Phương hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch biển Hải Phòng - Pdf 16

Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
LỜI MỞ ĐẦU
Hàng năm ngành du lịch đã đem về cho mỗi quốc gia một số tiền khổng lồ.
Thực tế cho thấy khi Chính phủ chi ra một đồng để đầu tư vào du lịch sẽ thu về
hàng ngàn đồng lợi nhuận, bởi lẽ du lịch là ngành tổng hợp mang tính chất chính
trị, kinh tế, văn hoá xã hội. Đầu tư vào du lịch là đã mở ra sự phát triển mới, Nhà
nước quản lý về du lịch và chỉ đạo các chiến lược kinh doanh du lịch đi đôi với việc
hợp tác về du lịch. Du lịch là hiện tượng kinh tế xã hội thu hút hàng triệu người
trên thế giới. Bản chất kinh tế của nó là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hoá phục
vụ thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của du khách. Bên cạnh sự phát triển rất
nhanh của ngành công nghiệp không khói này thì chúng ta đã và đang phải đối mặt
với tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch, các tệ nạn xã hội liên quan
đến du lịch ngày càng gia tăng. Điều đó đã trở thành mối lo ngại lớn của các nhà
chức trách, của mọi người dân trên thế giới, thúc dục những người làm du lịch phải
tìm hướng đi mới cho mình đó là phát triển du lịch một cách bền vững.
Cùng với kinh tế cảng biển, du lịch đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế
của thành phố Hải Phòng và trong đó không thể không kể đến du lịch biển. Dọc
theo bờ biển Hải Phòng chúng ta thấy rất nhiều bãi cát đẹp là hạt nhân tiền đề hình
thành các khu du lịch biển. Ngoài khơi là một dẫy đảo như một chuỗi ngọc viền
quanh bờ biển. Trong lòng biển là thế giới san hô, bào ngư, và nhiều loại hải sản
khác vừa đáp ứng cho du lịch lặn biển vừa là những món ăn đặc sản phục vụ du
khách. Sự đa dạng của địa hình ven biển và hải đảo đã tạo ra những cảnh quan
thiên nhiên đặc sắc với những vũng, vịnh, đầm phá, hang động nổi tiếng. Dọc theo
dải ven biển cũng như các đảo ven bờ tập trung khu bảo tồn thiên nhiên, rừng quốc
gia Cát Bà có tính đa dạng sinh học cao, nhiều di tích văn hoá lịch sử và các lễ hội
đặc biệt có giá trị to lớn đối với phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh
thái, du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng.... Chính những điều kiện đó mà du lịch
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
biển Hải Phòng trong thời gian vừa qua là địa chỉ quen thuộc của du khách trong

về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa.
Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi
quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, chính trị, văn hoá, địa lý.... riêng để hoạch
định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
1.1.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững.
Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của
nhiều nước trên thế giới đã đạt được tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu có những
lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tương lai con
người và vấn đề phát triển bền vững được đặt ra. Theo thời gian, quan niệm về phát
triển bền vững ngày càng được hoàn thiện. Năm 1987, vấn đề phát triển bền vững
được Ngân hàng thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó phát triển bền vững là
"...Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng
đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai"*. Quan niệm đầu tiên về phát triển bền
vững của WB chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài
nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống của con người trong quá trình phát
triển của con người chưa thấy được vấn đề xã hội được đề cập đến. Ngày nay, quan
điểm về phát triển bền vững được đề cập một cách đầy đủ hơn, bên cạnh yếu tố môi
trường và tài nguyên thiên nhiên thì yếu tố môi trường xã hội được đặt ra với một ý
nghĩa cũng vô cùng quan trọng trong vấn đề phát triển bền vững. Hội nghị thượng
đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) năm
2002 đã xác định : Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt
* Nguồn: Giáo trình kinh tế phát triển. [23]
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm : tăng trưởng về mặt kinh tế,
cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống**. Cùng với đó tiêu chí để
đánh giá sự phát triển bền vững là sự bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã
hội và bền vững về mặt môi trường. Mối quan hệ đó được thể hiên qua hình vẽ sau:
Hình 1.1 : Mối quan hệ trong phát triển bền vững.

