Quản lý đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ đại học vùng đồng bằng sông cửu long - Pdf 38

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ thúc đẩy mạnh quá
trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức phát triển thì
con người và tri thức trở thành nhân tố quyết định cho sự thành công và phát triển
của mỗi quốc gia. Cuộc chạy đua và cạnh tranh gay gắt để phát triển nhanh về kinh
tế - xã hội tất yếu dẫn đến nhu cầu nhân lực chất lượng cao làm nòng cốt cho sự
phát triển bền vững. Để có được nguồn nhân lực trên đòi hỏi hệ thống giáo dục và
đào tạo, đặc biệt là ở các cơ sở đào tạo (CSĐT) bậc đại học (ĐH) phải linh hoạt, đa
dạng trong tổ chức và triển khai đào tạo. Trong các hình thức đào tạo thì đào tạo từ
xa (ĐTTX) đã và đang phát triển trên thế giới, được đánh giá cao về tính hiệu quả,
sự linh hoạt cũng như khả thi khi áp dụng.
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế (HNQT), tất cả các vấn
đề về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và giáo dục đều đặt ra những mục tiêu,
yêu cầu cấp bách cần giải quyết nhưng nổi trội hơn cả vẫn là lĩnh vực giáo dục
và đào tạo nhân lực. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực”.
Trước nhu cầu bổ sung nhanh nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước
trong giai đoạn hiện nay, ĐTTX sẽ phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ, vì đây là hình
thức đào tạo có nhiều thuận lợi và phù hợp với bối cảnh, điều kiện của đất nước
cũng như điều kiện, nguyện vọng đại đa số nhân dân, đồng thời cũng phù hợp với
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là tạo cơ hội cho người dân tiếp
cận với tri thức, hỗ trợ học tập suốt đời. Nghị quyết số 29/NQ-TW về đổi mới cơ
bản và toàn diện giáo dục đào tạo định hướng: “Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo
dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi
trọng tự học và giáo dục từ xa” và Quyết định số 89/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ ban hành ngày 9/01/2013 về việc phê duyệt đề án Xây dựng xã hội học tập giai
đoạn 2012-2020 nhấn mạnh: “Đẩy mạnh các hoạt động ĐTTX ở các cơ sở giáo dục

Để thực hiện được tốt công tác trên, bên cạnh đội ngũ giảng viên (GV), cán bộ quản
lý (CBQL) thật sự năng động, tâm huyết, các CSĐT cần phải không ngừng nghiên
cứu, áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, phương pháp quản lý, dạy học mới,
để có thể triển khai, phổ biến, phát triển ĐTTX đến với người dân vùng ĐBSCL,
nơi còn nhiều khó khăn, cách trở về địa lý, giao thông và vốn vẫn còn xa lạ với hình
thức đào tạo này.
Trong vai trò đào tạo nhân lực trình độ cao cho vùng ĐBSCL, trước cũng
như hiện nay, không thể không nói đến vai trò của trường ĐH Cần Thơ - trường ĐH
lớn, trọng điểm và lâu đời của vùng, song song với hình thức đào tạo chính quy
(CQ), vừa làm vừa học (VLVH), trường ĐH Cần Thơ cùng với các trường ĐH
Đồng Tháp, trường ĐH Trà Vinh, đã sớm nghiên cứu triển khai ĐTTX cho toàn
vùng ĐBSCL. Quá trình triển khai, tổ chức quản lý ĐTTX thời gian qua, tập thể
lãnh đạo nhà trường cũng như bản thân người nghiên cứu đã có nhiều trăn trở trước
những khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong việc quản lý và phát triển ĐTTX.
Với mong muốn góp phần giải quyết những khó khăn, đồng thời nâng chất
lượng ĐTTX nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH của vùng
ĐBSCL, luận án đã chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý đào tạo từ xa đáp ứng nhu
cầu nhân lực trình độ đại học vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.


3
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, hình thành khung lý luận và từ thực tiễn ĐTTX, quản
lý ĐTTX để đề xuất các giải pháp quản lý ĐTTX nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực
trình độ ĐH phục vụ cho quá trình phát triển KT - XH, đẩy mạnh sự nghiệp CNH HĐH và HNQT của vùng ĐBSCL.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: ĐTTX đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý ĐTTX ở các trường ĐH đáp ứng nhu cầu nhân
lực trình độ ĐH vùng ĐBSCL.
4. Giả thuyết khoa học

