễn quản lý rừng ở Đức, người ta đã đề cập tới sự
“phát triển bền vững”. Nhưng mãi đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khái niệm này
mới được phổ biến tương đối rộng rãi.
Năm 1980, IUCN cho rằng “phát triển bền vững” phải và cân nhắc đến việc
khai thác các tài nguyên có khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem xét các
điều kiện khó khăn cũng như thuận lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn
hạn và dài hạn.
Đến năm 1987, Ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED do bà
Grohalem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong
bản báo cáo “Tương lai chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự
phát triển có thể đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại
đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Theo ơng Jordan Ryan – đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam thì
“phát triển bền vững là một q trình đảm bảo tăng tối đa phúc lợi của xã hội và
xóa bỏ đói nghèo thơng qua việc quản lý ở mức tối ưu và có hiệu quả tài ngun
thiên nhiên”. Ơng khẳng định phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng
tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về mơi trường. Cũng
theo ơng, chúng ta khơng nên coi phát triển bền vững như một phương tiện thuận
lợi để gom tất cả các vấn đề về kinh tế, xã hội và mơi trường lại với nhau, mà cần
có một quan điểm tồn diện để đảm bảo các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì
mâu thuẫn nhau.
Hệ kinh tế
Hệ xã hội
của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung
cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng
cuộc sống của các thế hệ trong tương lai”.
Như vậy, để PTBV thì phải cùng đồng thời thực hiện 3 mục tiêu: (1) Phát triển
có hiệu quả về kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống,
trình độ sống của các tầng lớp dân cư; (3) Cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm
phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau. Thể hiện qua hình 1.2
và hình 1.3 sau đây:
Mục tiêu kinh tế
Phát triển
bền vững
Mục tiêu xã hội
Mục tiêu sinh thái
Hình 1.2: Mô hình phát triển bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank
Kinh tế
Giá trị máy móc
Cạnh tranh quốc tế
Nông nghiệp bền vững
Phát triển
Bảo vệ nguồn nước
Kiểm soát thuốc BVTV
trước sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là
nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn.
Khái niệm “phát triển du lịch bền vững” xuất hiện khoảng từ 10 năm trở lại
đây trên cở sở cải thiện và nâng cấp khái niệm “du lịch mềm” (soft tourism), được
nhiều quốc gia và hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn
chưa có một khái niệm thống nhất và đầy đủ về “du lịch bền vững”.
Năm 1992, Tổ chức du lịch thế giới (WTO – the World Tourism
Organisation) định nghĩa: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du
lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và người dân bản địa trong
khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát
triển du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài
nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người
trong khi vẫn duy trì được sự vẹn toàn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển
của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”.
Năm 1996, Diễn đàn lãnh đạo các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp lữ
hành – du lịch (WTTC – The World Travel and Tourism council) đưa ra khái niệm:
“Du lịch bền vững là sự đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch
mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”.
Du lịch bền vững đòi hỏi các cấp và các đơn vị kinh doanh du lịch quản lý tất
cả các dạng tài nguyên du lịch theo một cách nào đó để một mặt đáp ứng các nhu
cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá
trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và các hệ thống sinh thái đảm bảo sự
sống. (Theo Hens.L, 1998).
Ở Việt Nam, phát triển bền vững được thể hiện trong chỉ thị 36CT của bộ
Chính Trị, ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25 tháng 6 năm 1998: Mục tiêu
và các quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ
môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một bộ phận cấu thành không
thể tách rời của phát triển bền vững.
- Phát triển bền vững về môi trường: phải sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường
theo hướng tiết kiệm, bền vững, đảm bảo sự tái tạo và phục hồi của tài nguyên,
nâng cao chất lượng của tài nguyên và môi trường, thu hút cộng đồng và du khách
vào các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên.
- Phát triển bền vững về xã hội: thu hút cộng đồng tham gia vào các hoạt động du
lịch, tạo nhiều việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa
phương, cải thiện tính công bằng xã hội, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản
phẩm du lịch, đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.
1.2. Các yêu cầu để phát triển du lịch bền vững
1.2.1. Hệ sinh thái
Hệ sinh thái đề cập đến việc duy trì các hệ thống trợ giúp cuộc sống (đất,
nước, không khí, cây xanh), bảo vệ sự đa dạng và ổn định của các loài và hệ sinh
thái.