xã hội. Còn tính cân đối được thể hiện ở việc cân đối giữa các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội - môi trường.
1.1.1.2. Các thước đo về phát triển bền vững.
Cũng như tăng trưởn kinh tế, phát triển bền vững có thước đo riêng và rất đặc
trưng. Tuy nhiên hệ thống thước đo này rất phức tạp và nhiều thước đo rất khó xác
định vì chúng phải đánh giá trên cả 3 phương diện kinh tế- xã hội- môi trường.
Về mặt kinh tế, tính bền vững thể hiện ở các chỉ số như: tổng sản phẩm trong
nước (GDP), tổng sản phẩm quốc gia (GNP), cơ cấu GDP và GNP, GDP/người,
GNP/người.... Theo tiêu chuẩn quốc tế thì chỉ tiêu GDP/người phải ở mức 5% mới
được coi là phát triển bền vững và cơ cấu GDP mạnh là cơ cấu có tỷ lệ đóng góp
của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu phải cao hơn tỷ lệ đóng góp của nông
nghiệp trong cơ cấu.
Về mặt xã hội, có các chỉ tiêu đánh giá như: chỉ số phát triển con người
(HDI), hệ số bất bình đẳng thu nhập, giáo dục, y tế, văn hoá...HDI là chỉ tiêu đánh
giá tổng hợp sự phát triển của con người vì vậy muốn phát triển bền vững thì yêu
cầu đặt ra đối với chỉ tiêu này là phải tăng trưởng và đạt đến mức trung bình. Chỉ số
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là một trong số các chỉ tiêu quan trọng
trong phát triển bền vững vì bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là nguyên
nhân gây ra những xung đột, bất ổn trong xã hội.
Về mặt môi trường các chỉ tiêu đánh giá như : mức độ ô nhiêm (không khí,
nguồn nước...), mức độ che phủ rừng.... là những chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá
tính bền vững của môi trường. Môi trường bền vững là môi trương luôn thay đổi
nhưng vẫn làm tròn ba chức năng : là không gian sinh tồn ; là nơi cung cấp nguồn
tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản suất của con người ; là nơi
chứa đựng, xử lý chất thải.
Ngoài ra còn phải quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới; các chỉ tiêu về giáo
dục: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi, tỷ lệ học trung học, đại học,... các

tăng của đời sống con người, trước hết cần phải có quan niệm đúng đắn về du lịch.
- Quan niệm khoa học về du lịch.
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch
họp tai Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa như sau về du lịch : Du lịch là
tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các
cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường
xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không
phải là nơi làm việc của họ*. Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã
được Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du
lịch thế giới thông qua.
Trong định nghĩa này, các tác giả đã gộp hai phạm trù hoạt động du khách và
hoạt động kinh tế thành một hệ thống nhân- quả.
Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt
Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các
* Nguồn: Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành.
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dưỡng sức tham gia
tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích : nghỉ ngơi, giải trí, xem danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật, v.v... Theo nghĩa thứ
hai, du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều
mặt : nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ
đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu
nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu
quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.
Chúng ta biết rằng, trong thực tế cuộc sống, do sự phát triển của xã hội và
nhận thức, các từ ngữ thường có khá nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngược nhau. Như
vậy, cố gắng giải thích đơn vị từ đa nghĩa bằng cách gộp các nội dung khác nhau
vào một định nghĩa sẽ làm cho khái niệm trở nên khó hiểu và không rõ ràng. Dựa

