Biện pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng_2 - Pdf 49

Header Page 1 of 85.

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng giao lưu mối quan hệ thương mại
với các nước trên thế giới đã đem lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội và thách
thức trong quá trình tăng trưởng và phát triển. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam
không đứng ngoài dòng chảy đó. Để có thể tồn tại và phát triển trong môi
trường đầy cạnh tranh, áp lực với mức độ rủi ro ngày một tăng thì hệ thống
Ngân hàng Việt Nam phải đổi mới và cải cách toàn diện.
Trong các nghiệp vụ ngân hàng, tín dụng là một trong những nguồn vốn
quan trọng cho quá trình phát triển của ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế
nói chung, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Tín dụng
ngân hàng tăng trưởng lành mạnh là tiền đề quan trọng giúp cho các doanh
nghiệp mở rộng sản xuất, gia tăng sản lượng, từ đó thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế
tăng trưởng. Và ngược lại, khi tín dụng bị suy giảm và tỷ lệ nợ xấu có xu hướng
gia tăng, cơ cấu tín dụng không phù hợp sẽ là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế
đang rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí là suy thoái hoặc khủng hoảng.
Khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng trong nước không
chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với rất nhiều ngân hàng nước
ngoài có ưu thế hơn hẳn về phương diện vốn và công nghệ đòi hỏi các ngân
hàng trong nước phải có những chiến lược mang ý nghĩa sống còn. Rủi ro là
không thể tránh khỏi và là điều tất yếu trong kinh doanh nhưng làm thế nào để
có thể giảm thiểu rủi ro đến mức tối đa mà vẫn đảm bảo mức sinh lời cao cho
các ngân hàng là một bài toán khó của các nhà quản trị ngân hàng. Công tác
quản trị rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng luôn là một trong những vấn đề thời sự
của các cấp quản lý ngân hàng.
Do vậy, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp hoàn thiện công
tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
1
Footer Page -Footer Page -Footer Page 1 of 85.

- Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi to tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng, tìm ra những
mặt hạn chế, khó khăn ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân
2
Footer Page -Footer Page -Footer Page 2 of 85.


Header Page 3 of 85.

hàng này và đề xuất một số biện pháp để hoàn thiện công tác rủi ro tín dụng của
ngân hàng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của Luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng từ năm 2010 - 2014.
Chương 3: Biện pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hải Phòng.

3
Footer Page -Footer Page -Footer Page 3 of 85.


Header Page 4 of 85.

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN
TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1.

điện tử, kết nối các quỹ).
- Vai trò người bảo lãnh: cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất
khả năng thanh toán.
- Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát
hành hoặc chuộc lại chứng khoán (thường được thực hiện tại Phòng ủy thác).
- Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện các chính sách kinh tế của Chính
phủ, giúp điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội. [1, tr8]
1.1.3. Khái niệm về tín dụng và rủi ro tín trong ngân hàng thƣơng mại
1.1.3.1. Khái niệm về tín dụng
 Khái niệm
“Tín dụng” là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối
tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay
trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do đó, tín dụng phản
ánh mối quan hệ giữa hai bên: một bên là người cho vay, và một bên là người đi
vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho
vay, lãi suất phải trả,... [9, tr20]
Theo Điều 20 của Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 của Việt
Nam: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động để cấp tín dụng” và “Cấp tín dụng là việc Tổ chức tín dụng
thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng
các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các
nghiệp vụ khác”. [3]
 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế
- Tín dụng ngân hàng là một trong những phương tiện thúc đẩy sự phát triển
và tăng trưởng của nền kinh tế. Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình
tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư vào phát triển kinh tế.
- Tín dụng ngân hàng được coi là một trong những công cụ của chính sách
tiền tệ quốc gia.
Thông qua các ngân hàng thương mại, Ngân hàng trung ương sử dụng các
6

ngân hàng”. [12]
b. Các loại rủi ro tín dụng
 Rủi ro mất vốn
Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng ngân hàng
7
Footer Page -Footer Page -Footer Page 7 of 85.


