LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI TĂNG ĐỘNG CỦA TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI TRONG LỚP MẦM NON HÒA NHẬP - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHAN THỊ MINH HẬU

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI TĂNG ĐỘNG CỦA
TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI TRONG LỚP
MẦM NON HÒA NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

Hà nội – 2015
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHAN THỊ MINH HẬU

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI TĂNG ĐỘNG CỦA
TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI TRONG LỚP
MẦM NON HÒA NHẬP
Chuyên ngành: Giáo dục đặc biệt
Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ THÚY HẰNG

Hà nội – 2015
2

5


MỤC LỤC

6


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Cương lĩnh hành động về nhu cầu giáo dục đặc biệt thông qua tại Hội
nghị thế giới về giáo dục trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt tổ chức tại
Salamanca, Tây Ban Nha năm 1994 nhấn mạnh: Các trường học chính quy
theo hướng hoà nhập là phương thức tốt nhất để xoá bỏ thái độ phân biệt, tạo
ra cộng đồng thân ái, xây dựng một xã hội cho tất cả mọi người. Cương lĩnh
là định hướng cho các quốc gia lựa chọn cách tiến hành giáo dục khuyết tật
phù hợp với xu thế chung của xã hội [7].
Sau cam kết thực hiện Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990
của Chính phủ Việt Nam, vấn đề đảm bảo quyền và cơ hội học tập của mọi trẻ
em ở tất cả các bậc học, trong đó có cơ hội được học và hoà nhập cộng đồng
của TKT được đề cập trong nhiều văn bản pháp quy của nước ta.
Văn kiện Hội nghị lần 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã
nhấn mạnh: Có thực hiện tốt vấn đề xã hội hóa giáo dục mới thực hiện mục tiêu
giáo dục mầm non (GDMN) trong hiện tại cũng như thực hiện mục tiêu đến
năm 2020 “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết
trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi day trẻ tại gia đình”. Quyết định
số 239/QĐTTg ngày 9/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề
án Phổ cập giáo dục mầm non năm tuổi giai đoạn 2010 đến 2020 có nêu rõ:
“Bảo đảm hầu hết trẻ em năm tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực

RLPTK đều có những vấn đề về hành vi ở các dạng khác nhau và mức độ
khác nhau, trong đó hành vi tăng động là một trong số những hành vi làm cho
trẻ gặp nhiều khó khăn khi tham gia các hoạt động vui chơi, học tập, giao tiếp
và hòa nhập trong trường học.
Trẻ RLPTK bước sang giai đoạn 5 – 6 tuổi, ngoài việc trẻ tiếp tục củng
8


cố các kĩ năng phát triển ở giai đoạn trước đó, trẻ còn cần học các kĩ năng mới
cũng như chuẩn bị tâm thế để sẵn sàng bước sang giai đoạn học tập ở lớp 1.
Tuy nhiên, những hành vi tăng động của trẻ RLPTK sẽ làm cho trẻ khó tập
trung hơn vào quá trình học và thực hiện kĩ năng mới, khó khăn khi tham gia
các hoạt động học hòa nhập cùng trẻ khác và có sự hạn chế trong chuyển dịch
các thói quen hoạt động, qui định nề nếp để sẵn sàng tâm lí trước khi bước
sang bậc tiểu học.
Mặt khác, vấn đề giáo dục trẻ RLPTK ở nước ta còn mới mẻ, chỉ thực
sự quan tâm trong khoảng gần 10 năm trở lại đây. Kinh nghiệm giáo dục trẻ
RLPTK và các nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lí hành vi tăng động còn
hạn chế. Các nghiên cứu về trẻ RLPTK chủ yếu tập trung vào vấn đề quản lí
hành vi cho trẻ nói chung mà chưa đi sâu vào các biện pháp quản lí hành vi
tăng động của trẻ. Vì vậy, trước các biểu hiện hành vi bốc đồng, tăng động
thái quá của trẻ RLPTK luôn là một vấn đề thách thức đối với giáo viên.
Trong quá trình tổ chức lớp học, các giáo viên chủ yếu làm theo kinh nghiệm
bản thân hoặc thậm chí bỏ lơ trẻ tự kỉ . Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng giáo dục trẻ RLPTK, làm cho chất lượng giáo hòa nhập chưa cao.
Với các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Biện pháp quản
lý hành vi tăng động của trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 – 6 tuổi trong lớp mầm
non hòa nhập” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng biện pháp quản lý hành vi

RLPTK 5 – 6 tuổi trong lớp hòa nhập.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Về địa bàn và khách thể nghiên cứu
10


-

Nghiên cứu 30 trẻ RLPTK 5 – 6 tuổi đang theo học tại các trường mầm non ở
Hà Nội, 30 giáo viên và 30 phụ huynh.

