VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CAO PHƯƠNG THẢO
LỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG
CỦA QUÂN VÀ DÂN BÌNH DƯƠNG
(1954-1975)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số:
62 22 03 13
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
HÀ NỘI - 2016
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1.
PGS.TS. HỒ SƠN ĐÀI
2.
TS. TRẦN THỊ NHUNG
nhân dân, Hà Nội, 2004.
2.
“Phong trào chiến tranh nhân dân chống Mỹ ở Bình Dương 1965-1972”,
trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực
Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phóng”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2005.
3.
“Cuộc đấu tranh của quân và dân Bình Dương chống chiến lược “chiến
tranh cục bộ” của Mỹ (1965-1968), Tạp chí Khoa học Xã hội (Thành phố
Hồ Chí Minh), số 12 (172), năm 2012.
4.
“Vị thế của Bình Dương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ góc nhìn địa
lý quân sự”, Tạp chí Khoa học Xã hội (Thành phó Hồ Chí Minh), số 4
(200), năm 2015.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình Dương là một tỉnh thuộc phía Bắc miền Đông Nam Bộ, phía Bắc
giáp tỉnh Bình Phước, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh,
phía Tây Nam và Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vùng đất có vị trí
trọng yếu về kinh tế và quân sự, do nằm tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh,
thành phố lớn nhất nước, và nằm ở vị trí cầu nối giữa Nam Trường Sơn với Nam
Bộ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược của quân và
ngày nay.
1
1
như chưa có sự thống nhất cao trong việc nhận định, đánh giá từ các nhân chứng
lịch sử, nên lịch sử tỉnh Bình Dương nói chung và lịch sử đấu tranh cách mạng của
quân và dân tỉnh Bình Dương trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
nói riêng chưa được tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ. Vì vậy,
luận án về đề tài này sẽ góp phần bổ sung cho những công trình nghiên cứu về cuộc
đấu tranh cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ ở Bình Dương và miền Đông Nam
Bộ được toàn diện và sâu sắc hơn.
Ngoài ra, trước đây bản thân tác giả luận án cũng đã có điều kiện nghiên
cứu về lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Bình Dương
(1945-1954), vì vậy những kinh nghiệm và tư liệu thu thập được từ quá trình
nghiên cứu sẽ giúp cho tác giả có thêm những hiểu biết cần thiết và điều kiện thuận
lợi để nhận thức một cách đầy đủ về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân
Bình Dương trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954-1975).
Từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên, vấn đề “Lịch sử đấu tranh cách
mạng của quân và dân Bình Dương (1954-1975)” được tác giả chọn làm đề tài
nghiên cứu cho luận án tiến sĩ Khoa học Lịch sử với mong muốn góp phần vào việc
tìm hiểu một cách có hệ thống và toàn diện về lịch sử đấu tranh cách mạng của
quân và dân Bình Dương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Bình Dương ngày nay được gọi với tên là tỉnh
Thủ Dầu Một, vì vậy chúng tôi sẽ gọi là tỉnh Thủ Dầu Một trong luận án của
mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu “Lịch sử đấu tranh cách mạng của quân
mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Nội dung nghiên cứu:
Đấu tranh cách mạng là phạm vi rất rộng. Luận án chỉ tập trung trình bày:
- Hoạt động của bộ máy chính trị tỉnh (Đảng, chính quyền cách mạng, Mặt
trận Dân tộc giải phóng tỉnh).
- Hoạt động của các lực lượng cách mạng (nông dân, công nhân, công
nhân cao su, học sinh sinh viên…).
- Hoạt động xây dựng căn cứ địa – hậu phương tại chỗ, chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hóa – xã hội…
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài luận án giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn từ tháng 7-1954 đến
tháng 4-1975, tức trong thời kỳ đấu tranh chống Mỹ cứu nước của quân và dân cả
nước. Mặc dù đề tài chỉ giới hạn trong giai đoạn này, nhưng thực tế cuộc đấu tranh
cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một có liên hệ rất lớn đối với các giai
đoạn trước. Do đó, luận án cũng đề cập khái quát đến lịch sử truyền thống của tỉnh
Thủ Dầu Một cho đến trước tháng 7-1954.
3.2.3. Không gian nghiên cứu
Luận án tập trung phản ánh các cuộc đấu tranh cách mạng chống Mỹ, cứu
nước của quân và dân trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một trong thời kỳ kháng chiến
chống Mỹ cứu nước gồm có thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên, huyện Bến Cát,
huyện Thuận An, huyện Phú Giáo (tức phạm vi thuộc tỉnh Bình Dương hiện nay,
bao gồm thành phố Thủ Dầu Một; các thị xã Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An, Dĩ An
và các huyện Bến Cát, Dầu Tiếng, Phú Giáo, Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên).