4
đơn vị liên kết trong ĐTTX trình độ ĐH vùng ĐBSCL.
7. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp tiếp cận
Để triển khai nghiên cứu đề tài, Luận án sử dụng một số phương pháp tiếp
cận để nghiên cứu quản lý ĐTTX đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH như sau:
7.1.1. Tiếp cận theo các thành tố của quá trình ĐTTX
Trong luận án, xem xét ĐTTX theo mô hình CIPO của UNESCO gồm các
thành tố từ đầu vào, quá trình đào tạo, đặc biệt là đầu ra và yếu tố bối cảnh.
Hướng tiếp cận trên sẽ cho cái nhìn tổng quát nhưng cụ thể về các thành tố
trong ĐTTX, từ đó có hướng quản lý ĐTTX đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH.
Kiểm tra, giám sát được các thành tố trong quá trình triển khai đào tạo, mục tiêu
cuối cùng là đảm bảo được chất lượng đào tạo và đầu ra là “sản phẩm” – nhân lực
trình độ ĐH đáp ứng ”cầu” - nhu cầu các bên có liên quan, đặc biệt là CSSDNL.
7.1.2. Tiếp cận theo nhu cầu của các cơ sở sử dụng nhân lực (cung – cầu)
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, lợi thế cạnh tranh
giữa các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới không còn là nguồn tài
nguyên thiên nhiên mà kinh tế tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao đã dần
thay thế. Việc quản lý ĐTTX đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH cũng phải tuân
thủ theo các quy luật cơ bản của thị trường là quy luật cung - cầu, quy luật giá trị và
quy luật cạnh tranh.
Do đó, trong luận án cần đặt vấn đề nghiên cứu theo quan điểm tiếp cận thị
trường, đặc biệt thị trường lao động, về cung - cầu nhân lực trình độ ĐH, tức đầu ra
của quá trình đào tạo (outcome) phải đáp ứng cầu của CSSDNL cả về thời gian, số
lượng, chất lượng và cơ cấu lĩnh vực/ngành đào tạo.
ĐTTX đáp ứng nhu cầu cũng cần thực hiện tiếp nhận thông tin, tiến hành phân
tích, đánh giá các phản hồi từ phía người học, từ CSSDNL và từ thị trường lao động
để kịp thời điều chỉnh, bổ sung và đề ra những giải pháp thúc đẩy ĐTTX phát triển.
7.1.3. Tiếp cận theo các chức năng quản lý
Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc

trình ĐTTX; liên kết giữa CSĐT và CSSDNL, các bối cảnh tác động ĐTTX.
Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến đánh giá, nhận xét của các nhà khoa
học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý giáo dục có nhiều kinh nghiệm đặc biệt là
trong lĩnh vực ĐTTX, quản lý ĐTTX.
Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm: Đánh giá tính cấp thiết và khả thi
của các giải pháp đã đề xuất.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng một số phần mềm, công thức toán
thống kê để xử lý các số liệu thu được.
8. Những luận điểm bảo vệ
- ĐTTX trình độ đại học là hình thức đào tạo đóng vai trò quan trọng trong
việc đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học, của cộng đồng, của các đơn vị sử
dụng nhân lực; người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc; phù hợp với những đặc thù
về địa lý, kinh tế - xã hội của các địa phương, vùng miền. ĐTTX ở Việt Nam có
những điểm đặc thù và lợi thế so với hệ thống đào tạo chính quy.
- Tiếp cận theo các thành tố của quá trình ĐTTX, nhu cầu của các cơ sở sử
dụng nhân lực (tiếp cận cung – cầu) và theo các chức năng quản lý sẽ là các hướng
tiếp cận lý thuyết phù hợp, có tính bao quát trong nghiên cứu quản lý ĐTTX trong
điều kiện thực tiễn vùng ĐBSCL.


6
- Đào tạo từ xa và quản lý ĐTTX nhân lực trình độ đại học vùng ĐBSCL
thời gian gần đây đã có những bước phát triển, nhưng xét trong mối quan hệ với
nhu cầu xã hội, thỏa mãn nhu cầu nhân lực vùng ĐBSCL thì còn nhiều hạn chế, bất
cập cần được khắc phục.
- Để nâng cao chất lượng và hiệu quả ĐTTX nhân lực trình độ đại học,
đáp ứng nhu cầu của vùng ĐBSCL, đòi hỏi có các giải pháp động bộ, trước hết
là xây dựng quy hoạch theo nhu cầu xã hội và căn cứ năng lực thực tế của các
cơ sở ĐTTX, tiếp đến là quản lý thực hiện các nhân tố của quá trình đào tạo và
kiểm tra, giám sát chất lượng các khâu của quá trình đào tạo, trong đó thu hút

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TỪ XA ĐÁP ỨNG
NHU CẦU NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu về đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ đại
học
Lịch sử phát triển GD&ĐT đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐTTX.
Theo thời gian, từ lúc sơ khai của ĐTTX là đào tạo hàm thụ, thông qua việc giảng
dạy cho các giáo sĩ nhà thờ bằng cách gửi thư trao đổi vào những năm 50 - 60 sau
công nguyên theo lối gửi thư (correspondence study) nhưng chỉ giới hạn tổ chức
trong giáo hội. Mãi cho đến những năm 1840 tại Anh, Isaas Pitman đã tổ chức đào
tạo tốc ký theo hình thức hàm thụ, đây là lớp học hàm thụ đầu tiên được ghi nhận
trong lịch sử ĐTTX [90].
Năm 1922, ở NewZeland đã bắt đầu nghiên cứu và tổ chức loại trường hàm
thụ. Giai đoạn này, ĐTTX vẫn là dạng ĐTTX cấp thấp, người học chủ yếu vẫn
thông qua thư từ tài liệu, sách vở. Ở Canada cũng thế đến năm 1929, Vancouver
sáng lập trường hàm thụ nhưng chỉ triển khai ở bậc sơ trung học.
Tiếp đến, vào năm 1927 lần đầu tiên ở Anh đã thực hiện chương trình giảng
dạy đầu tiên trên đài BBC. GV đến đài phát thanh để ghi âm bài giảng và sau đó phát
sóng, đây vẫn chỉ là hình thức truyền thụ kiến thức chưa có tổ chức quản lý đào tạo.
Năm 1939, tại trường ĐH IOWA - Hoa Kỳ, người ta đã tổ chức giảng dạy có
sự hỗ trợ của các thiết bị kỹ thuật thông qua phương tiện điện thoại, kết hợp với
biên tập và phát tài liệu hướng dẫn tự học cho SV.
UNESCO từ những năm 1996 và 2009 [87] đã có những nhận định, đánh giá
về ĐTTX: “ĐTTX là hình thức giáo dục có triển vọng nhất của thế kỷ 21 và là hình
thức giáo dục sẽ ngự trị trong tương lai vì nó hỗ trợ tích cực xã hội học tập” vì “giáo
dục là một quyền con người cơ bản và là một giá trị nhân bản phổ quát và nó sẽ
được làm cho hiện hữu trong cả cuộc đời của mỗi cá nhân”. Thông báo do
UNESCO công bố tại Hội nghị thế giới về Giáo dục ĐH tại Paris năm 2009
(WCHE-2009) cũng đã khuyến cáo: “Cần hỗ trợ khai thác tích hợp đầy đủ hơn ICT
và thúc đẩy giáo dục từ xa nhằm đáp ứng nhu cầu tăng nhanh giáo dục ĐH”.

