PHẦN THỨ NHẤT: 12 QUYẾT ĐỊNH TAI HẠI DẪN ĐẾN THẤT BẠI Ở VIỆT
NAM
Nếu không nhìn thẳng vào những vấn đề thực chất đã đưa đến thảm hoạ
ở Việt Nam, chúng ta không thể trông đợi những kết quả tốt hơn trong tương
lai. Trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam, tôi ở một vị trí rất thuận lợi : đầu tiên
là người phối hợp nhân lực, sau đó là tướng chỉ huy sư đoàn ở Việt Nam, cuối
cùng là Tư lệnh Bộ chỉ huy phát triển và huấn luyện của lính thuỷ đánh bộ. Cần
phải nghiên cứu và phân tích các quyết định liên quan đến cuộc chiến tranh và
kết quả của chúng. Mối quan tâm của tôi không phải là các quyết định ấy do ai
vạch ra, được thông qua như thế nào mà là các quyết định nào đưa lại thất bại
tai hại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam?
1. Vai trò các lực lượng quân sự Mỹ :
Trong việc vạch kế hoạch triển khai lực lượng quân sự, điều rõ ràng là
ngay từ đầu cần phải có một lực lượng nửa triệu quân ở Việt Nam. Sử dụng
ngay một lực lượng cỡ như vậy có thể đem lại thắng lợi sớm vì ta có khả năng
tiệu diệt địch và bảo đảm an ninh cho nông thôn. Nhưng mãi đến năm 1968 mới
có đủ lực lượng quân sự để hoàn thành các nhiệm vụ. Ngay từ đầu, Bộ chỉ huy
viện trợ quân sự Mỹ đã bóp méo vai trò lực lượng Mỹ; họ có xu hướng hạ thấp
yêu cầu về số quân đưa vào. Tầm cỡ lực lượng quân sự đã co lại trong năm
1964-1965. Người ta biết rằng, từ đầu Bắc Việt Nam có thực sự là 14 sư đoàn
chính quy cộng thêm các trung đoàn và tiểu đoàn chủ lực của Việt cộng. Điều
này đã bị lãng quên. Người ta dùng lý luận về chiến tranh hạn chế, về phản ứng
từng bước, về cách ăn miếng trả miếng để trình bày mục tiêu và vai trò lực
lượng quân sự Mỹ được triển khai.
2. Sự hạn chế về tiền của :
Ngân sách bổ sung của tài khóa 1965 được xây dựng với số tiền 11,2 tỷ
đô-la cần thiết để triển khai lực lượng. Các nhóm “nội các bếp núc của thượng
viện” (Senate Kitchen Cabinet) đã làm tổng thống nghĩ rằng chi tiền nhiều cho
chiến tranh sẽ đụng chạm đến chương trình xã hội vĩ đại của tổng thống-một
chương trình được coi như là cơ sở của chính quyền Johnson. Sau đó, quyết định
được thông qua chỉ cấp 1,7 tỷ đô-la của số 11,2 tỷ đô-la cần có. Hầu hết số tiền
huấn luyện. Thường thì người ta gửi danh sách một nhóm đơn vị được chuẩn bị
đến Sài Gòn. Tiếp đó, bộ chỉ huy ở Sài Gòn yêu cầu, các đơn vị này lặng lẽ triển
khai. Các tư lệnh chiến trường bị hạn chế gắt gao trong việc chấp nhận và thực
hiện một chiến lược khác, dù là thích hợp hơn. Các phóng viên phản ánh điều
không vui này về nước Mỹ và hậu quả là làm giảm lòng tin.
4. Bình định ngược :
Lực lượng quân sự triển khai không thích đáng nên nhiều khu vực thiết
yếu ở Nam Việt Nam không thể được bảo vệ. Kết quả là số lớn dân chúng bị bắt
buộc rời khỏi quê hương tập trung tại các trại để được chính quyền bảo vệ. Họ
căm ghét chính phủ và người Mỹ khi họ phải bỏ nhà cửa của cải và các phương
tiện sinh sống. Họ càng mất lòng tin khi không thấy có tiến bộ trong chiến tranh.