Những người mà chuyến đi của họ có mục đích chính là nâng cao hiểu biết tại nơi
đến về các điều kiện, tài nguyên tự nhiên, kinh tế, văn hoá được gọi là du khách
thuần tuý. Ngược lại có những người thực hiện chuyến đi vì một mục đích khác
như công tác, tìm kiếm cơ hội làm ăn, hội họp... Trên đường đi hay tại nơi đến,
những người này sắp xếp được thời gian cho việc thăm quan, nghỉ ngơi. Khi đó họ
mới được coi là du khách. Để nói lên sự kết hợp đó, chuyến đi của họ được gọi là
du lịch công vụ, du lịch thể thao du lịch tôn giáo...
Do du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một lĩnh vực kinh tế
với đối tượng phục vụ là người đi du lịch nên việc thống nhấn khái niệm du khách
là một nhu cầu tất yếu. Đối với doanh nghiệp du lịch, thông qua số lượng du khách
có thể nắm được doanh thu. Sự chuẩn hoá khái niệm du khách sẽ giúp các nhà
thống kê thống nhất được tiêu chí phân định giữa khách tham quan và du khách,
giúp cho các cơ quan quản lý xác định được nghĩa vụ, đối với nhà nước của các
doanh nghiệp du lịch. Việc thống nhất và chuẩn hoá định nghĩa du khách còn có ý
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
nghĩa làm cho du lịch Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào hoạt động thống kê du
lịch khu vực và quốc tế.
1.1.2.2. Quan niệm về phát triển du lịch bền vững.
Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến , nâng cấp và
hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi người quan
tâm trong những năm gần đây. Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) cho
rằng : Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng
du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch
tương lai. Khái niệm này chỉ ra rằng mội hoạt động du lịch ở hiện tại không được
xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì
hoạt động ấy một cách liên tục và lâu dài.
Theo định nghĩa mới của tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị
về môi trười và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio năm 1992: "Du lịch

Nguyên tắc 2: Giảm thiểu tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất
thải. Thực hiện nguyên tắc này nhằm giảm chi phí khôi phục tài nguyên và giảm
chi phí cho việc xử lý ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Nguyên tắc 3: Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể
kinh tế- xã hội.
Nguyên tắc 4: Duy trì tính đa dạng tự nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn
hoá. Việc duy trì tính đa dạng sẽ tạo cho sức bật cho ngành du lịch giúp du lịch
phát triển một cách bền vững.
Nguyên tắc 5: Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế địa phương phát triển. Du
lịch được coi là một ngành tổng hợp vì vậy sự phát triển của du lịch có liên quan
mật thiết với các ngành kinh tế khác trong đó có cả kinh tế địa phương vì vậy muốn
phát triển bền vững du lịch thì du lịch phải có vai trò hỗ trợ, dẫn dắt kinh tế địa
phương phát triển.
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
Nguyên tắc 6: Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương. Sự tham gia
của cộng đồng địa phương không chỉ đem lợi nhuận cho cộng đồng mà còn làm
tăng tính trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát triển du lịch và bảo vệ môi
trường.
Nguyên tắc 7: Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng liên quan. Điều đó
giúp thống nhất trong quá trình phát triển du lịch giảm thiểu những mâu thuẫn của
mọi nguời, đi đến tính thống nhất cao về quan điểm phát triển giúp phát triển du
lịch được lâu dài.
Nguyên tắc 8: Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực. Như chúng ta đã
biết nguồn nhân lực phục vụ du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nguồn nhân
lực có chất lượng sẽ giúp cho du lịch phát triển đa dạng và bền vững hơn.
Nguyên tắc 9: tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm (marketing du lịch).
Đó là việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho du khách, quảng bá du lịch một
cách có trách nhiệm qua đó giúp du khách thoả mãn tối đa nhu cầu của mình.