thành mũi nhọn trong chiến lược giáo dục của Việt Nam. Đồng thời cũng nêu
những kỹ năng cần thiết trong việc tự học, tự nghiên cứu, bên cạnh sự hướng dẫn
của giáo viên mà nói theo ngôn ngữ của các tác giả là “thầy ngoài”, đây là vấn đề
cốt lõi trong học tập theo ĐTTX, có tính đến đặc thù của Việt Nam.
Từ các công trình nghiên cứu kể trên, có thể khái quát rằng: ĐTTX đã và
đang được các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới quan tâm nghiên cứu
và vận dụng vào thực tiễn phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo, trong đào tạo
nhân lực, việc triển khai đào tạo trên ngày càng được tổ chức khá rộng rãi với mục
tiêu đáp ứng được các nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cho nhiều trình độ khác nhau.
Tuy nhiên, vấn đề ĐTTX đáp ứng nhu cầu trình độ ĐH trong điều kiện và yếu tố
vùng miền cụ thể đang là vấn đề bỏ ngõ. Trong đề tài này, tiếp tục được tác giả
nghiên cứu với nội dung ĐTTX đáp ứng nhu cầu trình độ ĐH vùng ĐBSCL.
1.1.2. Các nghiên cứu về quản lý đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực
trình độ đại học
Quản lý ĐTTX đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH, cũng đã được quan
tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước với một số công trình và tác


9
giả nghiên cứu tiêu biểu như:
Tác giả Keegan [7] khi nghiên cứu về quản lý ĐTTX đã đưa các đặc điểm
trong cách thức quản lý của ĐTTX được khái quát như sau: GV và SV ít gặp nhau
trong quá trình học tập, điều này giúp phân biệt ĐTTX với đào tạo truyền thống.
Ảnh hưởng của việc tổ chức đào tạo trong việc lập kế hoạch, chuẩn bị tài liệu học
tập và hỗ trợ cho SV trong học tập, tiếp thu kiến thức. Sử dụng phương tiện kỹ
thuật, in ấn, hệ thống đài phát thanh, truyền hình, video hoặc máy vi tính để liên kết
GV với SV và nhằm truyền đạt các nội dung giảng dạy. Có nội dung liên hệ hai
chiều để SV tiếp nhận được những điều bổ ích từ cuộc đàm thoại, trao đổi. Điều này
phân biệt ĐTTX với việc sử dụng công nghệ vào mục đích khác trong giáo dục đào tạo. Sự phân tán thường xuyên của lớp học trong một quá trình học tập nhằm để
cho mỗi cá nhân có điều kiện và thời gian tự học.

công nghệ giấy in; các công nghệ âm thanh/lời thoại...
Tác giả Trình Thanh Hà (2011) [30] Luận án tiến sĩ Cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc bảo đảm chất lượng đào tạo ĐH từ xa ở Việt Nam, tác giả đã góp phần
làm rõ cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng đào tạo ĐH từ xa, các yếu tố cần quan
tâm, các thành tố đảm bảo tính hệ thống, đảm bảo chất lượng cho đào tạo ĐH từ xa.
Trên cơ sở các lý luận đã được nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp cần thiết
nhằm bảo đảm chất lượng ĐTTX theo hướng đổi mới và đáp ứng nhu cầu của xã
hội trong bối cảnh của Việt Nam.
Tác giả Đặng Văn Dân (2014) [21] Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cầu
ĐTTX ở Việt Nam, tác giả đã phân tích và làm rõ các nhân tố tác động đến cầu
ĐTTX. Tác giả còn đề cập đến các kinh nghiệm tổ chức và quản lý ĐTTX tại các
nước ở Đông Nam Á và khu vực, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam trong việc thúc đẩy và phát triển ĐTTX tại Việt Nam. Ngoài ra, tác giả đánh
giá thực trạng và nêu rõ các mặt yếu kém của ĐTTX ở Việt Nam, đề xuất các
khuyến nghị về chính sách và tác động của Nhà nước đến ĐTTX.
Từ các công trình nghiên cứu về quản lý ĐTTX trong và ngoài nước, tổng
quát về quản lý ĐTTX đáp ứng trình độ ĐH. Mỗi tác giả có quan điểm riêng nhưng
đều có những điểm chung khi nghiên cứu, đó là đánh giá cao vai trò, nhiệm vụ và ý
nghĩa của việc quản lý ĐTTX; thống nhất quản lý có vai trò quan trọng, quyết định
trong việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả ĐTTX. Tuy vậy, việc nghiên cứu quản lý
ĐTTX có hướng dẫn trình độ ĐH trong điều kiện đặc thù vùng miền, đáp ứng nhu
cầu nhân lực trình độ ĐH chưa được khai thác, đề tài tiếp tục thực hiện nghiên cứu
theo hướng trên.
Tóm lại, qua tìm hiểu các tác phẩm, các công trình, các luận án nghiên cứu
của các tác giả trong và ngoài nước, đã cho cái nhìn khái quát về nhân lực, nhu cầu
đào tạo nhân lực; ĐTTX và quản lý ĐTTX có hướng dẫn nhằm đáp ứng nhu cầu
nhân lực. Hiện tại, việc tổ chức, quản lý ĐTTX đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ
ĐH hiện đang là vấn đề được quan tâm, từng vấn đề, các ưu điểm cùng những hạn
chế và những nguyên nhân của những thành công và hạn chế trong hoạt động trên
cần được tìm hiểu, phân tích ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh và trong điều kiện cụ

