THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM VẬT LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐHQGHN - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Tên đề tài

THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM VẬT LÝ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - ĐHQGHN

Nhóm sinh viên thực hiện:

Đặng Khánh Linh
Phùng Thị Thùy Linh
Phạm Thảo Ngân
Nguyễn Minh Thư
Lê Thị Sang

Lớp:

Qh2014 – S Vật lý

Giảng viên hướng dẫn:

TS. Lê Thái Hưng

Hà Nội, tháng 04 năm 2016


Mục lục

2

Sinh viên
3

Viết tắt
ĐHGD – ĐHQGHN
ĐTB
Độ LC
GV
KN
SV


Sư phạm vật lý

SPVL

4


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.a. Số lượng khách thể (theo sinh viên khóa).
Bảng 2.1.b. Số lượng khách thể (theo giới tính).
Bảng 2.1.c. Số lượng khách thể (theo học lực).
Bảng 2.1.d. Phân chia các mức độ theo ĐTB.
Bảng 2.2. Thời gian mỗi ngày dành cho việc tự học ngoài lớp học của SV SPVL
Trường ĐHGD – ĐHQGHN.
Bảng 2.3 Mức độ ảnh hưởng của các KN tự học cụ thể ngoài lớp học đến kết quả học
tập.
Bảng 2.4. Mức độ ảnh hưởng của các KN tự học cụ thể ngoài lớp học đến kết quả học
tập của SV SPVL trường ĐHGD – ĐHQGHN.

thiết kế theo hướng ngày càng tinh gọn. Số tiết truyền đạt trực tiếp trên lớp giảm còn
hai phần ba so với trước đây, trong khi yêu cầu đối với người học ngày càng cao. Bản
chất của phương pháp đào tạo này là phát huy tính tích cực chủ động của sinh viên,
trong đó tự học là yếu tố quyết định đến kết quả học tập của sinh viên, là hình thức học
tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học.
Việc dạy học trong nhà trường hiện nay không phải là cung cấp một khối lượng
tri thức hàn lâm mà là dạy cho người học phương pháp tiếp cận thông tin, phương
pháp tư duy để họ có thể tiếp tục học ngoài nhà trường, có thể tiếp tục học suốt đời. Để
nắm bắt toàn diện những kiến thức chuyên môn ở bậc Đại học đòi hỏi sinh viên phải
có nhiều nỗ lực trong hoạt động học tập, đặc biệt phải dành nhiều thời gian cho việc tự
học và tự nghiên cứu và cần có một phương pháp học đúng đắn, phù hợp và hiệu quả.
Trong đó phương pháp tự học đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
Tự học có vai trò ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong giáo dục nhà trường mà cả
trong cuộc sống. Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hình
thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó
tạo điều kiện và cơ hội học tập suốt đời. Tự học là nhu cầu, một năng lực cần có của
mọi người trong thời đại ngày nay.
Với sứ mạng là những giáo viên tương lai, sinh viên sư phạm càng phải phát
huy tối đa bản chất tự học, không chỉ để hoàn thành nhiệm vụ học tập trên ghế giảng
đường mà còn phải tự học trong suốt những năm giảng dạy của cuộc đời. Tuy vậy, khi
làm quen với mô hình học tập mới này, rất nhiều sinh viên nói chung và sinh viên
trường ĐHGD – ĐHQGHN nói riêng vẫn chưa trang bị cho mình những kĩ năng cần
thiết và phương pháp học tập đúng đắn, dẫn đến kết quả học tập không được như ý
muốn. Đặc biệt là những sinh viên của trường được đào tạo theo mô hình 3+1 và 4+1.
Mô hình này đang được áp dụng đối với các sinh viên sư phạm trường Đại học Giáo
dục. Sinh viên sẽ có thời gian 3 năm học tại các trường thành viên của Đại học Quốc
gia Hà Nội. Tại đây, sinh viên sẽ được đào tạo theo các ngành khoa học khác nhau. Mà
các ngành khoa học lại đòi hỏi sự tìm tòi, sáng tạo, phát hiện những cái mới.
Vì vậy, kĩ năng tự học là rất cần thiết đối với sinh viên sư phạm trường ĐHGD.
Hơn thế nữa đến năm thứ tư, sinh viên sẽ được rèn luyện về kĩ năng sư phạm thông

