Chương 3:
CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH MỘT CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC MẦM NON
1. Các bước tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học GDMN.
1.1. Logic các bước tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học GDMN
(logic tiến trình).
1.1.1. Giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu:
Để tiến hành một nghiên cứu khoa học GDMN phải chuẩn bị thật đầy đủ về
mọi mặt cho công việc. Bước chuẩn bị có vị trí đặc biệt, nó góp phần quy định chất
lượng của công trình nghiên cứu. Chuẩn bị nghiên cứu bắt đầu từ xác định đề tài và
kết thúc ở việc chuẩn bị lập kế hoạch tiến hành nghiên cứu.
a) Xác định đề tài nghiên cứu.
Đề tài khoa học là một vấn đề khoa học được xây dựng trên cơ sở phát hiện
các mâu thuẫn trong lý thuyết hoặc trong thực tiễn với kiến thức và kinh nghiệm đã
có không thể giải thích được. Mâu thuẫn này gây cản trở trong nhận thức hay trong
hoạt động thực tiễn. Như vậy, đề tài khoa học là vấn đề chưa biết, nếu được giải
quyết sẽ cho chúng ta những nhiểu biết mới, làm phong phú thêm kho tàng trí thức
của nhân loại.
b) Xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học.
Đề cương nghiên cứu khoa học là bản thuyết minh về tính cấp thiết, ý nghĩa,
nội dung và phương pháp nghiên cứu một đề tài khoa học. Đề cương có kết cấu
như sau:
b.1) Tính cấp thiết của đề tài hay lý do chọn đề tài
Trả lời câu hỏi tại sao chọn đề tài này để nghiên cứu. Câu hỏi này được trả
lời trên cơ sở phát hiện các mâu thuẫn, các thiếu sót của lý thuyết hay thực tế với
yêu cầu bức thiết phải giải quyết.
Tính cấp thiết của đề tài cũng có thể lập luận bằng cách xác định tầm quan
trọng các vấn đề ta vừa phát hiện. Giải quyết được các vấn đề này đem lại lợi ích
gì? Và ngược lại, nếu vấn đề không giải quyết sẽ dẫn tới thiệt hại gì cho tương lai
37
Khách thể là A
A
38
Đối tượng là B.
B
b.4) Giả thuyết khoa học
Để tiến hành khám phá đối tượng chưa biết, một thao tác kỹ thuật hết sức
quan trọng trong nghiên cứu khoa học là tiến hành dự đoán bản chất đối tượng rồi
sau đó tìm cách chứng minh dự đoán đó. Như vậy, giả thuyết khoa học là tri thức
giả định về đối tượng, chức năng của nó là dự đoán và định hướng nghiên cứu. Giả
thuyết được xây dựng trên cơ sở phân tích đối tượng và so sánh với những đối
tượng khác gần giống đã biết, bằng phép tương tự kết hợp với trí tưởng tượng sáng
tạo, nhà khoa học dự đoán bản chất đối tượng.
Xây dựng giả thuyết phải tuân theo các yêu cầu sau:
- Không mâu thuẫn với những lý thuyết khoa học đã được chứng minh hay
với thực tế hiển nhiên.
- Giả thuyết được trình bày dễ hiểu để có thể kiểm tra được.
- Mọi giả thuyết khoa học đều phải được chứng minh. Nếu giả thuyết được
chứng minh là đúng thì nó trở thành một bộ phận của lý thuyết khoa học. Giả
thuyết được chứng minh tức là đề tài được thực hiện. Vì vậy, có thể nói thực chất
của một công trình nghiên cứu khoa học là chứng minh một giả thuyết khoa học.
b.5) Nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ đối tượng, mục đích và giả thuyết khoa học, xuất hiện một thao tác mới,
đó là xác định nhiệm vụ nghiên cứu cho đề tài. Xác định nhiệm vụ nghiên cứu là
xác định công việc cụ thể phải làm, đó chính là mô hình dự kiến của nội dung đề
tài, các nhiệm vụ nếu được thực hiện có nghĩa là đề tài được hoàn thành.
- Những kết luận đề xuất và khuyến nghị khoa học.
c) Xây dựng kế hoạch nghiên cứu cho một đề tài khoa học.
Xây dựng kế hoạch nghiên cứu là bản thuyết minh kế hoạch tiến trình đề tài.
Bản kế hoạch nghiên cứu có 2 phần:
c.1) Phần chung:
- Tên đề tài...
- Thuộc chuyên nghành nghiên cứu...:
- Nơi đăng ký ...
- Cấp quản lý...