internet…).
Theo tác giả France Henri [81] ĐTTX không chỉ là việc giảng dạy đơn thuần
mà là một hệ thống phức tạp trong tổ chức và hoạt động sư phạm. Học từ xa, dạy từ
xa đòi hỏi sự thay đổi triệt để cách thực hiện, các phương tiện, phương pháp sư
phạm nhằm khắc phục khó khăn về khoảng cách, sự cách biệt nhất định giữa người
học và người dạy. Từ đó dẫn đến thay đổi sâu sắc về vai trò và nhiệm vụ của GV
cũng như các bước tiến hành, phương pháp phù hợp với yêu cầu của học từ xa, đó là
việc tự học có hỗ trợ.
Tự điển Giáo dục học [36] ĐTTX là hình thức đào tạo không tập trung, qua
các phương tiện phát thanh, truyền hình, bưu điện, báo chí... qua công nghệ thông tin
hiện đại như máy tính cá nhân, máy tính cá nhân nối mạng internet... dành cho những
người có nguyện vọng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và văn
hóa. Cơ sở ĐTTX có trách nhiệm chuyển tải các nội dung học tập bằng các phương
tiện tới người học, qua đó người học lĩnh hội và cũng bằng các phương tiện quy định,


12
gửi các bài làm, bài kiểm tra về nơi đào tạo để được nhận xét và đánh giá. Người học
hoàn thành chương trình đào tạo và thi đạt yêu cầu tốt nghiệp quy định của bậc học,
cấp học, ngành học nào thì được cấp bằng tốt nghiệp ĐTTX tương ứng với cấp, bậc
ngành đó và có giá trị tương đương với bằng tốt nghiệp của hình thức CQ.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo [8] thì ĐTTX hay còn gọi là giáo dục từ xa
thuộc phương thức giáo dục không CQ trong hệ thống giáo dục quốc dân. ĐTTX là
một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người
học về mặt thời gian và không gian. Người học theo ĐTTX chủ yếu là tự học qua
học liệu như giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính,
bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các
tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà
trường. ĐTTX lấy tự học là chính, đòi hỏi người học phải tự giác, kiên trì và quyết
tâm cao để hoàn thành chương trình học tập của mình. Số giờ tập trung để nghe

Theo Tổng cục thống kê [67] trong điều tra về lao động và việc làm hàng
năm, thuật ngữ “dân số trong độ tuổi lao động” được sử dụng thay thế cho “nhân
lực” phân theo các trình độ đào tạo, đây cũng là khái niệm khá phổ biến, thông dụng
được nhiều công trình, tác giả sử dụng.
Trong phạm vi vĩ mô, “Nhân lực” có thể hiểu là lực lượng lao động, là tổng
số những người tham gia lao động và những người thất nghiệp, có nhu cầu tìm kiếm
việc làm, sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động, đóng góp cho sự phát triển về
kinh tế - xã hội ở từng vùng và quốc gia.
Trong phạm vi một tổ chức, nhân lực được hiểu với nghĩa hẹp là nhân sự
của tổ chức.
1.2.1.3. Nhu cầu nhân lực trình độ đại học
Nhu cầu nhân lực trình độ ĐH [39], [49], [55] là nhu cầu thuộc phạm trù lịch
sử - xã hội, tương ứng với mỗi hình thái KT - XH, mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có nhu
cầu khác nhau nhằm đảm bảo tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Lịch sử xã hội loài người đã chỉ rõ trình độ kinh tế phát triển tuần tự từ nền kinh tế
nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp đến nền kinh tế tri thức, tương ứng với mỗi
thời đại kinh tế sẽ có cơ cấu nhân lực phù hợp và kéo theo là nhu cầu nhân lực
nhằm đáp ứng cho các yêu cầu khách quan của thời đại đó. Như vậy, trong nền kinh
tế tri thức nhân lực có trình độ, đặc biệt là trình độ ĐH có vị trí vô cùng quan trọng
cho sự phát triển của từng cơ sở, tổ chức, địa phương cũng như quốc gia.
Trong luận án “Nhu cầu nhân lực trình độ đại học” là nhu cầu sử dụng
người lao động đã được đào tạo trình độ đại học về số lượng, cơ cấu ngành nghề và
chất lượng đào tạo, đóng góp cho sự phát triển về kinh tế - xã hội ở các địa
phương, vùng miền và quốc gia.
1.2.1.4. Đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ đại học
Sự tiến bộ nhanh của khoa học kỹ thuật - công nghệ đòi hỏi mỗi cá nhân phải
tự đào tạo hoặc được đào tạo để thích ứng, cập nhật tiến bộ, đáp ứng sự thay đổi,
thích nghi với sự phát triển chung của xã hội hiện đại [27], [30], [65]. Trong các
hình thức đào tạo thì ĐTTX là hình thức đào tạo hiệu quả, thiết thực, khắc phục
được các trở ngại về mặt không gian, thời gian, điều kiện độ tuổi, giới tính, kinh tế,