SV SPVL khóa 58, 59 trường ĐHGD – ĐHQGHN.
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu
8


Thực trạng kỹ năng tự học của sinh viên SPVL trường ĐHGH – ĐHQGHN.
2.3 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra
Mục tiêu điều tra: khảo sát thực trạng KN tự học ngoài lớp học của SV SPVL
trường ĐHGD – ĐHQGHN.
Đối tượng khảo sát: SV SPVL khóa 58, 59trường ĐHGD – ĐHQGHN.
Công cụ điều tra: Thiết kế và phát bảng hỏi để thu thập thông tin, số liệu.
2.3.3 Phương pháp xử lí thông tin
Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học.
Sử dụng các phần mềm tin học: excel và SPSS.
2.4 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: chỉ khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp (không thử
nghiệm hiệu quả các biện pháp này) để nâng cao KN tự học ngoài lớp học của SV
SPVL Trường ĐHGD – ĐHQGHN.
Về đối tượng khảo sát: Phát bảng hỏi khảo sát vớisinh viên SPVL khóa 58, 59,
60 trường ĐHGD – ĐHQGHN.
2.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khả năng tự học ngoài giờ lên lớp dành cho sinh
viên.
Khảo sát thực trạng khả năng tự học của SV SPVL trường ĐHGD – ĐHQGHN.
Đề xuất một số biện pháp để nâng cao khả năng tự học của SV SPVL trường
ĐHGD – ĐHQGHN.


em trở thành những người tự do ý chí, có khả năng hoà nhập xã hội và là những cá
nhân độc lập, tự chủ. [8]
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, bằng những nghiên cứu khoa học, bài bản của
mình, nhà giáo dục người Nga A.K. Krupskaya (1869- 1939) đã đưa ra nhiều cải cách
giáo dục có ý nghĩa quan trọng với nền giáo dục Xô Viết, trong đó, bà kêu gọi mọi
người không ngừng học tập qua việc tự giáo dục, luôn làm giàu cả kiến thức chung và
kiến thức chuyên môn trong suốt cuộc đời. Trong nhiều bài báo, Krupskaya đã trình

10


bày về nội dung, hình thức và các phương pháp hoặc sự hỗ trợ nhiều mặt dành cho
người tự học. [8] [11]
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của tâm lý
học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều phương pháp dạy học mới ra đời: “Phương
pháp lạc quan”, “Phương pháp trọng tâm tri thức”, “Phương pháp montessori”…Các
phương pháp dạy học này đã khẳng định vai trò quyết định của học sinh trong học tập.
Các nhà giáo dục học ở Mỹ và Tây Âu ở thời kỳ này đã đều thống nhất khẳng
định vai trò của người học trong quá trình dạy học, song bên cạnh đó cũng khẳng định
vai trò rất quan trọng của người thầy và các phương pháp, phương tiện dạy học. Khái
niệm người học trong giai đoạn này cũng không còn được quan niệm cá thể hóa cực
đoan như trước đây, tuy nó vẫn được chú ý. Theo J.Dewey: “ Học sinh là mặt trời,
xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”. Tư tưởng “lấy học sinh làm trung
tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể như: “Phương pháp hợp tác”
(cooperative methods), “Phương pháp tích cực” (active methods), “Phương pháp cá
thể hóa”, “Phương pháp nêu vấn đề”, … trong đó “Phương pháp tích cực” được
nghiên cứu triển khai rộng hơn cả. Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi
sự chú ý kích thích, thúc đẩy học sinhtự hoạt động.
Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học, còn người dạy
là chuyên gia của việc học. Nhìn chung tư tưởng “lấy học sinh là trung tâm trong quá