Đồng thời, luận án cũng chú trọng mở rộng hướng nghiên cứu, đặt cuộc
đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một trong tiến trình đấu tranh
cách mạng trên phạm vi toàn miền Nam và cả nước, để từ đó làm nổi bật những nét
đặc thù của tỉnh Bình Dương trong các cuộc đấu tranh cách mạng chống Mỹ, cứu
nước.
thời kỳ, từng giai đoạn cũng như trong suốt quá trình chống Mỹ xâm lược (từ 1954
đến 1975). Qua đó rút ra những bài học bổ ích cho công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay.
- Phương pháp phỏng vấn hồi cố: Nhằm khai thác tư liệu từ các nhân
chứng lịch sử, nhất là các nhân chứng đã trực tiếp tham gia các trận đánh lịch sử,
các phong trào đấu tranh tiêu biểu, sôi nổi trong giai đoạn 1954-1975, để thu thập
thêm nguồn tư liệu sống, đối chiếu và bổ sung thêm vào nguồn tư liệu thành văn có
phần ít ỏi, phân tán ở các giai đoạn này; góp phần làm rõ thêm hiện thực sinh động
của nội dung nghiên cứu mà tài liệu thành văn chưa phản ánh đầy đủ.
Bên cạnh đó, để giải quyết những vấn đề khoa học của luận án, tác giả vận
dụng thêm các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, liên ngành trong việc khai thác,
chọn lọc và phân tích các tài liệu thu thập được.
4
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Về tài liệu
Sưu tầm và hệ thống hóa các tài liệu đa dạng và phong phú từ nhiều nguồn
như thư viện, bảo tàng, cục lưu trữ, nguồn tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được,... về
lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). Luận án góp phần bổ sung tài liệu phục vụ
cho việc tham khảo, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương. Đây đồng thời là
nguồn tài liệu bổ khuyết cho việc nghiên cứu về lịch sử đấu tranh của quân và dân
miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Thủ Dầu Một nói riêng trong một giai đoạn
kháng chiến đầy cam go và thử thách.
5.2. Về nội dung
- Luận án góp phần phục dựng một cách hệ thống và toàn diện về tiến trình
đấu tranh cách mạng của quân và dân tỉnh Thủ Dầu Một trong 21 năm chiến tranh giải
phóng (1954-1975). Đặc biệt, chúng tôi chú ý đến việc làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng
thực tiễn của đề tài luận án.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận án gồm 4 chương:
- Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài
luận án.
- Chương 2. Những yếu tố địa lý và lịch sử chi phối đến cuộc đấu tranh cách mạng
của quân và dân Thủ Dầu Một
- Chương 3. Diễn biến đấu tranh cách mạng của quân và dân Thủ Dầu Một
từ 1954 đến 1965.
- Chương 4. Diễn biến đấu tranh cách mạng của quân và dân Thủ Dầu Một
từ 1965 đến 1975.
- Chương 5. Đặc điểm và bài học kinh nghiệm.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu chung về cuộc kháng chiến chống Mỹ có
liên quan đến luận án
- “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học”
(Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ Chính trị, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 1996).
- Nhóm công trình về lịch sử kháng chiến của cả nước và Nam Bộ như:
“Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975”, gồm 9 tập (Viện Lịch sử
Quân sự Việt Nam, trực thuộc Bộ Quốc Phòng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2013). “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập II (1954-1975)” (Hội đồng chỉ đạo lịch
sử Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2010) và “Biên
niên sự kiện lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1945-1975” (Hội đồng chỉ đạo lịch sử
Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2010).
- “Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975)” (là công trình của Hội đồng chỉ đạo biên
cứu, cung cấp một số tư liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu mà tác giả sưu tầm
được trong quá trình thực hiện luận án.
CHƯƠNG 2
NHỮNG YẾU TỐ ĐỊA LÝ VÀ LỊCH SỬ CHI PHỐI ĐẾN CUỘC ĐẤU
TRANH CÁCH MẠNG CỦA QUÂN VÀ DÂN THỦ DẦU MỘT
2.1. Đặc điểm địa lý , tự nhiên, hành chính, quân sự và cư dân
2.1.1. Vị trí địa lý – điều kiện tự nhiên
Thủ Dầu Một (phần địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay) là một tỉnh thuộc
miền Đông Nam Bộ, nằm ở vị trí nối tiếp Nam Trường Sơn với đồng bằng sông
Cửu Long, có toạ độ địa lý 10.51’46” - 11.30’00” vĩ độ Bắc và 106.20’00” 106.58’00” kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, Đông giáp tỉnh Đồng
Nai, Tây giáp tỉnh Tây Ninh, Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Khí hậu chia
thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
2.695,22km2.
