ĐảNG CộNG SảN VIệT NAM LãNH ĐạO
XÂY DựNG Và PHáT HUY DÂN CHủ Xã HộI
CHủ NGHĩA (1996 - 2009)
Khoá luận tốt nghiệp đại học
ngành
: LịCH Sử
Mã số
: 08.11.01
Chuyên ngành : LịCH Sử ĐảNG
Cn th - 2015
BNG CH VIT TT
CNXH
: Ch ngha xó hi
LHQ
: Liờn hp quc
1
HĐNQ
: Hội đồng nhân quyền
CNH-HĐH
1.1.1 Dân chủ tư sản. .............................................................................................7
1.1.2 Dân chủ xã hội chủ nghĩa..............................................................................8
1.2 Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa ....
10
1. 2.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ................................................................10
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ................................................................13
1.3. Sự cần thiết xây dựng và phát huy dân chủ trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp
hóa-hiện đại hóa................................................................................................................16
1.3.1. Thực trạng xây dựng và phát huy dân chủ ở nước ta trước 1996......16
1.3.2 Xây dựng và phát huy dân chủ là yêu cầu khách quan, đòi hỏi cấp bách
của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. ..................29
CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA (1996-2009).................................................................................................34
2.1 Chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát huy dân chủ xã hội
chủ nghĩa (1996-2009).......................................................................................................34
2.1.1 Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát huy dân chủ...............................34
2.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người...........................39
2.2 Thực trạng xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa (1996-2009)............
41
2.2.1 Những thành tựu cơ bản trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người,
3
phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam...............................................41
2.2.2. Những hạn chế trong việc xây dựng và phát huy dân chủ, đảm bảo và thúc
đẩy quyền con người ở Việt Nam................................................................54
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế................................................................57
2.3. Một số kinh nghiệm, kiến nghị.................................................................................58
việc phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền cũng có
những khó khăn nhất định.
Trong quá trình đổi mới ở nước ta thực hiện dân chủ, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân được Đảng ta xác định vừa là mục tiêu vừa là động lực
của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ
gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước là đại diện quyền làm
5
chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị
của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có
quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đảng ta luôn luôn dựa vào
dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là nguồn sức mạnh và sự sáng tạo
để Đảng ta vượt qua muôn vàn thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng
lợi khác. Từ đó, việc dựa và dân, phát huy dân chủ được Đảng ta chú trọng và
tổng kết thành bài học kinh nghiệm quý báu có giá trị lí luận và thực tiễn vô
cùng sâu sắc có thể áp dụng phổ biến mọi nơi, mọi lúc trong tiến trình cách
mạng nước nhà. Dân chủ đã trở thành tư tưởng xuyên suốt trong các văn kiện
của Đảng, luật pháp của Nhà nước ta và các chính sách phát triển. Tuy nhiên,
chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận những khuyết điểm của mình. Những
“điểm nóng” diễn ra trong thời kì vừa qua (điển hình là những vụ việc diễn ra
ở Thái Bình thời kì 1996-1998) lại liên quan nhiều đến “bài học vi phạm dân
chủ” với các mức độ khác nhau ở cơ sở; đồng thời, ở đó các thế lực phản
động ở bên ngoài lại luôn giương cao ngọn cờ “dân chủ”, “nhân quyền”, kích
động tâm lí nhẹ dạ và tâm lí bực bội nào đó ở một số người dân.
Phát huy dân chủ và thực hiện dân chủ không chỉ góp phần củng cố,
kiện toàn tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, không
Phạm Ngọc Quang, những vấn đề lí luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình
hình hiện nay, hội đồng lí luận Trung ương, Nxb. Chính trị QGHN, 2008
- Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, một số vấn đề lí luận và thực
tiễn, Nxb. Chính trị QGHN, 2000
Các đề tài nói trên trong một chừng mực nhất định đã đề cập đến
quyền lực của nhân dân, vai trò của các tổ chức trong việc thực hiện quy chế
dân chủ. Song cho đến nay vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng và phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa chưa được nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống vấn đề.
Dưới góc độ lịch sử Đảng, công trình khóa luận là cố gắng bước đầu của tác
giả nhằm góp phần vào nghiên cứu đề tài.
7
- Khóa luận góp phần làm rõ thêm bản chất, nội dung dân chủ xã hội
ch ngha và ý ngha c a s phát huy dân ch trong s nghi p i m i n c ta.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Khóa luận góp phần làm rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối
với việc xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn
(1996- 2009). Từ đó đề xuất những kiến nghị cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng
và phát huy dân chủ ở nước ta.