hội. Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền
giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng
vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học. Người từng nói: “Về cách
học phải lấy tự học làm cốt”. [5, tr.273] Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ
Chí Minh, về phương pháp học tập.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình
bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học học, phương
pháp dạy học bộ môn.
Từ những năm 1960, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã xuất bản cuốn sách
"Tự học để thành công" (sau đổi tựa thành “Tự học, một nhu cầu của thời đại”) bàn
luận sâu sắc, thấu đáo về ý nghĩa của việc tự học và làm thế nào để tự học tốt, đồng
thời khẳng định không tự học thì con người không thể thành công. [6]
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn từ một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con
đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng. Không chỉ
nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo
dục, về vấn đề tự học. Ông cho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện
để biến đổi nhân cách của mình. Người dạy giỏi là người dạy cho học sinh biết cách tự
học, tự nghiên cứu, tự giáo dục”. [3]
Chúng ta có thể tham khảo bài viết của Nguyễn Nghĩa Dán “Vì năng lực tự học
sáng tạo của học sinh” [10]; hay Giáo sư Cao Xuân Hạo đã có những phân tích thấu
đáo và ý kiến sâu sắc trong bài “Bàn về chuyện tự học”. [4] Và giáo viên ở các trường
đại học cũng có những nghiên cứu để giúp dần đưa việc tự học thành một hoạt động
không thể thiếu trong quá trình dạy và học hiện nay: Diệp Thị Thanh, trường Đại học
Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng với bài “Phương pháp Tự học – Cầu nối giữa học tập và
Nghiên cứu Khoa học”.
12


1.2


sau đây:
+ Hình thành mục đích. Lúc này thường thì chủ thể tự mình trả lời câu hỏi “Tại sao tôi
phải sở hữu kỹ năng đó?”; “Sở hữu kỹ năng đó tôi có lợi gì?”…
13


+ Lên kế hoạch để có kỹ năng đó. Thường cũng là tự làm. Cũng có những kế hoạch
chi tiết và cũng có những kế hoạch đơn giản như là “ngày mai tôi bắt đầu luyện kỹ
năng đó”.
+ Cập nhật kiến thức / lý thuyết liên quan đến kỹ năng đó. Thông qua tài liệu, báo chí
hoặc buổi thuyết trình nào đó. Phần lớn thì những kiến thức này chúng ta được học từ
trường và từ thày của mình.
+ Luyện tập kỹ năng. Bạn có thể luyện tập ngay trong công việc, luyện với thày hoặc
tự mình luyện tập.
+ Ứng dụng và hiệu chỉnh. Để sở hữu thực sự một kỹ năng chúng ta phải ứng dụng nó
trong cuộc sống và công việc. Công việc và cuộc sống thì biến động không ngừng nên
việc hiệu chỉnh là quá trình diễn ra thường xuyên nhằm hướng tới việc hoàn thiện kỹ
năng của chúng ta. Một khi bạn hoàn thiện kỹ năngthì cũng có nghĩa là bạn đang hoàn
thiện bản thân mình.
1.2.2

Tự học
Theo Từ điển Giáo dục học “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa
học và rèn luyện KN thực hành không có sự hướng dẫn của giáo viên và sự quản lý
trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo”. [2]
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học. Theo quan niệm về tự
học. Người cho rằng: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập”
Theo người “tự động học tập” tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ không
đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học
tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình

niệm KN tự học như sau: KN tự học là khả năng thực hiện thành thục và có kết quả
các thao tác, hành động tự học trên cơ sở vận dụng những tri thức tích luỹ được về
hoạt động và KN tự học.
Với khái niệm này, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh để có KN tự học tốt đòi hỏi
người học phải sở hữu cả tri thức về KN tự học, không chỉ là sự thành thục mang tính
máy móc các thao tác, kỹ thuật tự học, đồng thời cũng khẳng định KN tự học hoàn
toàn có thể rèn luyện được.
Các KN tự học ngoài lớp học trong đề tài nghiên cứu này phản ánh mức độ 2
của tự học, và được hiểu là các KN tự học mà SV tự giác, chủ động thực hiện để hoàn
tất các nhiệm vụ học tập ngoài lớp học.
1.3

Kỹ năng tự học ngoài lớp của SV sư phạm
1.3.1 Vai trò của kỹ năng tự học
* Lập kế hoạch
• Lập kế hoạch nêu lên mục tiêu, cách thức đạt được cho mục tiêu đó.
• Lập kế hoạch giúp bạn có thể gắn mục tiêu với thời gian cụ thể.
• Lập kế hoạch sẽ thiết lập được những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho bạn kiểm tra
tiến độ và có thêm động lực hơn để hoàn thành công việc.

15


Lập kế hoạch có ý nghĩa rất lớn. Nếu chúng ta không biết tự lập kế hoạch cho
bản thân mình thì chúng ta không thể xác định được rõ mục tiêu của chúng ta cần đạt
tới là gì? Với năng lực của mình thì chúng ta cần phải làm gì để đạt được mục tiêu đó.
Không có kế hoạch chúng ta sẽ không biết phân chia thời gian hợp lý, mà để nó trôi đi
một cách vô ích và thực hiện một cách thụ động trước sự thay đổi của môi trường
xung quanh.
* Thực hiện kế hoạch.