Trong thời kỳ kháng chiến, rừng rậm không chỉ có tác dụng “che bộ đội”
và “vây quân thù”…Đất đai rắn chắc và khô ráo cũng là điều kiện tốt để xây dựng
những công trình quân sự ngầm dưới lòng đất như các hầm vũ khí, lương thực, căn
cứ địa đạo v.v…Tóm lại, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã đem lại cho tỉnh Thủ
Dầu Một hai lợi thế về mặt quân sự: Có thể làm địa bàn trung chuyển nối các
hướng chiến trường và có thể gây áp lực mạnh mẽ cho địch ngay sát phía Bắc đối
với Sài Gòn.
2.1.2. Địa lý hành chính
Trong quá khứ, Bình Dương ngày nay trải qua nhiều lần tách nhập với
những tên gọi khác nhau.
Sau khi thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), chính
quyền thực dân thiết lập hạt thanh tra Biên Hòa trên địa bàn tỉnh Biên Hòa cũ.
Ngày 14-3-1866, huyện Bình An được tách khỏi hạt thanh tra Biên Hòa để lập
thành hạt thanh tra Bình An. Sau khi chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ngày 16-81867, chính quyền thực dân chia Nam Kỳ Lục tỉnh thành 24 hạt thanh tra. Hạt
thanh tra Bình An đổi tên thành hạt thanh tra Thủ Dầu Một. Ngày 20-12-1899,
Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ra nghị định đổi hạt tham biện
(Arrondissement) thành tỉnh (Province) và kể từ ngày 1-1-1900, hạt tham biện Thủ
Về tổ chức quân sự, Thủ Dầu Một là địa bàn án ngữ, là tuyến phòng ngự
chủ yếu bảo vệ cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn; là nơi kẻ thù thường xuyên bố trí một
lực lượng khối chủ lực, hình thành hệ thống căn cứ quân sự liên hoàn với hàng
trăm đồn bót dày đặc ở khắp tỉnh để vừa ngăn chặn, vừa làm vị trí xuất phát tiến
công quân cách mạng. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Thủ Dầu Một làm cho
vùng đất này có điều kiện thuận lợi để trồng cây cao su và phát triển các ngành thủ
công mỹ nghệ nổi tiếng. Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược miền Đông Nam Bộ,
họ đã liên tiếp cho xây dựng các hệ thống đường giao thông chiến lược, xây dựng
đồn bót, kho tàng, nhà máy xe lửa, đồn điền cao su… (mở đường quốc lộ 13, 14,
đồn binh Thủ Dầu Một, nhà máy xe lửa Dĩ An, đồn điền cao su Dầu Tiếng, Phước
Hòa, nạo vét cảng, xây dựng 3 chiếc cầu cập bến lớn, 1 nhà tù lớn, 1 tòa án, nhiều
trại lính, phục hồi và mở rộng khu chợ…) nhằm phục vụ công cuộc khai thác thuộc
9
địa và các mục đích quân sự, chính trị, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi
chiến tranh” ở Việt Nam và Đông Dương v.v…
Thủ Dầu Một là vùng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt quân sự
đối với cách mạng Việt Nam nên nơi đây có nhiều căn cứ địa cách mạng từ thời
chống Pháp như Chiến Khu Đ (Tân Uyên), chiến khu An Sơn, An Thành, Thuận
An Hòa, Long Nguyên, vùng căn cứ Tây Nam Bến Cát (An Điền, An Phú, An
Tây), vùng căn cứ Bắc Bến Cát (Thanh An, Thanh Tuyền, Long Nguyên) và hình
thành hệ thống căn cứ địa liên hoàn với các huyện trong tỉnh, tạo thành một tuyến
bàn đạp quân sự vững chắc, thuận lợi trong việc tấn công kẻ thù.