đào tạo, quản lý nên vai trò của ĐTTX là lời giải cho bài toán trên.
Sự linh hoạt về chương trình, thời gian, không gian, điều kiện kinh tế, trình
độ và chi phí đào tạo sẽ là cơ hội học tập cho mọi đối tượng, đặc biệt là người lao
động vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo. Góp phần thực hiện nâng cao dân trí, đào
tạo và cung cấp nhân lực cho xã hội và nền kinh tế.
b. Thỏa mãn nhu cầu học tập suốt đời
ĐTTX góp phần tạo mọi điều kiện để cá nhân, đặc biệt là người lớn tuổi,
người đang có việc làm phát huy năng lực sáng tạo và học tập của bản thân, mọi
người có thể đáp ứng sở thích và thực hiện việc học nâng cao trình độ, cập nhật kiến
thức của bản thân nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống.
Trong thực tế, nếu để từng người tự đào tạo thì chỉ có một số ít người có
điều kiện làm được trong cuộc đời, còn đại đa số sẽ khó thực hiện. Do đó, ĐTTX
với chương trình, tổ chức đào tạo mềm dẻo, linh hoạt không đòi hỏi phải tập trung
học tập tại một nơi, tại một thời điểm như hình thức đào tạo truyền thống; có thể


15
học mọi nơi, mọi lúc với sự hướng dẫn của đội ngũ GV, các CSĐT, cùng sự hỗ trợ
bởi hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông và học liệu, có thể giúp họ có
điều kiện học tập với chất lượng tốt hơn, giá thành thấp hơn và có thể thực hiện
trong suốt cuộc đời.
c. Thực hiện công bằng trong giáo dục
Muốn thực hiện được mục tiêu rút khoảng cách về trình độ sản xuất và đời
sống xã hội so với các quốc gia đang phát triển trong khu vực và trên thế giới,
ngoài việc nâng cao trình độ dân trí, phát triển nhanh lực lượng lao động trí tuệ
thì việc tạo môi trường, điều kiện cho đông đảo người dân có cơ hội được học
tập, được sử dụng hiểu biết của mình trong các hoạt động xã hội là yêu cầu cấp
thiết và quan trọng.
ĐTTX với nhiều thuận lợi cho phép phát triển nhanh, mạnh về số lượng, cơ
cấu ngành đào tạo, thực hiện mọi lúc, mọi nơi với mọi đối tượng, thỏa mãn nhu cầu,

hơn so với các hình thức đào tạo khác:
a. Quá trình đào tạo, phần lớn có sự tách biệt giữa người dạy và người học,
khoảng cách (hay còn gọi là gián cách) giữa người dạy và người học là đặc điểm
đầu tiên để phân biệt ĐTTX. Tuy nhiên, đặc điểm này không phải của riêng ĐTTX,
thực tế, cũng có những “khoảng cách” giữa GV và SV trong một số hình thức đào
tạo khác. Ví dụ: nếu xem xét trong đào tạo truyền thống, sẽ nhận thấy một tỷ lệ nào
đấy của việc dạy và học cũng được thực hiện qua khoảng cách, như việc làm bài tập
ở nhà của SV, tỷ lệ đó tăng dần khi người học đạt đến trình độ ĐH. Khoảng cách,
yếu tố gắn liền hầu hết các hình thức đào tạo nhưng là yếu tố trội nhất của ĐTTX.
Cần lưu ý, khoảng cách trong ĐTTX có hai dạng: một dạng có khoảng cách
hoàn toàn, trong cách thức tổ chức đào tạo này có sự cách biệt hoàn toàn giữa người
dạy và người học, mọi hoạt động dạy và học thông qua phương tiện kỹ thuật, công
nghệ bởi sự quản lý, giám sát của CSĐT; một dạng có khoảng cách một phần giữa
người dạy và người học, trong hoạt động dạy và học này, người học bên cạnh việc
tự học là chính thông qua phương tiện kỹ thuật và học liệu nhưng có sự "xuất hiện"
và hỗ trợ với tính chất hướng dẫn của người dạy, thường là giai đoạn đầu (giới thiệu
nội dung chương trình, khái quát môn học…) và giai đoạn cuối (trao đổi, giải đáp
thắc mắc, hướng dẫn bài tập ...) của quá trình học một môn học, đây là dạng đào tạo
mà phần lớn các CSĐT có tổ chức ĐTTX ở Việt Nam đang tổ chức thực hiện.
b. Tổ chức và hỗ trợ của các CSĐT để phát huy cao nhất sự nỗ lực tự học của
người học. Khả năng tự học của SV trong ĐTTX tuy được đề cao nhưng vai trò
quản lý và hỗ trợ của CSĐT vẫn giữ chủ đạo. Thông qua các nội dung: đội ngũ
CBQL, GV tư vấn, hướng dẫn; nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo; biên soạn
và phân phối học liệu; tổ chức hướng dẫn, giải đáp; kiểm tra học phần; kết quả khóa
học; cấp bằng tốt nghiệp; hỗ trợ sau tốt nghiệp ... Ngoài ra, công tác quản lý của
CSĐT đối với ĐTTX còn thể hiện trong việc chịu trách nhiệm với Nhà nước, người
học, CSSDNL, xã hội về chất lượng “sản phẩm” đào tạo - SVTN.
c. Sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật, các loại học liệu, thể hiện rõ qua
việc thông tin tuyển sinh; kế hoạch, thời khóa biểu; tổ chức học tập; kiểm tra và các
thông tin có liên quan ... trên hệ thống website, tin nhắn của CSĐT, đặc biệt thấy rõ