Header Page 8 of 85.

chứa đựng nội dung ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ
sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ ngân
hàng. Nội dung “ứng trước” của tín dụng ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro
càng lớn. Ngân hàng thương mại cho vay bằng tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho
vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền
thì rủi ro ít hơn tài sản thế chấp là bất động sản. Trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài
sản kinh doanh. [2, tr33]
 Rủi ro sai hẹn
Là các khoản cho vay mà đến hạn ngân hàng vẫn chưa thu hồi được từ
khách hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin ngân hàng gia hạn
thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được ngân hàng chấp thuận,
họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế
hoạch kinh doanh của ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn. [3]
 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra những biến động của lãi suất dẫn đến
những tác động bất lợi cho các hoạt động kinh doanh và giảm thu nhập dự tính của
Ngân hàng.
 Rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra những biến động của tỷ giá hối đoái dẫn đến

cấp thêm vốn đầu tư cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy
mô sản xuất và lưu thông hàng hoá, tạo thêm nhiều sản phẩm mới cho xã hội, tạo
công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người sử dụng vốn vay. Đồng thời, tăng tích
luỹ cho nền kinh tế. Rủi ro tín dụng xảy ra nghĩa là khách hàng vay đã không thực
hiện được hiệu quả đầu tư như đã đặt ra khi nhận vốn tín dụng từ các ngân hàng
thương mại. Do đó làm thiệt hại rất lớn đến nền kinh tế. [11, tr4]
1.2. Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Các mặt hoạt động của ngân hàng thƣơng mại
Theo luật Ngân hàng Nhà nước, hoạt động ngân hàng bao gồm các hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng huy động tiền gửi và sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.
 Những nét đặc trưng về hoạt động của ngân hàng thương mại
- Quan hệ tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở hoàn trả
NHTM với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, hoạt động trên cơ
9
Footer Page -Footer Page -Footer Page 9 of 85.


Header Page 10 of 85.

sở đi vay để cho vay. NHTM là các doanh nghiệp vay mượn và huy động tiền tệ từ
các chủ thể đang nắm giữ tiền tạm thời chưa dùng đến rồi sử dụng tiền đó cho vay,
đầu tư vào những lĩnh vực nhà nước cho phép. Nói một cách khác, đây là việc
chuyển nhượng “quyền sử dụng các khoản tiền tệ”, chứ không phải là chuyển
nhượng quyền sở hữu. Vì vậy, các khoản tín dụng được ngân hàng cấp ra sẽ phải
được hoàn trả ngược trở lại cho ngân hàng sau một thời gian nhất định. [2, tr23]
- Lãi suất biểu hiện đặc trưng về hoạt động kinh doanh
Lãi suất biểu hiện giá cả khoản tiền mà ngân hàng thương mại đòi hỏi khi
tạm thời trao quyền sử dụng khoản tiền của mình cho người đi vay. Ngân hàng
thương mại kinh doanh rất nhiều mảng dịch vụ tuy nhiên công việc kinh doanh

chính từ những người cho vay đầu tiên; còn thông qua các kênh tín dụng, Ngân
hàng thương mại chuyển các luồng tài chính đến tay người đi vay sau cùng. Quá
trình nhận về và chuyển đi các luồng tài chính từ các định chế tài chính này sẽ tạo
lập các kênh dẫn rủi ro giữa các chủ thể kinh tế, các định chế tài chính với nhau và
nhận lấy rủi ro cho chính các ngân hàng thương mại. [2, tr24]
 Những mặt hoạt động chính của ngân hàng thương mại
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn cho
nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng
đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn
cung cấp những mặt hoạt động cơ bản như sau:
- Huy động vốn: là nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng. Vốn
được huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như:
+ Huy động tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi
khác.
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
+ Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ
chức tín dụng nước ngoài.
+ Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khoản 1
Điều 30 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
+ Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

11
Footer Page -Footer Page -Footer Page 11 of 85.


Header Page 12 of 85.


Footer Page -Footer Page -Footer Page 12 of 85.


Header Page 13 of 85.