-

Đề tài chỉ thực nghiệm trên 02 trẻ RLPTK 5 – 6 tuổi có hành vi tăng động
đang học tại trường mầm non.
6.2. Về nội dung nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, tôi chỉ nghiên cứu biện pháp quản lý hành
vi tăng động của trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi học hòa nhập.
7. Phương pháp nghiên cứu
1

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Hồi cứu, phân tích, tổng hợp khái quát hóa nội dung các tài liệu , công

trình liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
2

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Nhằm thu được các thông tin


Chương 2: Thực trạng quản lý hành vi tăng động của trẻ rối loạn phổ
tự kỉ 5 – 6 tại trường mầm non hòa nhập.
Chương 3: Một số biện pháp và thực nghiệm một số biện pháp quản lý
hành vi tăng động của trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non hòa nhập.

12


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HÀNH VI CỦA
TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về quản lý hành vi trẻ RLPTK.
1.1.1

Trên thế giới
Vấn đề về hành vi và quản lý hành vi đã xuất hiện trong đời sống của con

người từ rất lâu đời. Từ hàng ngàn năm trước đây, khi con người sống theo bộ
tộc, loài người đã áp dụng các nguyên tắc để kiểm soát, hạn chế và thay đổi hành
vi từ ngàn năm trước đây. Người đứng đầu của một bộ tộc thường đưa ra những
nguyên tắc, những quy định quản lý những người nằm dưới quyền của họ phải
tuân thủ để duy trì cũng như phát triển bộ tộc. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các
vấn đề về hành vi của con người thì mãi sau này mới có.
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với sự phát triển mạnh mẽ của
các trường phái tâm lý học: Phân tâm học, Tâm lý học hoạt động, Tâm lý học
hành vi đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu về tâm lí và hành vi của
con người. Các nghiên cứu này được ứng dụng ở một số nước như: Anh, Mỹ,
Pháp, Canada, Úc,…Trong số đó, thuyết hành vi là một trong những lý thuyết
được nhiều nhà nghiên cứu theo đuổi và có nhiều thành tựu. Khởi đầu là
thuyết điều kiện hóa cổ điển ( Classical Conditioning) với những phát hiện
mang tính kinh điển của Ivan Petrovitch Pavlop, sau này được phát triển bởi

để điều trị sự lặp lại âm thanh của trẻ; Shabani & Fisher (2006) nghiên cứu về
điều trị sợ vật nhọn; P.A Alberto và V.A Troumat đã công bố công trình Phân
tích hành vi ứng dụng dành cho giáo viên (Applied Behavior Analalysis for
Teacher) đã đưa ra các cơ sở lý thuyết và phân biệt rõ các hành vi của trẻ
khuyết tật và đưa ra các biện pháp có hiệu quả trong giáo dục hành vi trẻ có
nhu cầu đặc biệt chính là việc phân tích hành vi ứng dụng và ứng dụng nó
trong môi trường giáo dục (2006). Một số nghiên cứu về can thiệp hành vi
14