- Cơ quan chủ trì chương trình
- Cơ quan chủ trì đề tài ...
- Chủ nhiệm đề tài.
40
- Cơ quan phối hợp nghiên cứu...
- Cơ quan phối hợp chính.
- Điểm qua tình hình nghiên cứu, điều tra trong nước, ngoài nước.
- Mục tiêu của đề tài.
c.2) Phần cụ thể:
c.2.1) Nội dung, tiến độ tiến hành:
- Nội dung các bước tiến hành đề tài.
- Kết quả phải đạt được.
nhiệm vụ của quá trình nghiên cứu.
b) Thu thập, xử lý các tài liệu thực tiễn
Cùng với quá trình tìm hiểu cơ sở lý thuyết của đề tài, nhà nghiên cứu tiến
hành việc thu thập các tài liệu thực tiễn, bằng con đường trực tiếp điều tra, quan sát,
thực nghiệm, nghiên cứu sản phẩm hoạt động v.v. bằng phương pháp nghiên cứu
thực tiễn thu được những tài liệu chân thực, phục vụ cho đề tài.
c) Tổ chức thực nghiệm khoa học
Thực nghiệm là chứng minh giả thuyết, kiểm tra các luận điểm khoa học đã
được rút ra từ các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cho nên thực nghiệm phải
được tiến hành một cách thận trọng, nghiêm túc và nhiều khi phải tiến hành nhiều
lần ở nhiều địa bàn khác nhau, để các nghiên cứu đạt đến mức khách quan nhất.
Tất cả những tài liệu lý thuyết, thực tế và kết quả thực nghiệm được xử lý
nghiêm túc và viết thành văn bản. Với những đề tài khoa học lớn, ở những giai
đoạn này, người ta tổ chức Hội thảo, tiếp xúc chuyên gia. Các cuộc sinh hoạt như
thế giúp rất nhiều cho các tác giả hoàn thiện công trình của mình.
1.1.3. Giai đoạn hoàn thành công trình khoa học
Giai đoạn kết thúc quá trình nghiên cứu là giai đoạn thể hiện toàn bộ kết quả
nghiên cứu bằng một văn bản chính thức. Văn bản khoa học là một tài liệu trình
bày theo đúng mọi yêu cầu, kỹ thuật, nội dung khoa học, vừa có độ chính xác cao,
vừa có tư tưởng học thuật, đem lại nhiều điều mới mẻ cho khoa học, có tính thực
tiễn, có khả năng ứng dụng vào cuộc sống. Đề tài khoa học phải thực hiện tốt các
nhiệm vụ nghiên cứu, đưa ra được các luận chứng, các kiến giải khoa học, chứng
minh được các giả thuyết đã nêu ban đầu. Đề tài phải được thực hiện bằng các
phương pháp phong phú, chính xác, đem lại những tài liệu đáng tin cậy.
42
1.2. Logic cấu trúc một công trình nghiên cứu khoa học GDMN.
Bản chất của một công trình nghiên cứu khoa học là chứng minh lôgic. Bất
Đó là các phán đoán về đối tượng nghiên cứu, được hình thành bởi các số
liệu, sự kiện thu thập được từ quá trình quan sát hoặc thực nghiệm khoa học. Có thể
gọi đó là luận cứ khoa học.
1.2.3. Luận chứng:
Đó là cách thức, quy tắc, phương pháp tổ chức một phép chứng minh nhằm
vạch rõ mối liên hệ logic tất yếu giữa các luận cứ và giữa toàn bộ luận cứ với luận
đề. Luận chứng trả lời cho câu hỏi “chứng minh bằng cách nào?”.
Trong một nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu có thể sử dụng hai loại
luận chứng.
a) Luận chứng logic: bao gồm một chuỗi liên tiếp các phép suy luận, được
liên kết theo một trật tự xác định, chi phối nhau về nội dung phản ánh lẫn cơ cấu
logic của các luận điểm chứa trong đó.
b) Luận chứng ngoài logic: bao gồm phương pháp tiếp cận và phương pháp
thu thập thông tin.
- Phương pháp tiếp cận: là cách xem xét và phân tích một sự kiện. Tuỳ thuộc
phương pháp tiếp cận mà sự kiện có thể xem xét toàn diện hoặc phiến diện. Kết quả
của việc lựa chọn phương pháp tiếp cận sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả nghiên
cứ khoa học.
- Phương pháp thu thập thông tin: là cách thức theo đó người nghiên cứu
thiết lập được luận cứ khoa học.