Trong nhiều trường hợp các trại đó, chỉ được bảo vệ ban ngày. Ban đêm,
quyền kiểm soát thuộc về địch. Dân chúng buộc phải ủng hộ hay làm việc cho đối
phương. Hai phía giành giật nhau trong khu vực đều làm thiệt hại cho dân
chúng. Các cuộc hành quân “tìm và diệt” để phản ứng lại sức ép của Việt cộng
không mang lại kết quả. Trước năm 1968 không có tiến bộ thực sự trong bình
định. Đến lúc đó thì mọi điều đã quá chậm. Các sức ép trong nước Mỹ đã đưa đến
một quyết định bi thảm khác : huỷ bỏ sự ủng hộ của Mỹ đối với Việt Nam.
5. Các khu vực đất thánh dành cho lực lượng địch :
Quân địch được cung cấp những vùng đất thánh ở Campuchia, Lào và ở
ngay Bắc Việt Nam. Kết quả là họ có thể tự do cơ động dọc 1.400 dặm biên giới.
Họ có thể tập trung lực lượng ở địa điểm và thời gian họ muốn, chọn ra những
điểm yếu của Mỹ và tiến hành tấn công vào bên trong Nam Việt Nam. Khi họ bị
đánh trả, họ liền quay về vùng đất thánh, sẵn sàng lặp lại việc làm tương tự ở
một nơi khác. Mỹ “được” một danh sách kéo dài về thương vong mà không có
tiến bộ về vấn đề này.
Để ủng hộ những ý kiến về sự trung lập của Campuchia và Lào, rồi còn sợ
Trung Quốc can thiệp nên người ta đề ra những quy định về các vùng đất thánh.
Từ mọi nguồn, các báo cáo tình báo đều mô tả rõ ràng là Bắc Việt Nam
dồn cố gắng to lớn để lao vào xây dựng sân bay và các cơ sở phòng không. Sự
phát triển này rõ ràng mang lại hậu quả nghiêm trọng đối với mọi người và
cũng nhanh chóng nảy sinh nỗi lo lắng sâu sắc. Tuy nhiên vẫn có một quyết định
được thông qua cấm không quân và hải quân Mỹ tấn công vào các vị trí phòng
không nổi bật đó, sợ rằng những cuộc tấn công như thế có thể quấy rầy Trung
Quốc.
Kết quả cuối cùng là chính Mỹ phải đương đầu ngay với một trong những
hệ thống phòng không tốt nhất thế giới. Sau này, các ngọn đồi quanh Hà Nội trở
thành các kho chứa máy bay Mỹ bị rơi. Các nhà tù ở Hà Nội đầy rẫy phi công bị
bắn rơi của Mỹ.
8. Ngừng bắn :
Định kỳ, người ta chấp nhận các cuộc ngừng bắn. Điều này cho phép Việt
cộng “thăm lại” các vùng quen thuộc của họ. Các thời gian tạm lắng này cho
phép họ lập lại sự có mặt của họ trên các vùng rộng lớn để tiếp tế, mộ lính…
Cuộc tấn công lớn và bất ngờ vào Tết Mậu Thân đầu 1968 là đỉnh cao việc sử
dụng “ngừng bắn” của họ.
9. Ngừng pháo kích bắn rốc-két và ném bom :
Năm 1968, địch muốn đối thoại và chúng ta đồng ý ngừng pháo kích qua
khu phi quân sự nếu họ cũng ngừng bắn rốc-két vào các thành phố. Thật ra, mỗi
khi địch bị tổn thất nặng họ lại muốn đối thoại. Thế mà Mỹ lại cho họ cái họ
muốn.
Trong trường hợp này, có hai sự kiện làm minh chứng. Một là chúng ta
bắt được một kho tiếp tế (3.500 quả rốc-két) của họ ở vùng núi phía tây. Hai là
chúng ta đã thiết lập một hệ thống phản pháo cực mạnh để phá huỷ khả năng
pháo kích của họ qua khu phi quân sự. Vì không còn rốc-két để phóng nên Bắc
Việt Nam đồng ý không bắn rốc-két nữa. Từ khi họ không thể pháo kích qua khu
phi quân sự thì họ muốn chúng ta cũng đồng ý không pháo kích.
thời gian và địa điểm hành quân. Tệ hại hơn, tiếng phản đối ầm ầm ở quanh thủ
đô đã đưa đến những quyết định vội vã, tai hại về việc tham gia của các lực
lượng Mỹ.
