Bài 12. Khẳng định sau đúng hay sai? Giải thích tại sao?
a. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm thực hiện trong
giai đoạn điều tra, truy tố?
b. Biên bản hoạt động điều tra, xét xử là một nguồn chứng cứ trong
TTHS?
Bài làm:
a. Khẳng định “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm thực
hiện ở tất cả các giai đoạn của TTHS” là sai, vì những lý do sau:
Thứ nhất, Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là những khả năng mà pháp
luật cho phép thực hiện các hành vi tố tụng, hướng tới sự chứng minh cho sự vô
tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình, chống lại sự buộc tội hoặc
tăng nặng trách nhiệm hình sự một cách vô căn cứ.
Thứ hai, Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước trong trình tự tố tụng có
nhiệm vụ riêng mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố
tụng. Luật tố tụng hình sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành 7 giai đoạn:
Khởi tố, Điều tra , Truy tố, Xét xử sơ thẩm, Xét xử phúc thẩm, Thi hành án, Thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm .
Thứ ba, theo khoản 1 điều 49 bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.
Như vậy, bị can chỉ tham gia vào quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố
và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Thứ tư, Theo khoản 1 điều 50 bị cáo là người đã bị tòa án quyết định đưa
ra xét xử. Như vậy, bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét
xử đến khi bản án quyết định của tòa có hiệu lực pháp luật, tức là bị cáo tham gia
vào quá trình tố tụng vào một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm, và giai đoạn xét xử
phúc thẩm.
Như vậy, mặc dù theo điểm e khoản 2 điều 49, và điểm e khoản 2 điều 50
bào chữa là quyền của bị can bị cáo được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên như đã
phân tích ở trên bị can, bị cáo chỉ tham gia vào một số giai đoạn của TTHS nên
không thể khẳng định rằng quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm thực
hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng. Ví dụ như trong giai đoạn thi
hành bản án trong giai đoạn này người bị buộc tội không được coi là bị cáo nữa
đựng các thong tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án
và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Theo quy định tại
khoản 2 điều 64 thì chứng cứ được xác định bởi 5 nguồn khác nhau, đó là vật
chứng, lời khai, kết luận giám định, biên bản về hoạt động điều tra xét xử và các
tài liệu đồ vật khác. Như vậy, biên bản về hoạt động điều tra xét xử là một trong
5 nguồn chứng cứ được liệt kê tại khoản 2 điều 64.
Thứ hai, Các hoạt động tố tụng trong điều tra và xét xử vụ án hình sự như
bắt người, khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất,
nhận dạng, thực nghiệm điều tra, tiến hành phiên tòa và các hoạt động tố tụng
khác đều thực hiện theo quy định của pháp luật và đều phải lập thành văn bản.
Mà theo điều 77 BLTTHS thì những tình tiết được ghi nhận trong các biên bản
được lập khi thực hiện các hoạt động điều tra xét xử trên đều có thể được coi là
chứng cứ.
Thứ ba, Xuất phát từ thực tế tiến hành tố tụng có thể khẳng định rằng
không có một vụ án nào lại thiếu được biên bản, bởi vì: mọi hoạt động tố tụng
được coi là hợp pháp công khai khi nó được ghi nhận trong biên bản.
Như vậy có thể khẳng định Biên bản hoạt động điều tra, xét xử là một
nguồn chứng cứ trong TTHS. Nguồn chứng cứ này có ý nghĩa rất quan trọng
trong hoạt động tố tụng. Đây là nguồn chứng cứ ghi nhận những sự việc mà cơ
quan tiến hành tố tụng thực hiện nên thông tin của nó đầy đủ về mặt nội dung,
chuẩn xác về mặt hình thức sẽ giúp cho chính cơ quan tiến hành tố tụng giải
quyết vụ án nhanh chóng thuận lợi. Nhiều vụ án có rắc rối và khó khăn không
phải ở quá trình xác minh, điều tra mà ở khâu ghi nhận các kết quả của quá trình
điều tra, xác minh trong biên bản. Ví dụ như trong vụ án sau: đó là vụ án Nguyễn
Văn Vạn (võ sư) cùng đồng bọ phạm tội giết người (anh Quân) ở TP. Hồ Chí
Minh ngày 19/12/1996; trong vụ án này có nhiều đối tượng tham gia, phạm tội
xong bỏ trốn, khai báo không thành khẩn và có biểu hiện mua chuộc người làm
chứng, gây rất nhiều khó khăn cho công tác đều tra. Song, cơ quan điều tra đã
làm khá tốt việc khám nghiệm hiện trường, thu thập đầy đủ dấu vết, vật chứng,
khám nghiệm tử thi và thương tích của người bị hại, ghi lời khai của người làm
Từ phân tích trên có thể khẳng định Biên bản hoạt đồng điều tra xét xử là
một loại nguồn chứng cứ không thể thiếu trong hoạt động TTHS, là căn cứ pháp
lý để cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết định cần thiết để giải quyết đúng
đắn và chính xác vụ án hình sự vì nếu không có loại nguồn này thì trong nhiều
vụ án sẽ không có chứng cứ để chứng minh, làm sáng tỏ các tình tiết và diễn
biến của vụ án, và có thể dẫn đến một hậu quả là các cơ quan tiến hành tố tụng
đưa ra kết luận không chính xác và không đầy đủ đối với vụ án hình sự. Với ý
nghĩa đó, theo ý kiến cá nhân em thì việc quy định “các tình tiết được quy định
trong biên bản hoạt động điều tra xét xử có thể được coi là chứng cứ” là chưa
tương xứng với ý nghĩa của loại nguồn này, nên cần thay bằng quy định là “có
thể” mà có thể khẳng định rằng những tình tiết đó “được coi là chứng cứ”. Đặc
biệt cần chú ý trong quá trình tiến hành lập biên bản thì cần chú ý đảm bảo các
quy định của pháp luật được ghi nhận tại điều 95, 125, 200 BLTTHS để đảm bảo
tính khách quan, chính xác của loại nguồn này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Nxb. Tư
pháp, Hà Nội 2006.
2. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2003.
3. (1) Hoàng Thị Sơn, thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong
TTHS, luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội, 2000.
4. (2) Dương Thanh Biểu, Một số vấn đề rút ra về công tác khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi trong một số vụ án có oan sai gần đây, Tạp chí
kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 11/2006, tr. 6 - 14
5. Trịnh Tiến Việt và Trần Thị Quỳnh, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà
Nội, Một số vấn đề về các loại nguồn chứng cứ trong bộ luật TTHS Việt Nam
năm 2003, tạp chí Kiểm sát số 12 (tháng 6-2005)
6. Đỗ Quang Thái, Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong
TTHS Việt Nam, luận án thạc sĩ luật học, Hà nội, 1998.