Bàn về ĐTTX, quản lý ĐTTX đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH không
thể không nói đến các nội dung, các vấn đề có liên quan mật thiết đó là các chủ
trương, chính sách, chiến lược ủng hộ cho ĐTTX tồn tại và phát triển, thông qua nội
dung HTSĐ và chủ trương xây dựng XHHT tập và vai trò song hành, mối quan hệ
giữa GDTX [35], [50], [60], [62] với ĐTTX trong đáp ứng nhu cầu nhân lực trình
độ ĐH.
a. Học tập suốt đời là một quá trình học tập có mục đích, có định hướng
trong suốt cuộc sống của một cá nhân từ lúc chào đời cho đến lúc rời xa cuộc sống,
không phải học tùy hứng, ngẫu nhiên mà được thực hiện theo các hình thức đào tạo
CQ, không chính quy và cả phi chính quy. Ở đó, mỗi người đều có mục đích học
tập riêng của mình, mà theo UNESCO đó là: “Học để biết, học để làm, học để
chung sống, học để làm người”.
Với đối tượng HTSĐ, thực tế luôn đa dạng, phong phú về trình độ, kiến thức,
giới tính, độ tuổi, điều kiện kinh tế, sức khỏe, việc làm, nhu cầu … thì việc học mọi
lúc mọi nơi bởi ĐTTX sẽ hữu hiệu và tác dụng tích cực hơn. ĐTTX đáp ứng nhu
cầu nhân lực trình độ ĐH sẽ là cơ hội, động lực cho quá trình HTSĐ của mỗi cá


18
nhân; góp phần đào tạo, đào tạo lại nhân lực cho xã hội.
b. Xã hội học tập là một xã hội trong đó tất cả các tổ chức và cá nhân trong
xã hội đều là người cung cấp giáo dục, chứ không riêng gì các cơ quan quản lý nhà
nước. Mặt khác, toàn thể công dân trong xã hội đều phải tích cực tham gia học tập
và triệt để tận dụng các cơ hội, theo đuổi bằng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng do
xã hội học tập cung cấp nhằm đạt mục tiêu học tập.
Như vậy, việc tốt nghiệp một trình độ, một chương trình đào tạo nào đó, với
những kiến thức được trang bị, kỹ năng có được và lao động suốt đời đã không còn
phù hợp. Mỗi người lao động cần được bồi dưỡng thường xuyên hoặc được đào tạo
lại để có thể thích ứng với những thay đổi của ngành nghề hoặc để có thể chuyển
đổi nghề. Cần thiết phải tổ chức đa dạng các hình thức, nội dung, chương trình đào

thế mạnh của mỗi bên để góp phần thúc đẩy GDTX và ĐTTX ngày càng phát triển,
đóng góp nhiều và tốt hơn cho xã hội và đất nước trong công tác đào tạo và đào tạo
lại nhân lực, trọng tâm hiện nay là nhân lực trình độ ĐH.
1.2.3.2. Phát triển kinh tế - xã hội cùng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nhu cầu
nhân lực trình độ đại học thông qua đào tạo từ xa
Phát triển KT – XH luôn gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dẫn đến
nhu cầu nhân lực đáp ứng, đặc biệt là nhân lực trình độ ĐH, giữa các yếu tố trên có
mối quan hệ gắn bó, nhân - quả với nhau [25], [31], [39]. Giai đoạn hiện nay, giai
đoạn thực hiện CNH, HĐH, đây là quá trình chuyển đổi KT - XH để phát triển từ
một nước nông nghiệp, lạc hậu, với lao động thủ công là chủ yếu, chiếm đa số sang
một nước công nghiệp hiện đại, ứng dụng ngày càng rộng rãi các công nghệ,
phương tiện tiên tiến vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội. Quá trình đó, tất
yếu sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế, kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động, làm
thay đổi tỷ lệ lao động trong tất cả các lĩnh vực và tất yếu dẫn đến nhu cầu nhân lực
qua đào tạo, đặc biệt là nhân lực trình độ ĐH để đáp ứng.
Mặt khác, KT - XH càng phát triển thì khả năng đầu tư của Nhà nước và xã
hội cho công tác đào tạo nhân lực trình độ ĐH càng tăng, nhận thức và sự quan tâm
của xã hội càng tăng sẽ tạo cơ hội và môi trường thuận lợi cho công tác đào tạo
nhân lực trình độ ĐH phát triển. Nhờ vậy, đào tạo nhân lực trình độ ĐH càng có đủ
điều kiện để đào tạo đội ngũ nhân lực có chất lượng, đáp ứng nhu cầu về số lượng,
cơ cấu. Nhân lực được đào tạo tốt sẽ góp phần đẩy mạnh, nhanh hơn phát triển KT XH. Ngược lại, nếu nền KT - XH kém phát triển dẫn đến đầu tư cho đào tạo nhân
lực trình độ ĐH thấp, thiếu phương tiện kỹ thuật hiện đại, đội ngũ chất lượng, kết
quả đội ngũ lao động được đào tạo không cao nên năng suất và hiệu quả tham gia
lao động ở các lĩnh vực thấp, sẽ lại càng làm cho nền kinh tế khó khăn, chậm phát
triển, kéo theo là chất lượng cuộc sống thấp, xã hội chậm phát triển.
Đáp ứng được đội ngũ nhân lực trình độ ĐH cho các CSSDNL, cộng đồng
và xã hội nhanh, trong thời gian ngắn, đảm bảo cả về số lượng, cơ cấu ngành nghề
và chất lượng phục vụ cho quá trình chuyển đổi là vấn đề quan trọng nhưng hết sức
nan giải đối với hệ thống GD&ĐT, đặc biệt là hệ thống đào tạo ĐH chính quy trong
giai đoạn hiện nay, vì các lý do: quan điểm về đào tạo trình độ ĐH lạc hậu; vấn đề