- Nhiệm vụ
t m c ích trên, khóa lu n s t p trung gi i quy t nh ng nhi m v sau:
- Luận chứng về vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc xây
dựng và phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay.
- Tìm hi u, ánh giá th c tr ng th c hi n dân ch trong giai o n 1996-2009.
- Rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số kiến nghị nhằm xây
dựng và phát huy dân chủ trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hóa đất nước.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
nghĩa (1996-2009)
9
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
DÂN CH XÃ H I CH NGHA - M T S V N
LÍ LU N VÀ TH C TI N
1.1 Dân chủ
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện khá sớm trong nền văn minh nhân loại vào
khoảng thế kỉ thứ VII-VI trước công nguyên và người đầu tiên đặt nền móng
cho nguyên lí dân chủ là nhà triết học cổ đại Xô lông, dân chủ là một thuật
ngữ chính trị-xã hội mang tính nhiều nghĩa, nhiều tầng bậc. Khi đi vào thực
tế, dân chủ biểu hiện ra ở tính đa dạng của các hình thái lịch sử, với sự phong
phú của nội dung, bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con
người. Xuất phát từ một từ Hy Lạp cổ đại-Democratos (Demos là nhân dân,
Cratos là quyền lực), “Dân chủ” có nghĩa là “quyền lực nhân dân” hay là
“quyền lực của nhân dân”. “Quyền lực” này bao quát một phạm vi rất rộng.
Dân chủ có nghĩa là “toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân”.
Trong quan niệm dân chủ của Hy Lạp cổ đại thì nhân dân hay dân
chúng chỉ bao gồm những công dân hay dân tự do, trong đó không có những
người nô lệ và những người con trai vị thành niên. Dẫu rằng thành bang Aten
được coi là dân chủ nhất, thì dân chúng vẫn là thiểu số, là ít ỏi trong cộng
đồng dân cư. Thậm chí nhân dân lao động chỉ là nô lệ.
Thuật ngữ dân chủ với nội dung cơ bản là dân chúng nắm chính quyền
chỉ còn là thuật ngữ lịch sử trong thời Trung đại dưới chế độ phong kiến quân
chủ chuyên chế. Cho đến thế kỉ XVII với sự phát triển của các thành phố, các
cũng có trách nhiệm với thiểu số, cộng đồng đối với cá nhân. Dân chủ là
chính quyền thuộc về nhân dân, gần dân, do dân và vì dân. Dân chủ là quyền
tự do cá nhân trong phát triển, làm ăn, học tập, đấu tranh... mà pháp luật
không cấm và pháp luật phải bảo vệ các quyền công dân, công dân có quyền
và nghĩa vụ kèm theo.
1.1.1 Dân chủ tư sản.
Cơ sở kinh tế của nền dân chủ tư sản dựa vào chế độ chiếm hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Do chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu
1 . Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam,
Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam-Hà Nội, tr.653.
11
của xã hội, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội về kinh tế; và do
đó, nó thống trị xã hội cả về chính trị, tư tưởng.
Về một phương diện nào đó, giai cấp tư sản sử dụng dân chủ như là
một công cụ, một hình thức thống trị xã hội mang tính hai mặt của giai cấp tư
sản. Một mặt, giai cấp tư sản soạn thảo ra Hiến pháp, thành lập nghị viện và
các cơ quan đại diện khác, ban hành quyền phổ thông đầu phiếu (do áp lực
của nhân dân) và các quyền ''tự do'' chính trị mang tính hình thức; nhưng mặt
khác, giai cấp tư sản lại dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản, bằng mọi cách không
cho đông đảo quần chúng được hưởng đầy đủ những quyền lợi đó và không
được sử dụng các cơ quan đại diện do chính quần chúng đã bầu ra.
V.I. Lê-nin cũng chỉ ra rằng: trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chế độ
dân chủ trong nhà nước tư sản đã chuyển sang một chế độ phản động chính
trị. Thực tế hiện nay có hai hình thức dân chủ đối lập nhau là: dân chủ tư sản,
là thứ dân chủ giả hiệu, bị cắt xén, và dân chủ vô sản.
1.1.2 Dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ vô sản, dân chủ nhân dân, là những
chủ của đại đa số nhân dân, gắn với công bằng xã hội, chống áp bức bất công,
được thực hiện trong thực tế trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm.
Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo nền dân chủ đó” 2. Dân chủ xã hội
chủ nghĩa mang trong bản thân nó bản chất tốt đẹp, nó tạo những điều kiện tốt
cho con người có tự do, bình đẳng, có nhân cách độc lập. Tuy nhiên, có lúc
người ta đã nhân danh chủ nghĩa tập thể, nhân danh cộng đồng, đại diện
quyền lợi chung để lạm quyền, chuyên quyền, đè bẹp tự do cá nhân. Đây là
mặt rất cần chú ý. Nếu chúng ta không phòng ngừa chu đáo, thì sẽ dẫn đến
nguy cơ mất dân chủ, vi phạm quyền tự do, dân chủ cơ bản của nhân dân,
cuối cùng đi đến kết cục sụp đổ như chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông
Âu trước đây.
Chủ nghĩa xã hội hiện thực, tuy hiện đang gặp khó khăn trên con đường
phát triển, nhưng nó vẫn có sức thu hút mạnh mẽ đối với con người. Vì nó thể
hiện một xu hướng phát triển khách quan, phản ánh ước mơ của con người là
2 . Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam,
Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, tr. 653.
13
vươn đến tự do, là sự khẳng định và xây dựng vị thế làm chủ của con người
đối với thế giới (tự nhiên, xã hội). Chính vì vậy, dân chủ xã hội chủ nghĩa là
mục đích, đồng thời là điều kiện để con người chiếm lĩnh cái tất yếu, sáng tạo
và cải tạo xã hội để đi tới tự do. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh và
Đảng ta có niềm tin tuyệt đối: nhân loại nhất định đi tới chủ nghĩa xã hội,
không gì ngăn cản nổi.
1.2 Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã
hội chủ nghĩa
1.2.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ
Luận điểm trên của Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin khẳng định khi
nghiên cứu về vấn đề dân chủ, nhất là mối quan hệ giữa dân chủ với nhà
nước: “trong những nhận định thông thường về nhà nước, người ta luôn luôn
phạm một sai lầm mà Ph.Ăngghen đã căn dặn phải đề phòng … Sai lầm ấy là:
người ta luôn luôn quên rằng thủ tiêu chế độ dân chủ và nhà nước tiêu vong
cũng là chế độ dân chủ tiêu vong”6.
Lênin khẳng định trong xã hội có giai cấp, không có một nền “dân chủ
chung chung”, “dân chủ thuần túy”. Dân chủ bao giờ cũng có tính giai cấp,
phản ánh lợi ích giai cấp. Người cho rằng khi xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa phải luôn luôn đặt câu hỏi: dân chủ cho ai và cho cái gì? tự do đối
với ai, vì ai và vì cái gì? Lênin nhấn mạnh bản chất giai cấp của dân chủ ngay
cả khi dân chủ hàm chứa nội dung về tự do, bình đẳng.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá về chế độ dân chủ tư sản coi đó là một
tiến bộ lớn về mặt lịch sử so với chế độ quân chủ chuyên chế và khẳng định
“phải lợi dụng chế độ dân chủ tư sản”. Quan điểm này nhắc nhở chúng ta khi
xem xét dân chủ không chỉ căn cứ vào tính giai cấp mà còn phải đứng trên
quan điểm lịch sử và phải có thái độ biện chứng, khoa học đối với những
thành tựu dân chủ với tính cách là những giá trị liên tục.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá cao tính ưu việt của dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Chế độ dân chủ vô sản so với bất kì chế độ dân chủ tư sản nào cũng
“dân chủ hơn gấp triệu lần”. Xét về mặt lôgic, chủ nghĩa xã hội và nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa là sự thay thế hợp quy luật, có trình độ và chất lượng
cao hơn chủ nghĩa tư bản và nền dân chủ tư sản. Nhưng về mặt thực tiễn lịch
sử thì chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa ở trình độ thuần
6. V.I.Lênin (1981) Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, t.33, tr. 101.
15
thục, còn đang trong quá trình hình thành và phát triển để trở thành một hiện
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Hồ Chí Minh không có một tác phẩm chuyên khảo nào bàn sâu về dân
chủ. Song trong các tác phẩm của Người thuật ngữ dân chủ được dùng trên
1.600 lần với những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau, tùy theo hướng tiếp
cận và phát triển tư duy của Người.
Vậy quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ như thế nào?
Theo Người, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục
tiêu và động lực của phát triển xã hội; dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ;
thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn để
giành thắng lợi.