2.1.4. Cư dân Thủ Dầu Một
Thủ Dầu Một là vùng đất sinh tụ của tộc người Ang-đô-nê-diên cổ đại, tổ
tiên của người Stiêng, Mạ, Mơnông ngày nay. Cho đến cuối thế kỷ XVI, Thủ Dầu
Một vẫn còn là nơi hoang sơ, có nhiều rừng rậm, đầm lầy, ao hồ với đầy cây cỏ, bụi
rậm. Các nhóm dân tộc bản địa với số dân ít ỏi như người Mạ, Stiêng, Khmer,
nghĩa của Trương Định, Trương Quyền… đã tích cực đấu tranh chống Pháp xâm
lược.
Những năm đầu thế kỷ XX, trên địa bàn Thủ Dầu Một, một số gia đình
thuộc tầng lớp nho sĩ cấp tiến đã cho con cháu của họ tham gia phong trào Đông
Du, đồng thời hưởng ứng các cuộc vận động duy tân, chấn hưng thực nghiệp, mở
trường dạy học theo lối mới, cổ động dùng chữ quốc ngữ… Đặc biệt, Thiên Địa
Hội ở Thủ Dầu Một với phương châm “phản Pháp, phục Nam” cũng đã tích cực
chuẩn bị lực lượng chống Pháp. Từ thập niên 20 (thế kỷ XX), “Hội Danh dự” phát
triển từ chùa Hội Khánh (Thủ Dầu Một) và mở rộng cơ sở ra các làng trong quận
Châu Thành.
Tháng 1-1930, chi bộ An Nam Cộng sản đảng đề-pô xe lửa Dĩ An được
thành lập và không lâu sau đó chi bộ đề-pô xe lửa này được củng cố và trở thành
chi bộ chính thức (3-1930). Cùng thời gian này, tại làng Bình Nhâm (quận Lái
Thiêu), nhiều thanh niên từng tham gia phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh được
các đảng viên Đông Dương Cộng sản Liên đoàn giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin,
trở thành những hạt nhân nòng cốt trong phong trào cách mạng tại địa phương.
Trong cao trào cách mạng 1936-1939, các hoạt động đấu tranh đòi các
quyền dân sinh dân chủ diễn ra mạnh mẽ. Năm 1936, Tỉnh uỷ lâm thời Thủ Dầu
Một được thành lập đã đẩy mạnh công tác vận động tập hợp quần chúng vào các
Hội Tương tế, Hội Ái hữu, Uỷ ban hành động…; đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm
áo, hoà bình. Hàng chục cuộc đấu tranh của công nhân, thợ thủ công, nông dân,
công chức, tiểu thương, tiểu chủ… cũng liên tiếp nổ ra. Bất chấp lệnh cấm của
chính quyền thực dân, các Uỷ ban hành động ở Chợ Thủ, Lái Thiêu và các làng
Tân Thới, Bình Nhâm, Uyên Hưng, Mỹ Quới… vẫn tổ chức rải truyền đơn, dán
khẩu hiệu, đưa yêu sách đòi quyền lợi và chống khủng bố…
Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Tháng 8-1940,
Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một xúc tiến thành lập Uỷ ban khởi nghĩa và tổ chức xây dựng
lực lượng vũ trang được tiến hành khẩn trương, đồng bộ. Ngày 20-11-1940, lệnh
khởi nghĩa của Ban thường vụ Xứ uỷ được phổ biến đến các tỉnh, theo đó toàn xứ
sẽ đồng loạt khởi nghĩa vào nửa đêm 22-11-1940. Tỉnh uỷ và Uỷ ban khởi nghĩa
quân Pháp nhiều tổn thất nặng nề, nhất là ở Thủ Dầu Một. Chiến dịch Bến Cát
(1950) là chiến dịch lớn của toàn miền Đông Nam Bộ và qua đó sáng tạo được cách
đánh đặc công.
Ý thức được vai trò trọng yếu của Thủ Dầu Một – Bình Dương, quân và
dân Thủ Dầu Một đã kiên trì và quyết liệt đấu tranh cách mạng. Các biện pháp linh
hoạt từ giáo dục và phát động quần chúng bảo vệ cơ sở cách mạng, đòi thực dân
Pháp thực hiện các cam kết, đòi quyền dân sinh dân chủ đến xây dựng cơ sở nội
tuyến trong lòng đối phương, kết hợp với việc phân hóa cô lập kẻ thù, vận động
binh lính Pháp và tay sai đào, rã ngũ hoặc đi theo cách mạng, tiến công tiêu diệt
đồn bót…Những hoạt động này khiến thực dân Pháp hoang man, càng đàn áp thì
càng thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng của quân và dân Thủ Dầu Một trong
năm 1954, góp phần cùng cả nước đánh bại quân Pháp xâm luợc.