độ học vấn, trình độ CMKT và năng lực phẩm chất đạo đức của người lao động, hay
nói cách khác đó là ba yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực. Việc xác định các nội
dung, yếu tố trên, sẽ là cơ sở cho việc xây dựng và thiết kế các chương trình, nội
dung đào tạo vừa phù hợp với điều kiện thể lực người học, phát huy năng lực mỗi
cá nhân, đồng thời đảm bảo việc cung ứng nhân lực trình độ ĐH đa dạng, phong
phú, năng động, thích ứng và đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của xã hội.
1.2.4. Nội dung đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ đại học
Đào tạo [31], [37], [52] là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương
pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị
tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng bảo
vệ đất nước.
Đây là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và
người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một
CSĐT, được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về mục tiêu, chương trình, nội


21
dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện kỹ thuật, học liệu cũng như về
thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể. Được triển khai thực hiện theo một quá trình
xuyên suốt từ đầu vào, quá trình cho đến đầu ra. Điểm quan trọng của ĐTTX đáp
ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH là đầu ra của quá trình đào tạo, là SV tốt nghiệp
phải thỏa và đáp ứng những yêu cầu về vị trí việc làm của các CSSDNL, có thể
nhanh chóng thích ứng và sẵn sàng tích cực tham gia vào hoạt động của các
CSSDNL và thị trường lao động.
Với những yêu cầu trên, nội dung quá trình ĐTTX được thực hiện như sau:
1.2.4.1. Yếu tố đầu vào
a. Chương trình ĐTTX: chương trình đào tạo phải dựa vào chuẩn đầu ra, tức
vị trí việc làm của SVTN từ đó tham khảo, xây dựng, thẩm định và ban hành
chương trình đào tạo. Các chương trình phải đảm bảo đa dạng, phong phú ở nhiều

chương trình đào tạo còn tham gia giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá kết quả học
tập và tốt nghiệp cho SV.
d. Phương tiện kỹ thuật, học liệu: trong ĐTTX ngoài việc khai thác hợp lý cơ
sở vật chất của CSĐT, vấn đề quan trọng là việc khai thác hiệu quả và hợp lý các
phương tiện kỹ thuật, nguồn học liệu phục vụ cho từng chương trình, đối tượng đào
tạo theo kế hoạch giảng dạy học kỳ, năm và khóa học.
Đáp ứng cho sự phát triển về khoa học công nghệ, nhu cầu của CSSDNL,
các CSĐT luôn có kế hoạch đầu tư mua sắm, đổi mới, nâng cấp thường xuyên
phương tiện kỹ thuật: máy móc, thiết bị, phần mềm...phù hợp và hiện đại.
Ngoài ra, cần lưu ý với đến đặc thù các buổi học trực tuyến hoặc các buổi
học có hướng dẫn nhằm bố trí, khai thác và sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ
thuật tương ứng, tạo thuận lợi cho người học. Phân phối học liệu phù hợp với từng
chương trình đào tạo, đảm bảo giúp SV tự học, tự nghiên cứu.
e. Tài chính: chi phí luôn là vấn đề được quan tâm của cả CSĐT và SV, để
thực hiện được nhiệm vụ và vai trò của ĐTTX trong đào tạo nhân lực trình độ ĐH,
các CSĐT phải quan tâm và xác định mức học phí từng ngành thật phù hợp; công
khai tài chính, đặc biệt là học phí cho SV và cộng đồng nắm; tổ chức thu, chi theo
định mức và kế hoạch được phê duyệt.
1.2.4.2. Yếu tố quá trình
a. Hoạt động dạy và hướng dẫn sinh viên: điều kiện, đặc điểm của đối tượng
tham gia học từ xa, nên GV cần phải thực hiện kế hoạch, nội dung chương trình và
đảm bảo chất lượng giảng dạy theo đúng như cam kết ban đầu.
GV soạn giáo án, tài liệu hướng dẫn công phu, chuyển tải được các nội dung
môn học, có cập nhật, áp dụng và sử dụng hiệu quả phương pháp dạy học đa dạng
như học tập nhóm, xem người học làm trung tâm, cũng như các phương tiện kỹ
thuật hỗ trợ sẽ góp phần hỗ trợ hiệu quả quá trình tự học, tự nghiên cứu, lĩnh hội các
tri thức của SV.
Việc xác định và thực hiện đúng kế hoạch trong dạy và hướng dẫn SV, có tác
dụng thúc đẩy quá trình và tạo động cơ học tập của SV.
b. Hoạt động học và tự học của sinh viên: tự học, tự nghiên cứu là một trong