Tác giả Nguyễn Thị Xuân Thuỷ trong bài viết “Rèn luyện KN tự học cho SV
đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ", các KN tự học cần thiết cho SV là: KN
xây dựng kế hoạch tự học; KN đọc giáo trình, tài liệu tham khảo; KN chọn lọc, sử
dụng vốn kiến thức cũ để học kiến thức mới
Tác giả Trần Thị Minh Hằng trong “Tự học và yếu tố tâm lýcơbản trong tự học
của sinh viên sư phạm” đã phân chia các KN tự học thành 3 nhóm: nhóm KN định
hướng, nhóm KN thực hiện kế hoạc tự học, nhóm KN tự kiểm tra – đánh giá.
Dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã thống
nhất và đưa ra cách phân chia KN tự học khác, cụ thể, KN tự học bao gồm 3 nhóm
chính: KN lập kế hoạch tự học; KN thực hiện kế hoạch (bao gồm các KN: ghi chép, ôn
tập và đọc sách – nghiên cứu tài liệu) và KN tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học.
1.3.3 Một số kỹ năng tự học ngoài lớp của sinh viên sư phạm
1.3.3.1 Kỹ năng lập kế hoạch tự học

Đây là KN cần có đầu tiên của KN tự học. Không chỉ riêng việc học, mà khi
làm bất cứ việc gì, muốn đạt hiệu quả cao trong công việc, chúng ta cần phải xác định
rõ mục đích và mục tiêu của công việc. Vì vậy, để việc tự học thật sự có hiệu quả thì
mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng. Kế hoạch
học tập cần chỉ ra cụ thể những nhiệm vụ cụ thể, cần biết phân chia những mục tiêu
lớn thành những nhiệm vụ cụ thể, dễ đạt được hơn. Bên cạnh đó, mục tiêu đặt ra cần
có nội dung hợp lý và ấn định thời gian thực hiện rõ ràng.
-

Xác định nội dung học tập:

+ Cần chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi, là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp
và dành thời gian công sức cho nó.
+ Cần sắp xếp cụ thể cái gì cần được học trước, cái gì sẽ được
học sau, làm như thế không những sẽ giúp quản lí và tiết kiệm được thời gian mà

1.3.3.2.1

Kỹ năng ghi chép
Kỹ năng ghi chép là kĩ năng rất quan trọng trong quá trình tự học. Ghi chép
hiệu quả sẽ tiết kiệm thời gian cho người học, do trong quá trình ghi chép, người học
có thể sắp xếp thông tin, nắm bắt được những thông tin quan trọng và dễ dàng nhớ lại
chúng khi cần. Việc ghi chép giúp chúng ta nhớ lại thông tin tốt hơn, giúp gợi ra các
thông tin đã được lưu giữ trong bộ nhớ hay đã được nghe hoặc đọc được trước đó
không lâu. Bên cạnh đó, việc ghi chép có hệ thống còn giúp sinh viên nhớ lâu, và có
sự hiểu biết sâu sắc hơn nội dung bài học. Một số cách ghi chép hiệu quả:

1.3.3.2.2

-

Ghi chép các ý chính: Sinh viên cần kết hợp với suy nghĩ của bản thân để
viết ý chính và diễn đạt bằng câu văn của mình, không cần thiết phải chép
nguyên câu của tác giả.

-

Ghi chép để dễ nhìn và nhớ: Cần ghi chép sạch đẹp, rõ ý, có thể sử dụng kí hiệu
riêng của mình hay đánh dấu những ý quan trọng bằng màu mực khác để dễ
nhớ hoặc ghi chép vào những quyển vở mà mình yêu thích.

-

Ghi trực tiếp trên sách: Giúp sinh viên nắm được các phần, nội dung quan trọng
của bài học và tiết kiệm được thời gian vì không cần phải xem lại toàn bộ nội
dung của trang sách.