khách du lịch đến với địa điểm du lịch nó bao gồm:
Mạng lưới giao thông vận tải: là nhân tố quyết định đến việc phát triển du
lịch cũng như khai thác những tiềm năng du lịch của địa phương. Mạng lưới giao
thông thuận lợi mới thu hút được du khách đến với địa điểm du lịch.
Mạng lưới thông tin liên lạc và internet: Giúp trao đổi thông tin, tìm kiếm dễ
dàng các điểm du lịch mà mình thích từ đó lên kế hoạch cho chuyến đi giúp chuyến
đi được thuận lợi. Mặt khác nhờ có mạng lưới thông tin và internet sẽ giúp liên kết
trong các doanh nghiệp du lịch với nhau, trao đổi kinh nghiệm và cùng nhau phát
triển.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Bao gồm trang thiết bị, phương tiện,
cơ sở cần thiết để đón tiếp khách du lịch, nơi lưu trú cho khách du lịch, khu vui
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
13
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
chơi giải trí..là yếu tố quan trọng để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi cũng như nhu cầu
giải trí của du khách từ đó thu hút được nhiều khách du lịch hơn.
c) Đào tạo lao động chuyên ngành du lịch (yếu tố con người).
Là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của du lịch. Chất lượng công tác
kinh doanh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ việc sử dụng lao động có chất lượng hay
không bởi vì lao động làm việc trong du lịch không những thực hiện công tác
chuyên môn về du lịch của mình hộ còn thực hiện nhiêm vụ quan trọng là trao đổi
văn hoá, giao tiếp với du khách tạo cho du khách có cảm giác hứng khởi trong lúc
du lịch.
d) Yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch.
Các yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch bao gồm mức thu nhập, trình
độ văn hoá, thời gian rỗi.
Thứ nhất, trình độ văn hoá: khi nhận thức của con người càng cao thì việc họ
thích thú với khám phá thế giới, thiên nhiên, vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi ngày
càng tăng về nhu cầu, động cơ đi du lịch tăng lên. Theo một số cuộc điều tra cho
thấy: nếu người chủ gia đình có trình độ văn hoá ở mức trung học thì tỷ lệ đi du

lịch đều có thể phát triển với quy mô lớn, do đó đã trở nên không bền vững (ví du:
số lượng đi du lịch câu cá, đi săn bắt quá đông ở một khu du lịch). Đa số các mô
hình du lịch có thể làm cho bền vững hơn thông qua những thay đổi về định tính
hoặc định lượng.
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
15
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
Bảng1.2: Loại hình du lịch phân loại theo khả năng tương thích với
khái niệm du lịch bền vững.
Không tương thích Tương thích cao
* Du lịch bờ biển có thị trường lớn * Du lịch sinh thái
* Kỳ nghỉ có tác động tiêu cực với môi
trường tự nhiên
* Du lịch văn hóa, du lịch lịch sử thu hút
khách ham tìm hiểu của 1 khu vực
* Du lịch tình dục * Điểm du lịch đô thị có sự dụng những
khu vực trống
* Du lịch săn bắn và câu cá ở nơi quản
lý yếu
* Du lịch nông thôn quy mô nhỏ
* Du lịch ở những nơi có môi trường
nhạy cảm như rừng nhiệt đới, nam cực,
bắc cực...
* Kỳ nghỉ bảo tồn, trong đó du khách
thực hiện công tác bảo tồn trong kỳ nghỉ
của mình
Nguồn: Du lịch bền vững.
Muốn củng cố khái niệm du lịch bền vững, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên
cứu tác động của du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố
được coi là không bền vững có một số cuộc nghiên cứu đã chỉ ra tác động của du

lãng phí
Sử dụng vừa phải tài nguyên nước, năng
lượng
Không tái sịnh Tăng cường tài sinh
Không chú ý tới lãng phí sản xuất Giảm thiểu lãng phí
Thực phẩm nhập khẩu Thực phẩm sản xuất tại địa phương
Tiền bất hợp pháp, không khai báo rõ
ràng
Tiền hợp pháp
Nguồn nhân lực chất lượng kém Nguồn nhân lực có chất lượng
Khách du lịch:
Số lượng nhiều Số lượng ít
Không có nhận thức cụ thể Có thông tin cần thiết bất kỳ lúc nào
Không học tiếng địa phương Học tiến địa phương
Bị động và bị thuyết phục, bảo thủ Chủ động và có nhu cầu
Không ý tứ và kỹ lưỡng Thông cảm và lịch thiệp
Tìm kiếm du lịch tình dục Không tham gia vào du lịch tình dục
Lẵng lẽ, kỳ quặc Lặng lẽ, riêng biệt
Không trở lại tham quan Trở lại tham quan
Nguồn: Du lịch bền vững.
Tùy thuộc vào đặc điểm của khu du lịch để sử dụng các yếu tố để đánh giá
tính bền vững của phát triển du lịch.
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
1.2. Đánh giá tính bền vững của du lịch dựa bào bộ chỉ tiêu môi trường của tổ
chức du lịch thế giới UNWTO.
Chỉ tiêu môi trường là những thông tin tổng hợp giúp đánh giá các hoạt động
bền vững của du lịch. Để đánh giá mức độ bền vững của điểm du lịch, chúng ta
thường dùng các chỉ tiêu đơn và bộ chỉ tiêu đơn. Tổ chức du lịch thế giới WTO xây