Tiểu kết chương 2.
CHƯƠNG 3
DIỄN BIẾN ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA QUÂN VÀ DÂN
THỦ DẦU MỘT TỪ 1954 ĐẾN 1965
3.1 Giai đoạn 1954-1960
3.1.1. Bối cảnh lịch sử, những âm mưu thủ đoạn của Mỹ, chính quyền
Sài Gòn và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau Hiệp định Genève (7-1954), Mỹ - Diệm tiến hành phá hoại Hiệp định
Genève và đàn áp cách mạng miền Nam.
12
Tháng 1-1955, Hội nghị Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ đầu tiên ở Thủ Dầu
Một được tổ chức tại Chiến khu Đ. Đến tháng 1-1959, Hội nghị Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ XV mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên giành
thắng lợi trong phong trào Đồng Khởi.
3.1.2. Hoạt động xây dựng và lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng
điền Dầu Tiếng, Hớn Quản, Lộc Ninh…để chống chính quyền Diệm.
3.2. Giai đoạn 1961-1965
3.2.1. Bối cảnh lịch sử, những âm mưu thủ đoạn của Mỹ, chính quyền
Sài Gòn và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
13
Sau cuộc "Đồng khởi" ở miền Nam (1960), đế quốc Mỹ tiến hành chiến
lược "Chiến tranh đặc biệt" với âm mưu và thủ đoạn bằng việc tiến hành chiến
tranh xâm lược Việt Nam bằng quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy của hệ thống cố
vấn quân sự Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh hiện đại
của Mỹ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng của Việt Nam. Trước tình hình
trên, từ đầu năm 1961 và 1962, các Hội nghị của Bộ Chính trị nêu chủ trương giữ
vững và phát triển thế tiến công mà ta đã giành được sau cuộc "Đồng Khởi" và đưa
cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách
mạng trên quy mô toàn miền Nam. Thực hiện việc kết hợp song song đấu tranh
quân sự và đấu tranh chính trị, đẩy mạnh đánh địch bằng 3 mũi giáp công trên 3
vùng chiến lược…
3.2.2. Xây dựng, phát triển lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân,
góp phần làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961-1965)
- Từng bước xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, đẩy mạnh tiến
công đich, mở rộng vùng giải phóng:
Sau Đồng khởi, thực hiện theo chỉ thị của Ban Quân sự Miền, Trung đoàn
2 đã tiến đến vùng Bến Cát, Phú Giáo, Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một) với nhiệm vụ vận
động quần chúng và đấu tranh chống phá ấp chiến lược của Mỹ và Diệm. Ở xã
Thới Hòa thuộc tỉnh Bến Cát (Thủ Dầu Một), nhân dân đã kiên quyết kháng cự đến
cùng, không chịu theo sự cưỡng bức của chính quyền Sài Gòn vào các ấp chiến
lược. Quần chúng nhân dân đã phối hợp nổi dậy phá tan ấp Bến Tượng năm 1962.
Thắng lợi của việc phá tan ấp chiến lược Bến Tượng là kết quả của công cuộc
quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Trước tình hình trên,
Hội nghị Trung ương lần thứ XI (3-1965) và lần thứ XII (12-1965) của Đảng đã tập
trung đánh giá tình hình và quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ trên
toàn quốc, đó là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc ở hai miền Nam và Bắc.
Ở Thủ Dầu Một, Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một và tỉnh Phước Thành đã tổ chức
quán triệt đến các cấp uỷ và lực lượng vũ trang trong từng Đảng bộ, Chi bộ cơ
quan, đơn vị tỉnh, huyện, xã, ấp tập trung lãnh đạo, khẩn trương triển khai xây dựng
củng cố các căn cứ bám trụ, căn cứ chiến đấu.v.v…
4.1.2. Chủ động tiến công tiêu diệt địch, xây dựng thế trận chiến tranh
nhân dân, góp phần đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ (61965 – 12-1968)
- Quân và dân Thủ Dầu Một đánh bại các cuộc hành quân, càn quét,
mở rộng vùng giải phóng:
Ngày 5-7-1965, Lữ đoàn dù 173 của Mỹ hành quân càn quét vùng Thuận
An. Nhân dân và du kích các xã Nam Bến Cát đã chiến đấu tiêu diệt 516 tên (trong
đó có 425 lính Mỹ), bắn rơi 3 máy bay, phá huỷ 4 xe quân sự…
Cuối tháng 11-1966 đầu năm 1967, Mỹ mở cuộc hành quân Cedar Falls, sử
dụng 3 lữ đoàn Mỹ (thuộc Sư đoàn 1 và 25 bộ binh, trung đoàn kị binh thiết giáp số
11) càn vào khu tam giác Trảng Bàng – Củ Chi – Bến Cát. Tại Bến Cát, du kích các
xã ở Tây Nam đã sử dụng địa đạo, hầm chông, bãi mìn, bắn tỉa…
- Quân và dân Thủ Dầu Một chủ động tiến công, bao vây và đánh địch
trong thế trận chiến tranh nhân dân:
Khi quân Mỹ lập các căn cứ quân sự tại Lai Khê, Dĩ An, Phước Vĩnh,…
quân và dân Thủ Dầu Một cùng quân và dân miền Nam thực hiện phương châm
“bám thắt lưng địch mà đánh”. Bên cạnh đó, lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận
bao gồm đông đảo phụ nữ mà nòng cốt là các nữ dân quân, du kích cũng được tổ
chức ở các “vành đai”.