2. Hướng dẫn về hình thức trình bày uận văn khoa học
Phần này dành cho các bạn sinh viên và nghiên cứu sinh đang chuẩn bị luận
văn sau đại học. Dù ở bậc nào luận văn cũng cần được xem là một công trình
nghiên cứu khoa học.
Luận văn vừa mang tính chất một công trình nghiên cứu, nhưng lại vừa nhằm
mục đích học tập. Nó vừa phải thể hiện ý tưởng khoa học của tác giả, nhưng lại vừa
phải thể hiện kết quả của quá trình tập sự nghiên cứu trước khi bước vào cuộc đời
sự nghiệp khoa học thực sự.
2.1. Trình tự chuẩn bị luận văn
chính, thời gian...)
- Đề tài có phù hợp với sở thích hay không?
Kinh nghiệm cho thấy có 3 cách lựa chọn đề tài luận văn:
45
Cách 1: đề tài nằm hoàn toàn trong lĩnh vực kiến thức đã biết. Rõ ràng, cách này
không nên thực hiện, vì nó không đáp ứng được các căn cứ nêu trên.
kiến thức
đó biết
đề tài
lựa chọn
Cách 2: đề tài được lựac chọn nằm hoàn toàn trong lĩnh vực kiến thức chưa biết.
Nếu một nghiên cứu lựa chọn dạng đề tài này, cho dù nó có ý nghĩa khoa học thực
tiễn và mang tính cấp thiết cần nghiên cứu thì họ (người nghiên cứu) cũng khó có
đủ điều kiện để hoàn thành luận văn trong thời hạn cho phép được. Cũng không
nên chọn đề tài trong dạng này.
Kiến thức chưa biết
kiến
thức đó
biết
đề tài được
chọn
Cách 3: đề tài chọn nằm giáp ranh giữa lĩnh vực kiến thức đã biết và kiến thức chưa
biết cần nghiên cứu. Đây là cách hay và phù hợp cho người nghiên cứu mới bước
vào nghề nhiều nhất.
hoặc thực nghiệm.
2.2.Viết luận văn.
Cũng như báo cáo khoa học, luận văn được trình bày trên khổ giấy A4, đánh
máy một mặt. Nếu đánh máy chữ thì cách dòng 1,5. Nếu sử dụng chương trình soạn
thảo Microsoft Word, thì dùng cỡ chữ 13- 14, cách dòng 16 –18.
Sắp xếp kết cấu và bố cục có thể như sau:
a) Bìa:
Gồm bìa chính và bìa phụ hoàn toàn giống nhau và được viết theo thứ tự từ trên
xuống như sau:
- Tên trường, khoa, bộ môn nơi hướng dẫn sinh viên làm luận văn.
- Tên đề tài in bằng chữ lớn.
- Tên tác giả
47
- Địa danh, tháng, năm bảo vệ công trình.
b) Lời cảm ơn: trong trang này, tác giả có thể ghi lời cảm ơn đối với một cơ
quan đỡ đầu luận văn (nếu có) hoặc ghi ơn cá nhân, không loại trừ người thân,
những người có nhiều công lao đối với công trình nghiên cứu.
c) Mục lục: Thường đặt phía đầu sách tiếp sau bìa phụ.
d) Ký hiệu và viết tắt: liệt kê theo thứ tự vần chữ cái những ký hiệu và chữ
viết tắt trong luận văn để người đọc tiện tra cứu.
e) Lời nói đầu: cho biết một cách rất vắn tắt lý do và bối cảnh của đề tài, ý
nghĩa lý thuyết và thực tiễn của đề tài, kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn
đọng, những dự kiến sau chương trình nghiên cứu.
g) Tổng quan: phần này gồm các nội dung sau đây:
- Giới thiệu chung vấn đề nghiên cứu.
- Tổng quan lịch sử nghiên cứu và quan điểm lựa chọn vấn đề nghiên cứu
- Trình bày vắn tắt hoạt động nghiên cứu.
h) Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu.
non, NXB Đại học sư phạm, 2005.
7. Phạm Viết Vượng, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục.
Nhà xuất bản giáo dục, 1998.
49
Mục lục
Chương 1: Những vấn đề chung về nghiên cứu khoa học
2
1. Về nghiên cứu khoa học
2
1.1. Khái niệm và đặc điểm của nghiên cứu khoa học
1.2. Về nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non
1.3. Trẻ em- đối tượng cơ bản của nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non
2
2. Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non
6
2.1. Phương pháp nghiên cứu khoa học
6
2.2. Phương pháp hệ
8
2.3. Phương pháp luận
8
2.4. Một số phương pháp luận trong nghiên cứu trẻ em
9