sớm EIBI có hiệu quả trong cải thiện khả năng nhận thức, kĩ năng ngôn ngữ,
hành vi thích nghi ở trẻ (Cohen và cộng sự, 2006; Remington và cộng sự,
2007; Eikeseth và cộng sự , 2007).
Trị liệu nhận thức hành vi (Cognitive Behaivior Therapy/ CBT) cũng
cho thấy hiệu quả trong đào tạo kĩ năng, các rối loạn lo âu, sợ hãi… nhưng chỉ
áp dụng được ở những người tự kỉ chức năng cao (tức người có khả năng trí
tuệ tốt) (Sze, & Wood, 2007); White và cộng sự, 2009).
Mô hình can thiệp sớm Denver (Early Star Denver Model/ ESDM) của
tiến sỹ Sally Rogers và Geraldine Dawson (2009) là cách tiếp cận hành vi
sớm toàn diện cho trẻ từ 12 tháng đến 48 tháng. ESDM là sự kết hợp giữa các
kỹ thuật dạy đã được nghiên cứu và chứng minh hiệu quả của ABA, các
nghiên cứu đã chỉ ra tính hiệu quả trong việc cải thiện trí tuệ, ngôn ngữ, hành
vi thích ứng và giảm thiểu các triệu chứng RLPTK.
Bên cạnh phương pháp trên còn có các phương pháp trị liệu khác sử
dụng trong quản lý hành vi cho trẻ RLPTK như: (i) Trị liệu hành vi bằng
cách sử dụng động vật: xuất phát từ thực tế là các trẻ RLPTK chơi với động
vật dễ dàng hơn chơi con người. Vì vậy, có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng
một số trẻ RLPTK khi cho tiếp xúc với voi ( Thái Lan), cá heo ( Mĩ), các trẻ
này bớt tăng động hơn, đỡ hung tính hơn; (ii) Trị liệu âm nhạc: là “sử dụng
âm thanh và âm nhạc có tổ chức trong mối quan hệ liên quan giữa trẻ và nhà

cảm giác bị rối loạn tất yếu dẫn đến rối loạn nhận thức, đồng thời sẽ gây ra rối
loạn phát triển. Chính vì lý do đó mà trong trị liệu trẻ tự kỉ trị liệu cảm giác là
công việc rất quan trọng giúp trẻ nhận thức tốt hơn nhằm giảm thiểu và hạn
chế các hành vi không mong muốn; (v) Trị liệu bằng hóa dược: Được áp
dụng đối với trẻ RLPTK có hành vi tăng động hay trẻ mắc ADHD. Trẻ được
khuyên nên dùng thuốc để có thể làm giảm các triệu chứng: tính hiếu động,
kém chú ý, HV rập khuôn, HV tự hủy hoại, hung hăng, lo lắng quá độ, lầm lì,
16


khó ngủ. Tuy nhiên, thuốc không giải quyết vấn đề về triệu chứng chứ chưa
giải quyết được vấn đề căn bản dẫn đến HV của trẻ. Hơn nữa, rối loạn phổ tự
kỉ gồm nhiều biểu hiện khác nhau, các biểu hiện này cũng thay đổi ở mỗi trẻ
về tần xuất, mức độ nặng nhẹ là khác nhau, cho nên việc sử dụng thuốc để
QLHV của trẻ chưa được áp dụng đại trà.
Như vậy, các nghiên cứu nước ngoài về vấn đề quản lí hành vi cho
TKT nói chung và trẻ RLTK cho thấy, có rất nhiều phương pháp nhưng mỗi
trẻ RLPTK khác nhau sẽ được tiến hành các phương pháp khác nhau hoặc
tiến hành kết hợp các phương pháp tùy theo khả năng, mức độ, giai đoạn và
sự tiến triển của trẻ. Bên cạnh đó, việc lựa chọn phương pháp QLHV phù hợp
cho trẻ RLPTK còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: thời gian, kinh tế,
điều kiện thực tế của các gia đình, nhà trường sao cho có thể tiến hành
phương pháp thích hợp mang lại hiệu quả QLHV cao nhất.
1.1.2

Ở Việt Nam
Theo Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục của LHQ – UNESCO,

trẻ khuyết tật xứng đáng có quyền được hưởng nền giáo dục có chất lượng
giống như mọi trẻ khác trong cộng đồng học tập. Việt Nam là một trong

giáo trình Quản lý hành vi của trẻ khuyết tật trí tuệ (2014) của Trần Thị Minh
Thành và Nguyễn Nữ Tâm An và một số tác giả khác đã đề cập đến các khía
cạnh của quản lí hành vi và hỗ trợ hành vi cho trẻ ADHD và trẻ có nhu cầu
đặc biệt trong lớp học hòa nhập.
Các nghiên cứu về nhóm trẻ RLPTK, nhất là các nghiên cứu về QLHV
còn hạn chế. Các nghiên cứu đã có chủ yếu là các luận văn cao học của sinh
viên khoa giáo dục đặc biệt nên tính hệ thống, khoa học không cao; các
nghiên cứu sau hơn của học viên hay nghiên cứu sinh là từ những ngành như
tâm lý học, giáo dục học, quản lý giáo dục công tác xã hội,…. Mặt khác, đa số
các nghiên cứu này được thực hiện từ đầu những năm 2000, khi trẻ RLPTK
được xếp chung với nhóm trẻ khuyết tật trí tuệ, nên một số quan điểm, nhìn
18