Hồ Chí Minh đặt câu hỏi trước hàng vạn quần chúng: “dân chủ là thế
nào” và Người tự trả lời: “là dân làm chủ” 8. Như vậy, theo Hồ Chí Minh thì
dân chủ là dân làm chủ khi nhân dân Việt Nam đã là chủ đất nước của mình,
nghĩa là dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ. Chỉ khi vị trí là chủ của nhân
dân được xác định, thì vai trò làm chủ của dân mới được xác lập, tức là dân
chủ phải thể hiện bằng hoạt động thực tiễn. Trong thực tế không phải không
có trường hợp người dân được quyền làm chủ đất nước, là chủ nhà nước
nhưng không biết phải làm chủ thế nào, thậm chí không được làm chủ. Ngay
ở nước Pháp, nước Mỹ những “cái nôi” của cách mạng dân chủ tư sản thì
“Tiếng là cộng hòa và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài
thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng
còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” 9. Chính
vì vậy, Hồ Chí Minh quyết tâm “nước ta phải đi đến dân chủ thực sự” 10 nghĩa
là “bao nhiêu quyền hạn đều của dân” 11, “làm sao cho nhân dân biết hưởng
quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”12
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ là dân làm chủ là một định
8. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.8, tr.375.
9 . Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Sđd, t.2, tr.274.
lực lượng đoàn kết của nhân dân”13. Có thể nói, quan điểm lấy dân làm gốc
của Người từ ý thức đạo đức đã phát triển thành ý thức chính trị, thành
nguyên tắc pháp trị. Đã là nguyên tắc pháp trị thì mọi thành viên xã hội, từ
dân thường đến người cầm quyền, lãnh đạo đều phải tuân theo, phải lấy dân
làm gốc. Nghĩa là phải “đem tài dân, sức dân, của dân mà làm lợi cho dân”.
13 . Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Sđd, t.8, tr. 276.
18
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân chủ không chỉ là động lực cho
người dân chiến đấu giành lại quyền cơ bản là độc lập cho dân tộc mà dân chủ
còn là khát vọng vươn lên để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, tự do cho
mỗi con người. Theo Hồ Chí Minh, độc lập của đất nước phải gắn liền với
hạnh phúc, tự do của dân: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc
tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì”14.
Một nước có hơn 9 phần 10 dân cư là nông dân, thì tiêu chí cụ thể phân
định dân chủ mới và dân chủ cũ, theo Hồ Chí Minh, là “bao giờ ở nông thôn,
người nông dân thực sự nắm chính quyền, người nông dân được giải phóng
thì mới là dân chủ thực sự”15.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ là một quan niệm hiện đại.
Ngày nay, chúng ta cũng hiểu dân chủ là mọi quyền lực thuộc về nhân dân và
quyền lực được hiểu rộng rãi gồm cả quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và
quyền lực văn hóa, tinh thần (quyền lực trí tuệ)...Hồ Chí Minh không chỉ nói
dân chủ là dân nắm quyền hành mà còn nói nhiều dân làm chủ và lí giải nội
dung làm chủ một cách toàn diện và sâu sắc: từ làm chủ nhà nước, làm chủ
ruộng đồng, nhà máy, xí nghiệp (tư liệu sản xuất)...đến làm chủ về văn hóa,
tinh thần, nghĩa là dân chủ trong hiện thực cho mọi người và trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Dân làm chủ cái gì, làm chủ như thế nào, làm chủ bằng cách nào, lời
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sau cuộc họp ngày 3 tháng 9 năm 1945 của
Hội đồng chính phủ, một loạt sắc lệnh và nghị định ra đời như: sắc lệnh xóa
bỏ thuế thân, thanh toán nạn mù chữ, mở bình dân học vụ, thông tư về giảm
tô 25%, giảm 20% thuế ruộng đất, nhằm khắc phục khó khăn, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân.
Trong những năm kháng chiến, những chính sách dân chủ của Đảng và
Chính phủ vẫn được thực hiện ở những vùng tự do và những vùng mới được
giải phóng. Tháng 11/1953, Đảng và Chính phủ chủ trương tiến hành cải cách
ruộng t , xóa b quy n chi m h u ru ng t phong ki n, a l i quy n làm ch
cho nông dân v ru ng t , th c hi n ch tr n g ó n g ã t o ra m t n g l c
tr c ti p cho cu c kháng chi n vào th i i m có ý ngha quy t nh.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải
phóng, nhưng miền Nam lại bị Mỹ-Ngụy thống trị. Cách mạng nước ta đồng
thời phải tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã
20
hội ở miền Bắc, tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Hội nghị Bộ
Chính trị tháng 9 năm 1954 đã chỉ rõ: “Trong một thời gian nhất định, nhiệm
vụ chung của Đảng ta là đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện
hiệp định đình chiến và củng cố hòa bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng
đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường quân đội nhân dân để củng cố
miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền
Nam, nhằm củng cố hòa bình thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân
chủ trong cả nước”.
