LỜI NÓI ĐẦU
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới của đất nước ta trông thời gian qua đã
tạo ra thế và lực mới. Tạo ra nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa và hiện đại
hóa. Quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới cũng được mở rộng hơn bao giờ
hết. Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao,
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Tuy nhiên ưu thế về
vốn , công nghệ, thị trường thuộc các nước phát triển, khiến cho các nước đang phát
triển và các nước chậm phát triển đứng trước nhiều thử thách to lớn. Nguy cơ tụt hậu
xa hơn về nền kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thử thách to lớn và gay
gắt do điểm xuất phát của chúng ta quá thấp lại đi lên trong môi trường cạnh tranh
quyết liệt.
Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước ta
cần lên tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi
mới kinh tế đóng vai trò then chốt và chủ đạo. Đồng thời đổi mới về chính trị cũng
mang tính cấp bách bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau không thể tách rời. Chính vì vậy, tìm hiểu giữa mối quan hệ vật chất và
ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng nó vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
của đất nước, giúp cho công cuộc xây dựng nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển,
ngày càng giàu mạnh.
Sau một thời gian nghiên cứu và học tập, cùng với sự tận tình giảng dạy của cô,
chúng em đã chọn làm thảo luận về đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Sự vận dụng của Đảng cộng sản
Việt Nam trong quá trình hình thành đất nước.”. Do thời gian và kiến thức có hạn
cho nên bài viết của nhóm em không tránh khỏi thiếu sót, vậy nên rất mong nhận
được ý kiến đóng góp từ cô giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn cô!
CHƯƠN G 1 : Lý luận chung về quan hệ giữa vật chất và ý thức
1
1.1.2: Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: tồn tại là phương thức tồn tại của vật
chất, không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất.
- Vận động là phương pháp tồn tại của vật chất
Ph.Ăngghen định nghĩa: “ Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất- tức được hiểu
2
là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì
bao gồm mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí
đơn giản cho đến tư duy”. Ph.Ăngghen chia vận động thành 5 hình thức: vận động cơ
học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội. Các
hình thức vận động được sắp xếp theo thứ tự từ trình độ thấp đến trình độ cao và
chúng có quan hệ mật thiết với nhau.
-Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất.
Vật chất luôn vận động và phát triển, sự vận động ấy không đâu khác ngoài
không gian và thời gian. Không gian và thời gian là hình thức cơ bản của mọi tồn tại.
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động về mặt vị trí, quảng tính, kết
cấu. Còn thời gian hình thức tồn tại của vật chất vận động về mặt độ dài diễn biến, sự
kế tiếp nhau của quá trình.
Là hình thức tồn tại của vật chất, không gian và thời gian tồn tại khách quan, bị
vật chất quy định; trong đó không gian có 3 chiều: chiều cao, chiều rộng, chiều dài;
thời gian có một chiều: chiều từ quá khứ đến tương lai.
1.1.3: Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: bản chất của thế giới là vật chất, thế
giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Nó thể hiên ở những điểm sau:
- Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất
- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, cô hạn, không được snh ra và không bị mất
đi.
- Mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan, thống nhất với nhau.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội dung
của ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là cái phản ánh thế giới khách
quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ quan. Ý thức không có
tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu
tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý thức à sự phản ánh thế giới bởi bộ não con
người.
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách
quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tuy
nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở
thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do
nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông
qua hoạt động lao động.
Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội: Ý thức – trong bất kỳ
trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự
phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc. Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát
triển xã hội nên về bản chất là có tính xã hội: Ý thức không phải là một hiện tượng tự
4
nhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã hội. ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội,
phản ánh những quan hệ xã hội khách quan.
“
“Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy đến
chừng nào con người còn tồn tại”.
”
1.3.1: Vai trò của vật chất đối với ý thức
Vật chất có trước có trước ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quết
định ý thức. Còn ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong bộ não con người.
Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: không có sự tác động của thế giới khách quan
5
vào trong bộ não người thì sẽ không có ý thức. Ý thức là sản phẩm của một dạng vật
chất có tổ chức cao là bộ não người. Thế giới vật chất là nguồn gốc khách quan của ý
thức. sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thưc bị các quy
luật sinh học, cấc quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định.
Vật chất quyết định nội dung của ý thức: ý thức là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan, nội dung của ý thức mang tính khách quan, do thế giới khách quan quy
định. Vật chất quyết định bản chất của ý thức. Vật chất quyết định phương thức, kết cấu
của ý thức.
Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và
xã hội nhất định. Những ước mơ phong tục, tập quán, thói quen nầy nẩy sinh trên những
điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiễn xã hội – lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học
cũng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiền đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học
tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng, văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của Các
Mác và Ăngghen.
1.3.2: Vai trò của ý thức đối với vật chất
Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó cũng
luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức.
Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất. Với tính độc lập tương đối của
mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người.
Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con
người. Biểu hiện ở chỗ: ý thức trang bị cho con người sự hiểu biết về thế giới xung
quanh, giúp con người xác định mục tiêu, lựa chọn phương pháp cho hoạt động của
luật khách quan.
Tính khách quan cũng đòi hỏi đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan. Đấu tranh chống
chủ nghĩa chủ quan không chỉ khẳng định và giữ vững thế giới quan duy vật mà còn có ý
nghĩa giúp chúng ta tránh khỏi thất bại trong hành động thực tế vì chủ nghĩa chủ quan
dẫn tới bệnh duy ý chí, tư tưởng nóng vội, phiêu lưu, mạo hiểm, bất chấp quy luật khách
quan, đôi khi hành động mù quáng, kết quả thường thất bại.
Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo
của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực,
năng động, sáng tạo ấy. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học; tích
cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá vào quần chúng để nó
trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hương dẫn quần chúng hành động. Mặt khác,
phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình
cảm , nghị lực cách mạng để có thể thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân
văn trong định hướng hành động.
Thực hiện nguyên tắc ôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trong
nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí;
đó là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý
muốn chủ quan, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược,.... Mặt khác,
cũng cần chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lý
luận, bảo thủ, trì trệ, thụ động,.... trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Chương 2: Sự vận dụng mối quan hệ vật chất và ý thức của
Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình hình thành đất nước
7
1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng
giữa kinh tế và chính trị:
Như chúng ta đã biết vật chất và ý thức có quan hệ biện chứng với nhau. Nhân tố
vật chất giữ vai trò cơ sở quyết định, còn nhân tố ý thức có tác dụng trở lại đối với nhân
thức, phát huy nỗ lực hoạt động chủ quan trong hoạt động của con người (như trong hoạt
động kinh tế của nước ta, trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi
8
xướng đã rất chú trọng trong việc đề cao yếu tố con người, làm cho ý thức thay đổi mới
thâm nhập vào cơ sở kinh tế và động viên quần chúng).
2. Sự vận dụng mối quan hệ vật chất và ý thức trong công cuộc đổi mới chính
trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thì Đổi Mới không phải là từ bỏ thực
hiện xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ quyền lãnh đạo duy nhất. Đổi
mới chỉ là thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cho đến nay, đổi mới về chính trị ở Việt Nam lac chuyển từ lãnh đạo chủ quan, duy
ý chí sang tôn trong quy luật khách quan của thị trường.
Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam chuyển từ chú trọng quan hệ hợp tác với các
nước XHCN sang chú trọng hợp tác đa phương, làm bạn với tất cả các nước, trên quan
điểm bình thường hóa các quan hệ với Mỹ, gia nhập các tổ chức ASEAN, APEC,
WTO,....
3. Sự vận dụng mối quan hệ vật chất và ý thức trong công cuộc đổi mới kinh tế
của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh
tế Việt Nam còn nhiều nhược điểm. Cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế nhiều
mặt mất cân đối, năng xuất lao động thấp, sản xuất chưa đảm bảo nhu cầu đời sống, sản
xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công
ngiệp, hàng hóa cho xuất khấu. Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra
những chỉ tiêu kế hoạch năm 1976-1980 quá cao và phát triển sản xuất vượt quá khả năng
của nền kinh tế. Đặc biệt là đã đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp
nặng, đặc biệt là cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở
miền Nam. Những chủ trương sai lầm đó cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao
cấp đã tác động xấu đến nền kinh tế, ảnh hưởng không tốt đến đời sống của nhân dân…
cơ sở, của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế. Đại hội lần thứ VI của Đảng
đã rút ra bốn kinh nghiệm lớn, trong đó kinh nghiệm: phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn
trọng và hành động theo quy luật khách quan. Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, mở ra
bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng đã tự phê bình
một cách nghiêm khắc, đã phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế
xã hội, đề ra các định hướng lớn và xác định chủ trương đổi mới, đặc biệt là đối với nền
kinh tế. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, ta đã đánh giá tình hình chính trị xã
hội Việt Nam sau hơn bốn năm thực hiện đường lối đổi mới: công cuộc đổi mới bước đầu
đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Tình hình chính trị của đất nước ổn định, nền
kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước, nguồn lực sản
xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được hạn chế bớt, đời sống vật
chất tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện.
Không chủ quan với những thành tựu đã đạt được, Đaị hội VII chỉ ra những tồn tại
lớn cần giải quyết, đặc biệt về nền kinh tế đó là: lạm phát còn ở mức cao, nhiều cơ sở sản
xuất đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm tăng lên…, đồng thời cũng tự phê bình về
10
việc chậm xác định rõ yêu và nội dung đổi mới, còn nhiều lúng túng và nhiều sơ hở trong
điều hành, quản lí vĩ mô nền kinh tế thị trường.