nhận đánh giá mang tính chuyên sâu trong quản lí hành vi cho trẻ RLPTK vẫn
còn chưa thực sự phù hợp với trẻ.
Các biện pháp QLHV cho trẻ RLPTK được tiến hành các trung tâm,
các trường chuyên biệt, nhất là ở các gia đình rất đa dạng như: các phương
pháp can thiệp hành vi, tâm lý – giáo dục, trị liệu giác quan, trị liệu vận động,
trị liệu âm nhạc, trị liệu hóa dược (thuốc, oxy cao áp, ăn kiêng,…). Tuy nhiên,
các biện pháp lại mang tính tự phát là chủ yếu do đó chưa có báo cáo đánh giá
tính hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp này cho trẻ RLPTK mà chủ
yếu dựa trên những đánh giá cảm tính của các cha mẹ hay một số nhà chuyên
môn. Các biện pháp QLHV được sử dụng tại các bệnh viện thì mang tính hệ
thống hơn, thường xuyên hơn: phân tích hành vi ứng dụng (bệnh viện Nhi
Đồng II, Bệnh viện Nhi Trung ương), PECS (Bệnh viện Nhi Trung ương), trị
liệu ngôn ngữ (Khoa phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Nhi
Trung ương), thở oxy cao áp (Bệnh viện 108).
Công tác QLHV cho trẻ RLPTK ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, bởi
đội ngũ chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực này còn thiếu, các giáo viên chưa

như: có những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khiếm khuyết trong quá
trình phát triển ngôn ngữ, có những HV kỳ lạ lặp đi lặp lại nhiều lần, khởi
phát sớm trước 3 tuổi. Tuy nhiên, những nghiên cứu của ông ban đầu không
được đón nhận, sau đó đã được chú ý và nhanh chóng trở thành vấn đề thu hút
của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều nước. Sau đó, là công trình nghiên
cứu của bác sĩ Nhi khoa người Áo - Hans Asperger (1944) đã mô tả một dạng
tự kỉ nhẹ hơn Kanner mô tả rất nhiều. Sau này, người ta lấy tên ông đặt cho
rối loạn này gọi là hội chứng Asperger.
Các nghiên cứu sau này chỉ ra có nhiều nhóm trẻ khác cũng có các biểu
hiện của tính tự kỉ, cũng có những khó khăn tương tự nhưng không hoàn toàn
giống như mô tả của Kanner. Vì vậy, khái niệm trẻ tự kỉ cho đến bây giờ đã
thay đổi nhiều lần. Những thay đổi về thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí chẩn
đoán tự kỉ có thể được tìm thấy rõ nhất trong lịch sử của hai hệ thống phân
20


loại quốc tế. Đó là bảng thống kê, phân loại quốc tế về các bệnh và những vấn
đề liên quan đến sức khỏe (International Statistical Classification of
Diseasesand Related Health Problem - ICD) của tổ chức y tế thế giới và sổ tay
chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tinh thần (Diagnotic and STatistical
Manual of Mental Disorders - DSM) của hội tâm thần Mỹ. Trong những bản
đầu tiên, ICD chưa đề cập đến tự kỉ. Trong bản thứ 8 (1967), ICD chỉ đề cập
đến tự kỉ như là một dạng "tâm thần phân liệt" và lần thứ 9 (1977) thì đề cập
đến tự kỷ dưới tên gọi "rối loạn tâm thần tuổi ấu thơ". Các nhóm trẻ có “tính
tự kỉ” gọi chung là “ hội chứng tự kỉ” hay rối loạn lan tỏa [11]. Trong cuốn
ICD 10 (International statistical Classification of Diseases and Related Heath
Problems) và DSM – IV (Diagnostic and statistical Manual of Meltal
Disorder) thì các biểu hiện khiếm khuyết trên được cụ thể hóa trong các tiêu
chí chuẩn đoán.
Cuối của thế kỉ XX, do thay đổi trong cách nhìn nhận các vấn đề về an

cũng có sự phát triển giống với mọi trẻ em khác, tuy nhiên, do có RLPTK nên
ở một số mặt trẻ có những sự khác biệt như:
Sự phát triển về thể chất

1.2.2.1.