Viết lại nội dung ôn tập

-

Ôn tập xem kẽ các môn học

-

Làm bài tập vận dụng

Kỹ năng đọc sách – nghiên cứu tài liệu
Việc đọc sách giúp sinh viên tiếp thu tri thức và phát triển phương pháp tự học
hiệu quả. KN đọc sách bao gồm các thao tác:
+ Tra cứu và lựa chọn tài liệu: Biết cách tra cứu tài liệu ở thưviện, nhà sách lẫn các
kho tài liệu trực tuyến sẽ giúp SV tìm được tài liệu như mong muốn, liên quan đến nội
dung học tập. Vì thế, trước khi chính thức đọc một cuốn sách, một tập tài liệu, SV
cần hiểu biết rõ các nhà xuất bản uy tín, các tác giả là chuyên gia đầu ngành, có những
nghiên cứu giá trị, thời điểm xuất bản, số lần tái bản để đảm bảo thông tin có sự cập
nhật, ...
+ Đọc sách: bao gồm các cách đọc:
- Đọc lướt: là cách đọc lật nhanh từng trang, hoặc mở ngẫu nhiên một số trang nào đó
để định hình cho mình cách bố cục, trình bày, mục lục, hình minh họa vị trí các phần
tóm tắt, kết luận…
- Đọc có suy nghĩ: là cách đọc mà khi đọc cần phải tập trung tư tưởng, đọc chậm, đọc
kĩ để hiểu những điều tác giả nói và mở rộng đến những điều liên quan mà sách không
đề cập đến.
- Đọc có hệ thống: đọc lướt nhanh toàn bộphần tổng quát của sách để nắm sơ bộ nội
dung cuốn sách, tuỳ vào mục đích đọc mà đọc kĩ một lần hay nhiều lần. Cuối
cùng là cần rèn luyện cách đọc nhanh để tập trung được sự chú ý, sự suy nghĩ diễn
ra liên tục và dễ dàng xác lập được mối quan hệ giữa các đoạn với nhau khiến ta dễ

động đi lên. Tự kiểm tra đánh giá góp phần hình thành các KN và thói quen trong học
tập như nhận thức về vấn đề đặt ra, nhạy bén, biết vận dụng kiến thức, KN vào các
hoạt động thực tiễn, thực tập… Nếu như không quá quá trình tự kiểm tra và đánh giá
sinh viên sẽ không thể biết được việc tự học hiện nay của mình có đạt kết quả tốt hay
không.
Để có kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, học sinh cần:
- Xác định được mục tiêu, nội dung bài học
- Xác định các nội dung liên quan trong các tài liệu tham khảo
- Tái hiện những kiến thức liên quan đã được nghe giảng
20


- Xây dựng dàn ý bài học (hoặc bài thuyết trình)
- Làm bài tập theo yêu cầu
- Dự kiến các câu hỏi và trả lời
- Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè.
- Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếm sau đó
tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm…
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng tự học ngoài lớp của SV sư
phạm
1.4.1 Bản thân SV
Tự học là quá trình nỗ lực của bản thân người học không chỉ trên giảng đường
mà còn cả ngoài giờ lên lớp, là thời điểm để SV hệ thống lại và đi sâu nghiên cứu
những tri thức đã lĩnh hội. Vì vậy việc nỗ lực và chủ động tự học ngoài giờ lên lớp là
điều rất cần thiết và mang tính quyết định trong việc học tập của SV.
Nghiên cứu tâm lý học sư phạm kết hợp với kinh nghiệm học tập cho thấy,
người học tự giác học tập và học có hiệu quả khi bản thân nhận thức đúng đắn bản
chất, vai trò của tự học, có kiến thức về các phương pháp học, có nhu cầu, động cơ tự
học đúng đắn, thấy hứng thú tìm tòi, học hỏi và họ có khả năng vượt qua những khó
khăn trở ngại để tự học thành công (Theo Trần Thị Minh Hằng). Nếu người học thiếu