18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
phương phiếu thăm dò ý kiến)
Nguồn: Du lịch bền vững.
Ngoài các chỉ tiêu chung cho ngành du lịch, để đánh giá tính bền vững của
điểm du lịch cụ thể thì UNWTO đã đưa ra một số chỉ tiêu đặc thù.
Bảng 1.4 : Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch
STT Hệ sinh thái Các chỉ tiêu đặc thù
1 Các vùng bờ biển Độ suy thoái (% bãi biển suy thoái, bị xói mòn)
Cường độ sử dụng (số người/1m bãi biển)
Hệ động vật bờ biển/động vật dưới biển ( số loài chủ yếu
nhìn thấy)
Chất lượng nước (rác, phân và lượng kim loại nặng)
2 Các vùng núi Độ xói mòn (% diện tích bề mặt bị xói mòn)
Đa dang sinh học (số lượng các loài chủ yếu).
Lối vào các điểm chủ yếu (số giờ chờ đợi)
3 Các điểm văn
hóa (các cộng
đồng truyền
thống)
Áp lực xã hội tiềm tàng (tỷ số thu nhập bình quân từ du
lịch/số dân địa phương)
Tính mùa vụ (% số cửa hàng mở cửa quanh năm/ tổng số
cửa hàng)
Xung đột (số vụ việc có báo cáo giữa dân điạ phương và
du khách)
4 Đảo nhỏ Lượng tiền tệ rò rỉ (% thu lỗ từ thu nhập trong ngành du
lịch)
Quyền sở hữu (% quyền sỏ hữu nước ngoài hoặc không
thuộc địa phương đối với các cơ sở du lịch)

sinh thát tự nhiên
- % chất thải chưa được thu gom và xủ lý
- Lượng điện tiêu thụ/du khách/ngày( tính theo
mùa
- Lượng nước tiêu thụ/du khách/ngày( tính theo
mùa
- % diện tích cảnh quan bị xuống cấp do xây
dựng/tổng diện tích sử dụng do du lịch
- % số công trình kiến trúc không phù hợp với
kiến trúc bản địa (hoặc cảnh quan)/tổng số
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
công trình
- Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật
quý hiếm (phổ biến-hiếm hoi-không có)
- % khả năng vận tải sạch/khả năng vận tải cơ
giới (tính theo trọng tải)
3 Bộ chỉ tiêu đánh giá
tác động lên phân
hệ kinh tế
-% vốn đầu tư từ du lịch cho các phúc lợi xã hội của
địa phương so với tổng giá trị đầu tư từ các nguồn
khác
- % số chỗ làm việc trong ngành du lịch dành cho
người địa phương so với tổng số lao động địa phương
- % GDP của kinh tế địa phương bị thiệt hại do du
lịch gây ra hoặc có lợi do du lịch mang lại
- % giá trị chi phí vật liệu xây dựng địa phương/tổng
chỉ phí vật liệu xây dựng