Như vậy, rõ ràng Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày càng vận dụng đúng đắn phương
pháp luận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi
mới, tiến hành đổi mới kinh tế trước để tạo điều kiện đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đại
hội VII, sau khi đã phân tích sâu sắcđặc điểm tình hình quốc tếvà trong nước đã đề ra
mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, những phương châm chỉ đạo trong 5 năm
1991-1995 , đặc biệt đáng chú ý là phương châm kết hợp động lực kinh tế và động lực
chính trị tinh thần.
Lạm phát được đẩy lùi từ 67% năm 1991 xuống 17.5% năm 1992 và còn 5.2% năm
trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương, công tác tư tưởng và quản lý cán
bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng. Lúc này, quán triệt nguyên tắc khách quan,
khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí chính là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta.Nhiệm
vụ này chỉ được thực hiện nếu chúng ta biết kết hợp nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa
học.
Trên tinh thần đó, cùng với những kinh nghiệm đã thu được những năm đổi mới,
Đại hội VIII lần này, Đảng cũng đã đi từ thực tế khách quan, đánh giá những đặc điểm
của tình hình kinh tế chính trị xã hội Việt Nam. Đảng cũng đã nhận định những thuận lợi
và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau. Vì vậy, chúng ta phải chủ động nắm thời
cơ, vươn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra thế và lực mới, đồng thời luôn tỉnh táo,
kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ, kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, đảm bảo
phát triển đúng hướng. Xuất phát từ tình hình nói trên và căn cứ vào Cương lĩnh của
Đảng, cần nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước ta thành 1 nước công
nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình đọ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Quyết
tâm từ nay đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Và thực tế trong những năm qua, với những chính sách phát triển kinh tế chính trị
xã hội, chính sách ngoại giao hợp lý, chúng ta đã đạt được những bước tiến quan trọng:
bình thường hóa quan hệ với Mỹ, là thành viên của khối ASEAN (Hiệp hội các nước
Đông Nam Á), đặc biệt năm 1998, ta đã trở thành thành viên của khối APEC (Diễn đàn
hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương),…từ chỗ bị bao vây cấm vận nước ta đang
từng bước hòa nhập với thế giới, có quan hệ ngoại giao với hơn 180 nước, quan hệ kinh
tế với hơn 220 thị trường nước ngoài. Đồng thời cân bằng quan hệ với các nước lớn, tăng
cường quan hệ với các nước láng giềng khu vực. Điều đó có ý nghĩa to lớn trong việc giữ
vững môi trường hòa bình và ổn định, là nền tảng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao, năm 1996 là 9,3% ; năm 1987 là 8,2% ; năm
1998 là 5,8% (Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực). Lạm phát
xã hội càng đòi hỏi chúng ta phải kiên trì, giữ vững lòng tự tin, quyết tâm khắc phục khó
khăn đồng thời phải tỉnh táo, thông minh, nhạy bén để thích ứng kịp thời với tình hình
thực tế biến đổi từng ngày từng giờ. Để phát huy tính năng động chủ quan phải kết hợp
chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học. Rõ ràng việc đảm bảo sự thống
13
nhất giữa nhiệt tình, ý thức cách mạng và tri thức khoa học là hết sức cấp bách và cần
thiết. Bởi vì tri thức khoa học có được hay không cũng nhờ lòng hiểu biết, trí thông minh,
ý trí quyết tâm học tập và nhận thức khoa học; ngược lại nếu trí thắc khoa học phát huy
được tác dụng trong thực tế thì nó lại trở thành động lực tăng thêm ý trí và nhiệt tình cách
mạng.
4. Sự vận dụng mối quan hệ vật chất và ý thức trong công cuộc đổi mới văn hóa
đất nước của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Đổi mới văn hóa ở Việt Nam thì được biết dưới tên Cởi Mở, tương tự như chính
sách Glanstnost của Nga Xô. Quá trình này bắt đầu cùng Đổi mới kinh tế nhưng sau đó
dừng lại trong thập niên 1990. Việc đổi mới văn hóa là điều cần thiết để hòa nhập với xu
thế của đất nước, nhưng những tinh hoa văn hóa nên được bảo toàn và gìn giữ, lưu truyền
cho các thế hệ sau.
5. Sự vận dụng mối quan hệ vật chất và ý thức trong công cuộc đổi mới các mặt
khác của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Đổi mới trên các mặt khác vẫn đang diễn ra và vẫn chưa có các tổng kết khoa học
về vấn đề này. Ví dụ: Việt Nam đang đổi mới giáo dục: chuyển từ lối giáo dục truyền
thống của Á Đông sang phương pháp giáo dục lấy người học làm trọng, tấn công trực
tiếp và bệnh thành tích.
KẾT LUẬN
Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận
dụng thành thạo mối quan hệ biện chứng vào việc nghiên cứu và quản lý kinh tế, phát huy
11. Tạp chí cộng sản.
12. Trang web điện tử .
15