15
chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn
là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân, hậu cần của Mỹ và do cố vấn
Mỹ chỉ huy…
Ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt
Nam thành lập, là cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho quyết tâm và nguyện
vọng của toàn thể nhân dân miền Nam quyết tâm chiến thắng đế quốc Mỹ xâm
lược.
Ở Thủ Dầu Một, Uỷ ban nhân dân cách mạng các cấp chính thức hình
thành. Tuy vậy, việc phân định chức năng và nhiệm vụ giữa các cấp uỷ Đảng và
chính quyền cách mạng chỉ có tính chất tương đối. Trong thực tế, các cấp uỷ Đảng
16
cũng đồng thời thực hiện nhiệm vụ chính quyền trên mọi lĩnh vực hoạt động, chủ
yếu là hoạt động vũ trang.
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược mùa hè năm 1972 của quân và
dân miền Nam, đồng thời thất bại trong trận “Điện Biên Phủ” trên không 12 ngày
đêm của đế quốc Mỹ ở Hà Nội đã buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom và
ngừng bắn phá hoàn toàn miền Bắc, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và ký kết Hiệp định Paris (4 bên), chấm
dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam”.
4.2.2. Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, đẩy lùi những cuộc
tiến công giành dân, lấn đất, góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh” của Mỹ
Tình hình mới sau tết Mậu Thân năm 1968 đã buộc Mỹ phải xuống thang
chiến tranh, tìm giải pháp “rút quân trong danh dự”.
Sự ra đời của Khu ủy Phân khu 5 góp phần quan trọng trong việc tăng
cường công tác giao bưu vận cả hệ du kích và công khai cho các huyện vùng ven
và vùng trung tuyến, bảo đảm cho liên lạc kịp thời với Ban chỉ đạo, chỉ huy vùng
nhiều lõm du kích ở khu vực Thủ Đức, Dĩ An, Châu Thành, vùng Nam Tân Uyên
v.v…
Năm 1974, tỉnh ủy Thủ Dầu Một ra nghị quyết xác định nhiệm vụ của
Đảng bộ và quân dân trong tỉnh là tăng cường, phát triển lực lượng vũ trang của
tỉnh, huyện, du kích xã, ấp; đồng thời tranh thủ thời gian học tập, rèn luyện kỹ
chiến thuật, nhất là học tập kỹ thuật binh chủng đặc công cho cả ba thứ quân; kết
hợp chặt chẽ lực lượng tại chỗ với cơ sở binh vận, đánh mạnh vào hệ thống kìm
kẹp của địch ở xà, ấp, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ trên diện
rộng, nhất là địa bàn trọng điểm.