Thứ nhất, một thông báo là "không có lực lượng nào của Mỹ tham gia"
trừ một vài ngoại lệ là các máy bay ném bom và trực thăng Mỹ có thể đi cùng.
Nhưng quan trọng hơn, việc yểm trợ trực tiếp cho trực thăng bị rút đi. Các toán
tuần tra thám sát tầm xa-rất cần thiết để trực thăng bay theo các đường bay an
toàn-không được lệnh hoạt động. Các toán truyền tin hướng dẫn và kiểm soát
bình thường đối với quân đội Sài Gòn bị rút đi làm các đơn vị này mất khả năng
truyền tin vô tuyến đàm thoại an toàn. Điều này có nghĩa là việc truyền tin vô
tuyến của quân đội Sài Gòn bị bỏ ngỏ cho việc nghe trộm và phá huỷ khi quân
đội Bắc Việt Nam xen vào các mạng này, với những bức điện giả.
Hậu quả là tổn thất quá lớn về trực thăng và đội bay (tôi nhớ là 120 máy
bay), tổn thất lớn nhất từ trước đến nay trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Các
phi công cảm thấy họ bay trên những đường bay không an toàn, lại do những
người Việt Nam không có kinh nghiệm điều khiển, truyền tin không an toàn, khả
năng ngôn ngữ lại hạn chế. Quân Bắc Việt Nam xen vào các mạng truyền tin này
và gây rối loạn thêm. Quân đội Sài Gòn chịu thảm bại. Các lực lượng thiết giáp
của họ bị bỏ rơi và bị đánh bại, các đơn vị ưu tú của họ bị tiêu diệt, một số chỉ
huy giỏi nhất bị giết hoặc bị bắt.
Đây là khởi đầu của sự kết thúc. Một cuộc viễn chinh của Mỹ ở Lào thắng
lợi có thể loại bỏ mối đe doạ của quân đội Bắc Việt Nam như đã làm ở
Campuchia. Nhưng những quyết định sai lầm của chúng ta làm cho điều đó
không thể thực hiện được. Thay vào đó quân đội Sài Gòn bại trận phải sớm rút
ra khỏi các khu vực quan trọng không thể giữ được dưới sức ép của quân đội
Bắc Việt Nam.
12. Việc hấp tấp, rút quân Mỹ :
Những sức ép nhằm kết thúc chiến tranh dẫn đến chương trình rút quân
hấp tấp. Thế là chúng ta đã quay lưng lại với vai trò các lực lượng quân sự Mỹ.
Năm 1969, nhiệm vụ chúng ta là tiêu diệt các lực lượng thù địch rõ ràng chưa
trong trường hợp bị Bắc Việt Nam và Trung Quốc xâm lược.
Với cách nhìn như thế, có thể đánh giá được hiệu quả các hoạt động trên
bộ của Mỹ. Thứ nhất là việc kéo dài thời gian cho chính phủ Nam Việt Nam mà
chỉ cần tiêu phí nhân lực, tài nguyên tối thiểu của Mỹ để họ chống được nổi dậy
mà không cần quân chiến đấu Mỹ. Thứ hai là việc đánh bại các lực lượng nổi
dậy, tăng thêm sức mạnh cho chính phủ Nam Việt Nam để họ tự nhận lại trách
nhiệm bảo vệ mình. Do đó việc rút quân chiến đấu trên bộ của Mỹ có thể tăng tốc
độ. Như vậy, người ta có thể xem chiến lược tiêu hao của tướng Oét-mo-len-sẵn
sàng chịu một tỉ lệ thương vong tương đối cao trong thời gian tương đối ngắn
với hy vọng là quan niệm tác chiến của ông ta được chứng tỏ là đúng.