chất cần cù, nghiêm túc, không ỷ lại, trông chờ, chủ động, tích cực và sáng tạo... từ đó,
bồi dưỡng sự tự tin, ý chí quyết tâm, tính kiên trì vượt khó, tính trung thực, tinh thần
tập thể giúp đỡ nhau trong học tập.
Như vậy hướng dẫn SV tự học ở nhà chu đáo, tổ chức các hoạt động tự kiểm
tra, đánh giá giữa SV với nhau trong từng học phần, môn học trên lớp là biện pháp hữu
hiệu mà GV có thể phát huy vai trò chủ động của SV.
1.4.3 Nhà trường và chương trình đào tạo
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn từng vạch ra các bình diện trợ giúp cho người tự
học, trong đó giáo sư có đề cập đến mô hình giáo dục của nhà trường. Nếu mô hình đó
khuyến khích và tạo điều kiện cho việc tự học của người học thì người học sẽ được
nâng đỡ nhiều hơn. Ông khẳng định: việc quản lý tự học chặt chẽ của nhà trường
không giới hạn mà ngược lại sẽ giúp người học tự học tốt hơn. Ngoài ra, nhà trường
cần hỗ trợ người học về mặt nhận thức, cảm xúc, động cơ, xây dựng nguồn học liệu,
mở rộng các kênh trao đổi giữa GV-SV và kênh để SV tiếp cận nguồn học liệu.[12]
Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề tự học của SV vẫn chưa được các trường cao đẳng,
đại học quan tâm đúng mức. Quan điểm nhấn mạnh khả năng tự học và tạo điều kiện
tự học cho SV vẫn chưa được chú trọng, thể hiện qua việc xây dựng chương trình, chỉ
đạo đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá, đầu tư cơ sở vật
chất, thư viện...còn nhiều hạn chế.
Hiện nay, chương trình đào tạo của các trường các kiến thức chuyên môn, nghề
nghiệp nặng nề với nhiều môn học khác nhau. Một GV phải đảm nhận nhiều môn,
nhiều lớp. Chính vì khối lượng công việc luôn quá tải nên GV chỉ lo thực hiện nhiệm
vụ của mình mà ít quan tâm để rèn luyện KN toàn diện cho SV trong đó có KN tự học.
Nhà trường chưa thực sự chú trọng đến các việc tổ chức các khóa đào tạo hay một học
phần riêng về KN tự học. Trong khi các khóa học hay học phần như này giúp cho SV
hiểu biết đúng đắn về KN tư học, giúp ích rất nhiều cho SV trong việc phát triển KN
tự học hiệu quả.
22



trúc bảng hỏi bao gồm:
Phần 1: Thông tin cá nhân của người trả lời phiếu bao gồm: Giới tính, năm thứ đang
học, học lực.
23


Phần 2:
Câu 1: Tác dụng của việc tự học.
Câu 2: Thời gian dành cho việc tự học ngoài giờ lên lớp.
Câu 3: Thực trạng việc thực hiện kế hoạch học tập của sinh viên.
Câu 4: Mức độ ảnh hưởng của KN tự học cụ thể đến kết quả học tập của sinh viên?
Câu 5: Khả năng lập kế hoạch tự học của sinh viên
Câu 6: Khả năng đọc sách ngoài lớp học của sinh viên
Câu 7: Khả năng ghi chép tài liệu của sinh viên
Câu 8: Khả năng ôn tập của sinh viên
Câu 9: Khả năng tự kiểm tra đánh giá
Câu 10: Những yếu tố ảnh hưởng đến KN tự học của sinh viên.
Câu 11: Cách khắc phục những khó khăn trong quá trình tự học? Các kĩ năng cần thiết
để việc tự học đạt hiệu quả tốt nhất?
Các thang đo thái độ được sử dụng trong bảng câu hỏi gồm:
Thang đo 1: Rất ít/Ít/ Vừa phải/ Nhiều/ Rất nhiều
Thang đo 2: Không bao giờ/Hiếm khi/ Thỉnh thoảng/ Thường xuyên/ Rất thường
xuyên
Thang đo 3: Hoàn toàn đồng ý/Đồng ý/Phân vân/Không đồng ý/Hoàn toàn đồng ý
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu
2.1.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mẫu khảo sát bằng bảng hỏi
Nhóm nghiên cứu tiến hành chọn 2 khóa 58 và 59 SPVL
Ở giai đoạn 1: Nhóm nghiên cứu phát bảng câu hỏi thử nghiệm cho 5 SV
chính quy sư phạm khóa 59, 5 SV khóa 59. Tổng số phiếu thu được là 10 phiếu.


100.0

Total

60

100.0

100.0

Bảng 2.1.b. Số lượng khách thể (theo giới tính)

GIOITINH
Frequency Percent
Valid Nam

Valid
Percent

Cumulative
Percent

12

20.0

20.0

20.0




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status