Tiêu chuẩn này đòi hỏi các hoạt động du lịch và cơ sở hạ tầng phải phù hợp
với các điều kiện của môi trường.
Vì điều kiện của môi trường thay đổi theo không gian, do vậy mà các loại
hình du lịch phải phù hợp với điều kiện môi trường của mỗi vùng.
1.2.2. Hiệu quả
Đánh giá các phương thức và biện pháp phát triển về mặt đo lường chi phí,
thời gian, tiền và lợi ích của xã hội và cá nhân.
Trong phát triển du lịch phải đạt được hiệu quả về lượng vốn và lao động bỏ
ra trong hoạt động kinh doanh.
1.2.3. Cân bằng
Đảm bảo sự phát triển bình đẳng và thừa nhận các nhu cầu giữa cá nhân và
hộ gia đình, các nhóm xã hội, giữa thế hệ hiện tại và tương lai, giữa con người và
thiên nhiên.
1.2.4. Bản sắc văn hóa
Đề cập đến việc bảo vệ và duy trì chất lượng cuộc sống, các truyền thống văn
cầu và nó cũng khiến cho việc kinh doanh phát triển lâu dài.
1.3.2. Hạn chế sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải
Sự tiêu thụ tài nguyên quá mức các nguồn tài nguyên sẽ dẫn tới sự hủy hoại
môi trường trên toàn cầu chúng ta và đi ngược lại với sự phát triển của du lịch. Kiểu
tiêu thụ quá mức này là một đặc trưng của các nước có nền công nghiệp phát triển
và đã lan rộng rất nhanh trên toàn cầu như là phong cách sống phương Tây. Các dự
án du lịch được triển khai mà không có các đánh giá tác động môi trường hoặc
không thực thi các kiến nghị về tác động môi trường của các dự án đó đã dẫn tới sự
tiêu dùng lãng phí, vô trách nhiệm đối với các tài nguyên môi trường. Chính điều
này đã gây ra sự ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và xáo trộn về mặt văn
hóa và xã hội.
Khai thác, sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát lượng chất thải
từ du lịch góp phần dẫn đến suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển
không bền vững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung.
Việc giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải ra ngoài môi trường sẽ tránh
được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại môi trường và góp phần nâng
cao chất lượng du lịch.
1.3.3. Phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, văn hóa, xã hội là thế mạnh của mỗi quốc gia
nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách về các sản phẩm du lịch. Đa dạng
cũng là sự sống còn khi tránh được việc quá phụ thuộc vào một hay một vài nguồn
lực sinh tồn.
Phát triển bền vững cho chủ trương ủng hộ việc để lại cho thế hệ mai sau sự
đa dạng cả về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn không ít hơn những gì thế hệ
trước được thừa hưởng. Chiến lược bảo tồn thế giới nhấn mạnh sự cần thiết bảo tồn
đa dạng nguồn gen, từ đó, mục đích đã được mở rộng, trong đó có sự đa dạng cơ
cấu chính trị, kinh tế - xã hội và các nền văn hóa.
Việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa và xã hội là
và hợp nhất các giá trị môi trường trong các quyết định đầu tư.
Ngành du lịch hỗ trợ được các hoạt động kinh tế địa phương và có tính đến
các giá trị và chi phí về mặt môi trường thì mới bảo vệ được nền kinh tế địa phương
và tránh được sự tổn hại về môi trường.
1.3.6. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt
động du lịch
Sự tham gia của cộng đồng địa phương là rất cần thiết cho ngành du lịch.
Người dân địa phương với nền văn hóa bản địa, môi trường, lối sống và truyền
thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch đến với một điểm
du lịch, đồng thời cũng hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu sống của người dân địa phương,
bảo vệ môi trường thiên nhiên và văn hóa của họ; và sự tham gia của cộng đồng địa
phương cũng làm phong phú thêm các loại hình và sản phẩm du lịch.
Hơn nữa, khi cộng đồng địa phương được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch
thì sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng sở
tại là chủ nhân và là người có trách nhiệm chính với tài nguyên và môi trường khu
vực. Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch. Sự tham gia của
cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch được thực hiện thông qua việc khuyến
khích họ sử dụng các phương tiện, các cơ sở vật chất của mình để phục vụ khách du