 Các hình thức tín dụng ngân hàng
- Căn cứ vào mục đích của tín dụng gồm:
+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp;
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân;
+ Cho vay mua bán bất động sản;
+ Cho vay sản xuất nông nghiệp;
+ Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu…
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
+ Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục
đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu
động; [9, tr23]
+ Cho vay trung hạn: là hình thức cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định;
+ Cho vay dài hạn: là hình thức cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích
của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho đầu tư vào các dự án đầu tư.
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
+ Cho vay không có bảo đảm (Cho vay tín chấp): là hình thức cho vay
không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy
tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. [9, tr24]
+ Cho vay có bảo đảm là hình thức cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm
cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoă ̣c bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
- Căn cứ vào phương thức cho vay:
+ Cho vay theo món;
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng;
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi.

Trong quan hệ tín dụng, lãi suất là biểu hiện giá cả khoản tiền mà người cho
vay yêu cầu khi trao quyền sử dụng một khoản vốn của mình cho người đi vay
trong một thời gian nhất định. Đối với người đi vay, lãi suất chính là chi phí phải
trả khi sử dụng tạm thời vốn của người cho vay. Nói cách khác, lãi suất tín dụng là
giá cả của quyền sử dụng vốn vay. Đối với ngân hàng, lãi suất là một trong những
biến số được theo dõi chặt chẽ nhất, là công cụ điều tiết vĩ mô và là phương tiện
giúp các ngân hàng cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
 Quy trình tín dụng căn bản trong ngân hàng thương mại
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp tất cả các bước cụ thể từ khi tiếp nhận
14
Footer Page -Footer Page -Footer Page 14 of 85.


Header Page 15 of 85.

nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải
ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Bảng 1.1. Bảng tóm tắt quy trình tín dụng [9, tr25]
Các giai đoạn Nguồn và nơi cung
của quy trình
cấp thông tin
Lập hồ sơ đề
nghị cấp tín
dụng

Phân tích tín
dụng

Quyết định tín
dụng


- Quyết định cho vay - Thẩm định các
và các hợp đồng liên chứng từ theo các
quan.
điều kiện của hợp
- Các chứng từ làm đồng tín dụng trước
cơ sở giải ngân.
khi phát tiền vay
- Các thông tin từ nội
bộ ngân hàng
- Các báo cáo tài
chính theo định kỳ
của khách hàng.
- Các thông tin khác.

- Phân tích hoạt đ ộng
tài khoản , báo cáo tài
chính, kiểm tra mục
đích sử dụng vốn vay.
- Tài xét và xếp hạng
tín dụng.
- Thanh lý hợp đồng
tín dụng.

15
Footer Page -Footer Page -Footer Page 15 of 85.

Kết quả của mối
giai đoạn
- Hoàn thành bộ hồ sơ


Header Page 16 of 85.

1.2.3. Rủi ro tín dụng và nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng trong các ngân
hàng thƣơng mại
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động tín dụng. Khi tiếp nhận nhu cầu vay
vốn, ngân hàng sẽ cố gắng phân tích các yếu tố của người vay để đảm bảo giảm
thiểu tối đa rủi ro có thể xảy ra. Quyết định cấp tín dụng chỉ được đưa ra khi ngân
hàng thấy thật sự an toàn. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà khả năng trả nợ
của khách hàng có thể bị thay đổi. Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả
năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn
bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan.
Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương
mại:
 Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
- Thứ nhất: Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ về cả năng lực và phẩm chất đạo
đức. Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh
nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách
hàng thiếu chính xác. Khi họ xác định mức vay, lãi suất vay và kỳ hạn không hợp
lý sẽ dẫn đến nhiều rủi ro có thể xảy ra. Nếu cán bộ tín dụng không tuân thủ theo
đúng quy trình tín dụng như giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ hay không
kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra. [11, tr5]
- Thứ hai: Các cấp quản lý trong ngân hàng thiếu sát sao trong việc giám sát
quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
- Thứ ba: Ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư. Một công cụ
luôn được nhắc đến trong quản trị tín dụng ở tất cả các ngân hàng trên thế giới là
quản trị danh mục đầu tư. Quản trị danh mục làm cân đối và kiềm chế rủi ro bằng
cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng thị trường, khách
hàng, loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau.
- Thứ tư: Định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng. Về

thực tế thì không phải lúc nào các thông tin ngân hàng thu thập được đều đảm bảo
chính xác, đầy đủ và kịp thời.
- Thứ hai: Những biến động kinh tế không dự báo được. Khi nền kinh tế ổn
định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng gia tăng,
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, khi xuất hiện những
biến động kinh tế như lạm phát, giá tăng ở một số mặt hàng nào đó ảnh hưởng đến
một nhóm ngành thì rủi ro tín dụng với ngân hàng là rất lớn.
17
Footer Page -Footer Page -Footer Page 17 of 85.