quan đến SV sau khi tốt nghiệp - tức outcome, từ đó có bước điều chỉnh, bổ sung
nhằm đáp ứng nhu cầu người học và CSSDNL.
a. Thông tin việc làm của SV sau khi tốt nghiệp: tìm hiểu, thu thập và nắm
thông tin khả năng tìm việc của SV sau khi tốt nghiệp, thời gian tìm được việc làm,
vị trí việc làm, khả năng tự học, tự nghiên cứu và học tập ở trình độ cao hơn.
b. Thông tin phát triển nghề nghiệp của SV: được tuyển dụng và bố trí đúng
ngành đào tạo, không phải đào tạo lại, thu nhập ổn định, có cơ hội phát triển và
thăng tiến trong nghề nghiệp của SV, khả năng thích ứng với sự biến đổi của môi
trường và sự thay đổi của kỹ thuật, sản xuất, xã hội.
c. Thông tin sự thỏa mãn nhu cầu của CSSDNL và cộng đồng: quan trọng
hơn cả là đánh giá được sự hài lòng, thỏa mãn nhu cầu của CSSDNL về “sản phẩm”
– SVTN hình thức ĐTTX gồm số lượng, cơ cấu và chất lượng cũng như thời gian
cung cấp, đáp ứng nhân lực.
1.2.4.4. Yếu tố bối cảnh
a. Chính sách cho ĐTTX: các chủ trương, chính sách của các cơ quan quản
lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương, các chính sách của các bên có liên quan


24
trong GD&ĐT, cũng như ở các CSĐT, CSSDNL nếu được ban hành phù hợp, rõ
ràng, đúng thời điểm và được thực hiện linh hoạt sẽ là động lực, tác động mạnh, hỗ
trợ cho ĐTTX phát triển.
b. Sự tham gia và hỗ trợ của CSSDNL: sự tham gia của CSSDNL vào quá
trình ĐTTX có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, sự tham gia đó thể hiện qua mối liên
kết giữa CSĐT và CSSDNL. Mối liên kết hiệu quả sẽ giúp các bên có liên quan
phát huy thế mạnh, hỗ trợ nhau về nhiều mặt: nhân lực (cử đội ngũ chuyên gia giỏi
tham gia xây dựng và thẩm định các chương trình, tham gia giảng dạy, hướng dẫn,
đánh giá); tài lực (tài trợ tài chính thông qua học bổng, kinh phí đào tạo, tổ chức
sự kiện …); vật lực (hỗ trợ thông qua việc cho SV đến tham gia, thực tập, thực tế,
đầu tư mua sắm phương tiện kỹ thuật phục vụ ĐTTX…), đồng thời còn tổ chức

CSSDNL (cung – cầu) và theo các chức năng quản lý thì quản lý ĐTTX là quản lý các
nội dung/thành tố từ đầu vào, quá trình dạy học, kết quả đầu ra nhằm đào tạo nhân lực
trình độ ĐH, đáp ứng nhu cầu của người học, đáp ứng đủ về số lượng, hợp lý về cơ
cấu, đảm bảo về chất lượng theo chuẩn đầu ra, cho nhu cầu phát triển về KT - XH của
các CSSDNL, của các địa phương, vùng miền và quốc gia.
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, khái niệm “Quản lý đào tạo từ
xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ đại học” là hoạt động quản lý của các cơ sở
đào tạo đại học từ xa đối với các thành tố của quá trình đào tạo từ xa trình độ đại
học từ đầu vào, quá trình dạy học, kết quả đầu ra nhằm đào tạo nhân lực trình độ đại
học, đáp ứng đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng theo chuẩn
đầu ra, đáp ứng nhu cầu phát triển về kinh tế - xã hội của các địa phương, vùng miền
và quốc gia.
1.3.2. Tiếp cận quản lý đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ đại
học
Các hướng tiếp cận sẽ có tác động và ảnh hưởng đến quá trình, tổ chức và
kết quả nghiên cứu, đặc biệt trong nghiên cứu quản lý và trong tổ chức quản lý [13],
[43], [46], [48]. Có nhiều hướng tiếp cận khác nhau tùy theo tính chất, đặc thù của
vấn đề nghiên cứu, đảm bảo định hướng cho nghiên cứu đạt hiệu quả.
1.3.2.1. Tiếp cận các thành tố của quá trình ĐTTX
Với đặc thù ĐTTX có hướng dẫn đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH.
Quản lý quá trình ĐTTX bao gồm:
- Quản lý xây dựng, thẩm định và ban hành quy hoạch ĐTTX của CSĐT
nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ ĐH cho các cá nhân, cộng đồng và các
CSSDNL trong hiện tại và tương lai.
- Quản lý quá trình thực hiện quy hoạch ĐTTX, gồm:
Quản lý đầu vào: là quản lý tất cả các thành tố như chương trình; tuyển sinh;
đội ngũ GV; quản lý phương tiện kỹ thuật, học liệu; tài chính.
Quản lý quá trình dạy và học: hoạt động dạy, hướng dẫn của đội ngũ GV;
hoạt động học, tự học của SV; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV.
Quản lý đầu ra: tức không chỉ dừng lại ở đầu ra (Output), kết quả SV tốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status