nông nghiệp, ngân hàng...Vai trò của du lịch còn thể hiện ở chỗ, giúp cho du khách
biết được tiềm năng kinh tế của các nước, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển các
quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước.
Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, thì phát triển du lịch bền vững còn góp phần
giới thiệu truyền bá nét văn hoá dân tộc cho bạn bè trên thế giới.Phát triển du lịch
bền vững ngày càng trở nên quan trọng hơn trong xã hội hiện nay :
Du lịch phát triển bền vững sẽ mang tính chất giáo dục cao về ý thức bảo vệ
môi trường và nguồn tài nguồn tự nhiên cho khách du lịch và cả cộng địa phương.
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
22
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
Du lịch bền vững là phương tiện cải thiện và nâng cao sức khỏe, giáo dục, và
phúc lợi cho xã hội. Nếu không có phát triển bền vững thì tương lai của các nguồn
tài nguyên sẽ bị cạn kiệt.
Giúp giảm thiểu đói nghèo và ngăn ngừa vấn đề suy thoái môi trường trong
hiện tại và tương lai.
Phát triển du lịch bền vững là biện pháp thiết thực nhất để cứu lấy môi
trường thiên nhiên và là biện pháp gián tiếp cứu lấy con người.
Phát triển du lịch bền vững góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch mới có sức
thu hút cao, đem lại cho du khách những chuyến đi với chất lượng và hiệu quả cao.
Là nhân tố quan trọng trong quan hệ hữu nghị giữa các nước trên thế giới và
tạo điều kiện trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Có thể nói rằng, phát triển du lịch bền vững là việc cần làm và có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế góp phần quan trọng trong việc tăng tốc của nền kinh tế đất nước.
1.4. Kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số nơi và bài học kinh nghiệm cho
phát triển bền vững du lịch biển Hải Phòng.
1.4.1. Một số điển hình về phát triển du lịch không bền vững.
1.4.1.1. Phát triển du lịch ở Pattaya (Thái Lan).
Trong gần ba thập kỷ từ năm 1970, Pattaya đã đầu tư xây dựng từ hơn 400
lên đến gần 25.000 phòng khách sạn. Với việc ồ ạt phát triển các cơ sở lưu trú trong

một số ít du khách Châu Âu đến đây vì lý do chữa bệnh. Từ năm 1900 với 8.000 du
khách thì đến năm 1975 thì quần đảo Canary đã đón được 2 triệu khách và con số
đó tiếp tục tăng nhanh, vào năm 1990 là 7,4 triệu khách và 13 triệu khách vào năm
1999. Ngành du lịch dịch vụ chiếm gần 80% tổng thu nhập của nền kinh tế. Điều
đó cho thấy, nền kinh tế ở đây phụ thuộc vào du lịch quá nhiều.
Sự phát triển nhanh cua du lịch ở Canary nhưng không có những quy hoạch
phát triển cở sở hạ tầng du lịch một cách hợp lý đã dẫn đến việc quá tải du lịch.
Trần Hùng Lớp: Kinh tế phát triển 46
24
Luận văn tốt nghiệp GVHD: THS. Bùi Đức Tuân
Quá trình xây dựng bất hợp lý đó đã kéo theo sự mất kiểm soát trong phân bổ
nguồn nước sinh hoạt, phân bổ công việc của các nhân tố khác, tắc nghẽn giao
thông.... Sự gia tăng xây dựng không có quy hoạch hợp lý ở Canary đã tạo ra áp lực
về đất đai. Cùng với đó là sự đầu tư ồ ạt của người nước ngoài vào nơi đây đã tạo
ra môi trường không tốt cho dân cư địa phương và cư dân địa phương đang dần dần
trở thành những người thiểu số.
Sự phát triển quá nóng ở quần đảo Canary đã cho thấy tính chất không bền
vững trong quá phát triển du lịch. Cùng với lượng du khách đông là việc thải ra
hàng triệu tấn rác thải, ô nhiễm không khí do quá nhiều các phương tiện chuyên
trở. Mức độ khai thác du lịch bất hợp pháp ngày càng gia tăng do người dân chạy
theo lợi nhuận đã làm cho cảnh quan nơi đây xuống cấp nghiêm trọng. Quả thật
Canary đang trở thành một vấn đề khó khăn cần phải giải quyết. Muốn phát triển
du lịch một cách lâu dài ở đây thì các nhà chức trách và các ban ngành phải cùng
tham gia giải quyết.
1.4.2. Một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững.
1.4.2.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch ở tỉnh Vân Nam - Trung Quốc.
Vân Nam là một tỉnh của Trung Quốc với địa hình phần lớn là đồi núi (chiếm
80% diện tích), đất dùng cho nông nghiệp rất hạn chế vì vậy chính quyền cần có
chính sách phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch dân cư, sử dụng đất đai một cách
hợp lý. Phát triển du lịch ở đây được đặt dưới sự quản lý tốt của nhà nước bằng các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status