4.3.3. Đẩy mạnh đoàn kết các giai tầng nhằm tạo “thế và lực” cho cuộc
đấu tranh cách mạng
Lực lượng cách mạng cũng đã thành lập được một số cơ sở mật với thành
phần nòng cốt là đội ngũ công nhân cao su, bí mật đưa lực lượng và vũ khí vào bên
trong các ấp chiến lược ở khu vực Lai Khê, Long Nguyên, An Điền, Phú An,
Thanh An, Thới Hòa. Bên cạnh đội ngũ công nhân cao su, đối với các tầng lớp trí
thức như thanh niên, học sinh, tầng lớp tư sản dân tộc, các thành phần tôn giáo,…
Họ là thành phần chủ chốt của việc tổ chức những cuộc biểu tình, bãi công, bãi
khóa trong đội ngũ công nhân cao su Thủ Biên và các lực lượng khác… Tiêu biểu
như sự kiện tháng 7-1969, hàng ngàn học sinh, sinh viên ở Sài Gòn xuống đường
chống chính sách quân sự hóa học đường, đòi tự trị đại học; hay tại Thủ Dầu Một,
thanh niên, học sinh Trường trung học Bồ Đề, Trường trung học Phú Mỹ… Thành
phần tư sản dân tộc ở Thủ Biên cũng được Đảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng
xem trọng, bởi họ là những người có điều kiện kinh tế lớn đóng góp về tiền của cho
kháng chiến v.v…
4.3.4. Cùng với cả nước tiến lên tổng tấn công giành chính quyền, góp
phần giải phóng hoàn toàn miền Nam
Ngày 13-3-1975, toàn bộ huyện Dầu Tiếng được giải phóng. Phối hợp với
tiến công quân sự, nhân dân ở nhiều nơi nổi dậy, phá chốt kìm kẹp của địch, giành
quyền làm chủ; đồng thời kêu gọi binh lính địch trở về với cách mạng. Ngày 29-41975, các lực lượng vũ trang cách mạng áp sát thị xã, sẵn sàng hỗ trợ quần chúng
nổi dậy.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, chiến khu Đ
là nơi tập kết của các lực lượng Quân đoàn 1, Quân đoàn 4 trước khi tiến về giải
phóng Sài Gòn. Chiến khu Đ gắn liền với những chiến thắng vang dội trong lịch sử
chống ngoại xâm của quân và dân Miền Đông Nam Bộ (thắng Lạc An, Tân Uyên,
chiến thắng Phước Thành, Đất Cuốc, Đồng Xoài, Phước Long…). Chiến khu Đ là
cái nôi của chiến khu Bắc Bến Cát, khu rừng già tiếp giáp trải rộng Kiến An đã
đóng vai trò là “căn cứ trọng yếu của các bộ máy quân sự trú đóng, và là căn cứ trú
đóng của công an, lực lượng Sư đoàn 9, của Huyện ủy Bắc Bến Cát và các đơn vị
chủ lực Miền v.v...
5.1.3. Lực lượng vũ trang cách mạng ra đời sớm, hoạt động trên địa bàn
chủ yếu của quân chủ lực Miền
Để đấu tranh chống lại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Diệm,
lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã phối hợp nhịp nhàng để đề ra những
phương châm tác chiến linh hoạt, hiệu quả. Giữa năm 1964, nhân dân địa phương ở
Thủ Dầu Một đã phối hợp cùng lực lượng vũ trang và công nhân Dầu Tiếng phá tan
ấp chiến lược Suối Giữa, Phú Bình, Dáng Hương. Đến cuối tháng 10-1964, lực
lượng vũ trang tỉnh Bình Thành và nhân dân chiến khu Đ đã thành công trong
19
nhiệm vụ bảo vệ cho đơn vị pháo binh mang vác của Miền từ Chiến khu Đ vượt
sông Đồng Nai tập kích vào sân bay Biên Hòa.
Cuối năm 1965, đầu năm 1966, Mỹ tiến hành phản kích quân cách mạng
bằng việc thực hiện kế hoạch phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (19651966). Mỹ cho quân tập trung đánh vào các căn cứ kháng chiến miền Đông Nam
Bộ, tiến đến tiêu diệt bộ phận chủ lực Miền, phá kho tàng để từng bước giành thế
chủ động.
Quân cách mạng miền Nam đã đập đập tan kế hoạch phản công chiến lược
mùa khô lần thứ nhất của Mỹ, trong đó đóng góp của công nhân cao su ở Thủ Dầu
Một có ý nghĩa quan trọng. Theo đó, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, Đảng ủy đồn điền Dầu
20
cách mạng và chính quyền Sài Gòn nên trong công tác xây dựng Đảng, Tỉnh ủy
Thủ Dầu Một luôn tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân để
xây dựng lực lượng cách mạng, giải quyết các tình huống phức tạp của chiến
trường khi có chia tách, sáp nhập, đồng thời chủ động lắng nghe ý kiến quần chúng
nhân dân, rút kinh nghiệm từ thực tiễn để vận dụng sáng tạo, thích hợp với tình
hình cụ thể trong từng giai đoạn cụ thể.