Trong các nghiên cứu trẻ RLPTK từ trước tới nay cho thấy rằng, về
mặt thể chất, trẻ RLPTK cũng giống như mọi trẻ em khác và hầu như không
có sự khác biệt về ngoại hình. Trẻ mắc RLPTK cũng lớn lên và đạt các mốc
phát triển thể chất giống như các bạn cùng tuổi khác. Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng hiện nay ít nhất 25 – 30% trẻ tự kỉ có
bệnh kèm theo. Những bệnh kèm theo đó là rối loạn tiêu hóa, táo bón, u xơ,
điếc, động kinh, sức khỏe suy giảm,...
Mặc dù sự phát triển về thể chất của trẻ đều đạt được như các mốc
thông thường, tuy nhiên, ở một số trẻ có những đặc điểm khác biệt về mặt vận
động, tư thế như: đầu lệch sang một bên, hai bên vai không cao bằng nhau,
dáng đi vai thõng xuống hay có kiểu đi bất thường: đi bằng gót chân, đi kiễng
22


chân,... Hầu hết các trẻ RLPTK đều khó khăn hoặc vụng về trong việc phối
hợp các động tác, các bộ phận cơ thể. Vấn đề về vận động tinh, kết hợp tay
mắt cũng làm cho trẻ khó khăn khi thao tác với các vật nhỏ, sử dụng kéo,
dùng bút để vẽ, viết,...[29].
Đặc điểm nhận thức

1.2.2.2.

a) Đặc điểm cảm giác, tri giác
Vấn đề về cảm giác và tri giác ở trẻ RLPTK không phân định độ tuổi

nghe thấy tên mình khi được gọi tên trong giờ học, chậm chạp với các kích
thích, không thích các hoạt động thể chất mới, luôn thích ngồi một chỗ,…
Những trẻ này thường không được chú ý trong lớp học vì chúng ít gây ảnh
hưởng đến lớp học; (ii) Nhóm có xu hướng tìm kiếm các kích thích. Ngược
lại với nhóm thụ động, trẻ RLPTK thuộc nhóm này sẽ luôn luôn tìm kiếm các
kích thích để thỏa mãn nhu cầu cảm giác của mình. Trẻ thường có những biểu
hiện như: di chuyển liên tục, không ngồi yên trên ghế; thích những phản ứng
có tính chất mạnh mẽ từ người khác (của cô giáo, bố mẹ,.. phản ứng khi trẻ
gây ra lỗi); thích đập phá, đánh, nhảy và hành động thô bạo; dễ gây ra các
hoạt động nguy hiểm (trèo lên cây, nhảy xuống từ trên cao,..); trẻ có thể
thường xuyên tự làm đau mình hoặc người khác,… Đây cũng chính là một
trong những yếu tố gây tăng động ở trẻ RLPTK.
b) Đặc điểm chú ý:
Trẻ RLPTK có HVTĐ thường có khả năng chú ý kém hơn so với các
trẻ em bình thường khác. Trẻ có các đặc điểm đặc thù sau:
- Tỏ ra không quan tâm, chú ý lắng nghe người khác nói, không tuân
theo hướng dẫn.
- Khó khăn duy trì chú ý trong công việc cũng như duy trì việc tham
gia trò chơi và thường thất bại trong các nhiệm vụ đòi hỏi phải tập trung chú
ý.
- Thường không chú ý đến các chi tiết, hay gặp sai sót trong học tập,
trong công việc và trong các hoạt động khác.
24


- Thường sao nhãng, đãng trí, dễ bị cuốn hút vào những kích thích bên
ngoài.
- Thường xuyên cần sự định hướng lại của người lớn.
c) Đặc điểm tư duy, tưởng tượng
Ở cuối tuổi mẫu giáo, trẻ bước sang một hình thức tư duy mới, xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status