Header Page 18 of 85.

1.2.4. Nội dung công tác quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng
thƣơng mại
1.2.4.1. Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro là một quá trình: nhận biết – đo lường – xây dựng, thực thi các
chính sách quản lý – giám sát và kiểm tra rủi ro nhằm đảm bảo rủi ro thấp ở mức có
thể chấp nhận được. [2, tr35]
Theo Uỷ ban Basel, tại Hiệp định mới về “tiêu chuẩn vốn quốc tế” (hay còn
gọi là Basel II) thì tại các ngân hàng thương mại, quản trị rủi ro tín dụng là một quá
trình:
- Nhận biết: Nhận dạng phát hiện loại hình rủi ro tín dụng và nguyên nhân dẫn
đến rủi ro.
- Đo lường: Nhằm định lượng/đo xác suất xảy ra rủi ro tín dụng và nếu xảy
ra thì tổn thất/tác hại là bao nhiêu?
- Chính sách quản lý: Chính sách nội bộ của các ngân hàng thương mại
nhằm quản lý hoạt động tín dụng sao cho rủi ro tín dụng thấp dưới mức đã xác
định/chấp nhận.
- Giám sát và kiểm tra: Giám sát và kiểm tra tính tuân thủ các chính sách


Các uỷ ban Tính tuân thủ
Tổ chức

Công nghệ

Hình 1.2. Mô hình Hệ thống Quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM [12]
(Nguồn: Tài liệu nội bộ của Vietcombank)
1.2.4.2. Mục đích quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng
- Bảo vệ ngân hàng trước những thất bại/tổn thất không dự tính trước.
- Bảo đảm mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu không vượt
quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng luôn được giám sát chặt chẽ với các tiêu chí đo lường, cảnh
báo theo các mức độ khác nhau để đảm bảo rằng rủi ro tín dụng được kiểm soát và
không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng.
- Bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của ngân hàng
Hiệu quả kinh doanh tín dụng của NHTM tuỳ thuộc vào năng lực quản trị
rủi ro tín dụng. Do đó, mục đích của quản trị rủi ro hoạt động kinh tín dụng của
NHTM phải đảm bảo rằng nếu có xảy ra rủi ro tín dụng cũng phải tuân thủ nguyên
tắc không được ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của ngân hàng.
1.2.4.3. Các nguyên tắc cơ bản trong quản trị rủi ro tín dụng
Chấp nhận rủi ro tín dụng một cách chủ động và có ý thức: do rủi ro tín
dụng tồn tại khách quan trong quá trình hoạt động kinh doanh tín dụng, nên phải
19
Footer Page -Footer Page -Footer Page 19 of 85.


Header Page 20 of 85.

chấp nhận một cách chủ động để có các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín

tiềm tàng

Hệ thống
tính điểm
T ín dụng

Rủi ro
Tín dụng

Trách
nhiệm cá
nhân đối với
Chất lượng
tín dụng

Xây dựng
Chính sách
& Quy trình
tín dụng

Giám sát
& Kiểm tra
T ín dụng

Bộ máy
thực hiện

Hình 1.3. Khung quản trị rủi ro tín dụng [12]
(Nguồn: Tài liệu nội bộ của Vietcombank)
Các thành phần trong Khung quản trị rủi ro tín dụng được mô tả như sau:

tín dụng: Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Uỷ ban quản lý rủi ro tín dụng, Hội
đồng tín dụng, Ban Giám đốc Chi nhánh, Trưởng phó phòng tín dụng. Các cá
nhân, bộ phận chủ chốt này phải chịu trách nhiệm chính yếu về quản trị rủi ro tín
dụng; các ngân hàng thương mại cũng phải quan tâm đến việc hoàn chỉnh mô hình
quản lý tập trung: tập trung thông tin, tập trung quy trình xử lý các hoạt động hỗ
trợ (back office).
- Trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng cho vay
Các ngân hàng thương mại đảm bảo lựa chọn cho được các nhân viên đủ
năng lực đảm đương công việc trong hoạt động kinh doanh tín dụng, nhưng một
yêu cầu ở đây là phải có cơ chế thù lao phù hợp. Mặt khác, ngân hàng thương mại
phải xây dựng và thực thi cơ chế bổ nhiệm và thưởng phạt hiệu quả, khuyến khích
nâng cao trách nhiệm cá nhân đối với chất lượng các khoản cấp tín dụng.
- Hệ thống tính điểm tín dụng
Hệ thống tính điểm tín dụng nhằm thống nhất đánh giá rủi ro tín dụng đối
với khách hàng theo một thang điểm chuẩn. Điểm tín dụng sẽ được tính toán tổng
hợp trên cơ sở thông tin tài chính và thông tin phi tài chính của khách hàng.
1.2.4.5. Các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng trong ngân hàng
thƣơng mại
- Các nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động tín dụng
Nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động tín dụng bao gồm thông tin lịch sử,
hiện tại và xu hướng phát triển của khách hàng (gồm cả thông tin tài chính và phi
22
Footer Page -Footer Page -Footer Page 22 of 85.


Header Page 23 of 85.

tài chính), thông tin thị trường, sản phẩm, môi trường đầu tư, môi trường luật pháp,
chính sách của Nhà nước, các thông tin thống kê về các chỉ tiêu trung bình ngành
phục vụ cho việc phân loại khách hàng vay…

Header Page 24 of 85.

dụng cho khách hàng.
- Nhận thức về sự cần thiết của quản lý rủi ro tín dụng
Mọi cá nhân từ cán bộ nghiệp vụ đến các cấp lãnh đạo đều phải quán triệt
quan điểm: rủi ro là yếu tố thường trực, tiềm ẩn, không thể loại bỏ hoàn toàn trong
hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro là một quá
trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của ngân hàng, là yêu cầu bắt buộc
để các tổ chức tài chính có thể đạt được mục tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại
và sự minh bạch về tài chính.
- Từ phía cơ quan quản lý
Ngân hàng là một ngành chịu rất nhiều hoạt động kiểm tra, giám sát từ cơ
quan chủ quản trực tiếp là Ngân hàng Nhà nước. Các văn bản, qui định của Ngân
hàng Nhà nước phù hợp, mang tính chuẩn mực sẽ là định hướng tốt cho các
NHTM trong việc triển khai các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng là một cơ quan quản lý ban hành các chính
sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách cho vay… Các chính sách này
cũng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2.5. Phƣơng hƣớng chung để giảm rủi ro tín dụng trong ngân hàng
thƣơng mại
Tại các ngân hàng thương mại của Việt Nam, công tác quản trị rủi ro vẫn
còn gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, việc xây dựng một chính sách quản lý tốt và
đưa ra những giải pháp hữu hiệu là thật sự cần thiết. Để đảm bảo việc đáp ứng nhu
cầu về vốn cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, duy trì và nâng cao hiệu
quả chất lượng trong hoạt động tín dụng và kiểm soát được rủi ro tín dụng thì các
giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng phải được thực hiện một cách đồng bộ.
1.2.5.1. Tầm vĩ mô
- Đảm bảo môi trường kinh tế chính trị xã hội ổn định
Hoạt động tín dụng chịu tác động không nhỏ của môi trường kinh tế chính
trị xã hội. Khi kinh tế Việt Nam hòa nhập vào nền kinh tế thế giới và nhiều ngân

hướng tới chiều sâu, giảm sự ảnh hưởng của yếu tố vốn bằng các chính sách như:
khuyến khích doanh nghiệp cải tiến công nghệ, trang bị công nghệ mới phù hợp
nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, nâng cao hiệu quả đầu tư công, giải quyết
tốt mối quan hệ tích lũy và tiêu dùng...
- Chính phủ cần xây dựng hành lang pháp lý, các chính sách kinh tế vĩ mô
và vi mô, hoạt động quản lý nhà nước cần phải hỗ trợ doanh nghiệp, tạo môi
25
Footer Page -Footer Page -Footer Page 25 of 85.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status