Việc quán triệt các nhiệm vụ chung của cách mạng là nhằm đáp ứng được
các yêu cầu đề ra như tiêu diệt và phá vỡ các cứ điểm, căn cứ (quận lỵ, chi khu, tiểu
khu...) và khu vực phòng ngự của địch, mở rộng căn cứ địa, hỗ trợ cho quần chúng
nổi dậy giành quyền làm chủ , tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng các
địa phương và thị xã ở Thủ Dầu Một. Thành công trong xây dựng chiến đấu và
công tác của quân và dân Thủ Dầu Một trước hết chính là nhờ biết quán triệt đúng
đắn tư tưởng chỉ đạo và nhiệm vụ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.
5.2.2. Phối kết hợp với một số lực luợng của trên, nhất là trong đấu
tranh quân sự, xây dựng lực lượng tại chỗ vững mạnh
Lực lượng vũ trang của tỉnh Thủ Dầu Một và của miền Đông Nam Bộ đều
ra đời sớm, có thể nói là một trong những nơi có lực lượng vũ trang sớm nhất của
miền Nam. Trong tổ chức và xây dựng lực lượng, tỉnh có đơn vị của tỉnh, Miền có
đơn vị của Miền. Trong buổi đầu, các đơn vị của tỉnh là nòng cốt để hình thành các
đơn vị chủ lực Miền. Trong chiến đấu, lực lượng vũ trang của tỉnh và Miền luôn
luôn phối hợp với nhau. Trong chống Mỹ, lực lượng vũ trang ban đầu từ những tổ,
những tiểu đội vũ trang, đến đầu năm 1957, tỉnh Thủ Dầu Một đã tổ chức được 3
trung đội vũ trang. Đến năm 1965, lực lượng vũ trang của tỉnh đã tổ chức đến cấp
đại đội, bên cạnh đó Tiểu đoàn Phú lợi là tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của tỉnh ra đời
và sau đó các tiểu đoàn vũ trang chủ lực khác cũng hình thành.
Trong phạm vi của tỉnh, chỉ tổ chức lực lượng vũ trang quy mô cấp tiểu
dựng căn cứ địa, hậu phượng tại chỗ
Nhìn chung, hệ thống căn cứ địa trên đất Thủ Dầu Một có thể phân chia
thành ba loại: Căn cứ tiền tiêu ; Căn cứ trung chuyển ; Và căn cứ hậu cần, hậu
phương.
Căn cứ tiền tiêu là những căn cứ nằm sát vùng địch chiếm đóng, nơi thế và
lực của kẻ thù luôn nổi trội (như căn cứ Thuận An Hòa, Truông Bòng Bông và
những căn cứ lõm khác rải rác ở thị xã, Lái Thiêu, Dĩ An...); Căn cứ Trung chuyển
(như Vĩnh Lợi, Nam Bến Cát, Phú An...) nằm ở vùng trung tuyến giữa ta và địch,
thường xuyên tập kết những lực lượng có thể uy hiếp địch, nơi tổ chức những hoạt
động có tính chất trung chuyển và ngắn hạn về hậu cần, huấn luyện; Căn cứ hậu
cần, hậu phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là vùng căn cứ chiến khu Đ
được tiếp tục mở rộng, phát triển hành hệ thống liên hoàn, tiếp nối với vùng Nam
Tây Nguyên, vùng biên giới Campuchia và đường Hồ Chí Minh. Hệ thống căn cứ
địa ở Thủ Dầu Một bao gồm những căn cứ lớn nhỏ trên các địa bàn khác nhau (như
Long Nguyên, Tam giác sắt, Thuận An Hòa, Truông Bòng Bong, An Linh... và
hàng loạt những căn cứ lõm khác ở khắp nơi trên địa bàn Nam Bến Cát, Bắc thị xã,
Thủ Dầu Một Lái Thiêu, Dầu Tiếng.v.v…).
KẾT LUẬN
1. Thủ Dầu Một là một địa bàn quan trọng trong công cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước. Trong tổng thể chiến lược bình định toàn miền Nam Việt
Nam, Mỹ và và chính quyền Sài Gòn đã nhận thức rằng Đông Nam Bộ là địa bàn
có ý nghĩa quan trọng của họ. Trong đó, Thủ Dầu Một là chiếc cầu nối quan trọng
giữa chiến khu cách mạng và vùng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và là tiền đồn
cho cách mạng miền Nam đã được Mỹ và chính quyền Sài Gòn quan tâm đặc biệt.
Là một vùng đất thuộc địa đầu của miền Đông Nam Bộ, Thủ Dầu Một nối
liền với Nam Tây Nguyên, cực Nam Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, đồng
thời là tuyến phòng ngự chủ yếu để bảo vệ cửa ngõ phía Bắc của Sài Gòn. Nhìn
22