Thời kì cách mạng xã hội chủ nghĩa (1954-1985)
Từ khi hòa bình lập lại, miền Bắc bước vào giai đoạn cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Đó là quá trình phát triển tổng hợp của ba cuộc cách mạng: cách
mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa.
sự thật”17, Đại hội phân tích sâu sắc 6 nguyên nhân chủ quan, nêu rõ những
sai lầm, khuyết điểm trong hoạt động của Đảng về công tác quản lí và xây
dựng bộ máy Nhà nước. Trên cơ sở đó, Đại hội đã rút ra 4 bài học, trong đó
bài học đầu tiên là: “ trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt
tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân lao động”18. Báo cáo chính trị tại Đại hội còn phân tích thêm: “Bài học
lớn rút ra trong những năm qua là trong điều kiện Đảng cầm quyền, phải đặc
biệt chăm lo củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân; tiến hành thường
xuyên cuộc đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa quan liêu. Mỗi đảng
viên cộng sản phải thật sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân. Mọi chủ trương chính sách của Đảng phải xuất phát
từ lợi ích nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy
được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng...”. Với những căn cứ xác đáng
đó, Đảng ta đã từng bước đề ra phương hướng sát hợp trong việc đổi mới hoạt
động của Nhà nước, xây dựng nhà nước đáp ứng với yêu cầu của cách mạng
trong giai đoạn cách mạng mới.
Đại hội VII của Đảng thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội” đã xác định nhiệm vụ “Sửa đổi hệ thống
tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật
17 . Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội,
tr. 12.
18 . Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Sđd, tr. 29.
22
pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lí của Nhà nước.
Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn
trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ
chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng,
rộng và phát huy chế độ dân chủ trực tiếp, nhất là ở cơ sở...” 20. Nghị quyết
Hội nghị trung ương Tám (khóa VII) là bước đột phá trong việc đổi mới hệ
thống chính trị mà trọng tâm, trụ cột là nhà nước. Nhiệm vụ trọng tâm cải
cách một bước nền hành chính nhà nước, chính là đáp ứng yêu cầu bức xúc
của nhân dân trong các giao dịch dân sự, phát triển kinh tế, tổ chức đời sốngxã hội trong công cuộc đổi mới.
Thành tựu và hạn chế :
Trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ (1945-1954)
Về kinh tế: Nạn đói được đẩy lùi, đời sống nhân dân dần được ổn định.
Các ngành kinh tế công thương nghiệp, giao thông vận tải dần được phục hồi.
Về chính trị: Lần đầu tiên tất cả công dân Việt Nam được thực sự thực
hiện quyền ứng cử và bầu cử của mình để bầu ra Quốc hội của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa, ở đây Quốc hội đã xây dựng xong Hiến pháp, trong
đó chứa đựng những quyền dân chủ cơ bản của nhân dân.
Về văn hóa, tư tưởng: Dưới chế độ cũ hơn 90% nhân dân bị mù chữ, là
cản trở to lớn để thực hiện dân chủ của nhân dân. Đảng và Hồ Chủ tịch phát
động phong trào “bình dân học vụ” để xóa nạn mù chữ, coi đó là một trong ba
thứ giặc (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm) phải tiêu diệt. Từ năm 1945 đến
năm 1954, có 10,5 triệu người đã thoát nạn mù chữ21
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa (1954-1985)
Từ tháng 7-1954 miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Trong những năm đầu miền Bắc tiến hành khôi phục kinh tế, tuy có sai
lầm trong cải cách ruộng đất nhưng căn bản đã xác lập được quyền sở hữu
ruộng đất cho nông dân. Từ làm chủ về kinh tế, nông dân miền Bắc có điều
kiện để làm chủ về chính trị. Chính quyền được củng cố và kiên quyết trấn áp
những phần tử phản động định lợi dụng sai lầm của cải cách ruộng đất để phá
hoại cách mạng. Từ năm 1958 tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa với mong
20 . Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương khóa VII.
Lưu hành nội bộ, Hà Nội, tr. 29-30.
21 . Việt Nam con số và sự kiện 1945-1989 (1990), Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 69.
phân chia sản phẩm theo định suất đã triệt tiêu động lực trực tiếp thúc đẩy
22. Việt Nam 1975-1990, thành tựu và kinh nghiệm (1991), Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 36.
25