Lục quân Mỹ đã thất bại về cả hai mưu toan này. Nó đã dùng cạn nguồn
nhân lực với tốc độ cao, sử dụng tài nguyên một cách bừa bãi. Vậy mà nó không
giành được thắng lợi nhanh chóng, không duy trì được sự ủng hộ trong nước
đối với sự có mặt kéo dài của Mỹ ở Việt Nam. Xem xét trên quan điểm này thì
phương thức tiến hành chiến tranh của lục quân Mỹ là một thất bại vì trước hết
nó không hề nhận thức được rằng chiến tranh chống nổi dậy yêu cầu có những
thay đổi cơ bản trong các phương pháp đối phó.
Chiến lược tiêu hao của MACV (Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Việt
Nam) nhằm kéo dài thời gian cho chính phủ Nam Việt Nam tiêu phí khá tốn kém
nhân lực, vật lực. Nó dựa vào số lượng lớn hoả lực mà vẫn không làm giảm
thương vong của Mỹ và không làm kiệt sức địch như trong các cuộc chiến tranh
trước đây. Thực ra, MACV có ý định áp dụng chiến lược tiêu hao ở môi trường
xung đột cường độ trung bình vào xung đột cường độ thấp với hy vọng cũng
giành kết quả tương tự. Tuy nhiên, tính chất cuộc chiến tranh chống nổi dậy đã
khiến cách lựa chọn chiến lược như thế của MACV phải trả giá cao và trở thành
nguy cơ lớn vì nó đòi hỏi phải dành thắng lợi nhanh chóng trước khi công
chúng Mỹ chán ngấy gánh nặng chiến tranh.
Trước việc phát triển chiến lược của mình ở Việt Nam bằng sử dụng các
động của lục quân. Các hoạt động chống nổi dậy chưa bao giờ được ưu tiên tại
bất cứ đâu gần chỗ có nhiều hoạt động chiến đấu quy ước. Chưa bao giờ mở
rộng cam kết ở mức thấp để đánh bại quân nổi dậy. Lục quân lại ít cố gắng duy
trì việc học tập nghiên cứu những gì diễn ra trong chiến tranh, đúng hơn nó xoá
bỏ những kinh nghiệm của quân chủng. Những người được đề cao là "dòng thác
chính" như các tiểu đoàn trưởng, các sĩ quan tham mưu thì kinh nghiệm của họ
trong hoạt động chống nổi dậy cổ điển rất ít. Do đó những thay đổi quá nhỏ,
quá chậm, ảnh hưởng không đáng kể trong lục quân, được duy trì trong thời
gian quá ngắn không thể có tác động đến công việc chuẩn bị cho các cuộc chiến
tranh cường độ thấp trong tương lai.
*
*
*
Trong quá trình chiến tranh Việt Nam, có nhiều quan điểm chiến lược đưa
ra để lựa chọn, một số do lục quân, một số do các quan chức dân sự. Phải chăng
nếu một trong những chiến lược này được chấp nhận sẽ tạo ra kết quả khác của
cuộc xung đột, phải chăng kết quả cuối cùng đã được sắp xếp trước như định
mệnh (giống một bi kịch nào đó của Hy Lạp) bất chấp lục quân chấp nhận chiến
lược nào? Đã có 4 sự lựa chọn cho chiến lược tiêu hao trong quá trình chiến
tranh: xâm lăng Bắc Việt Nam, xâm nhập vào Lào để bịt biên giới Bắc Việt Nam
và Nam Việt Nam; đóng chốt; tạo biên giới nhân khẩu.
Chiến lược xâm lăng Bắc Việt Nam được xem xét trong các kế hoạch trước
1965 trong trường hợp Bắc Việt Nam hay Trung Quốc công khai xâm lược Nam
Việt Nam. Chiến lược này chưa bao giờ được chính quyền Giôn- xơn thật sự xem
xét nhưng lục quân vẫn ủng hộ nó mạnh mẽ trong quá trình và cả sau chiến
tranh. Điều ẩn tàng trong quan niệm này là: Mỹ thua ở Việt Nam không phải vì
lục quân thất bại trong việc áp dụng khái niệm chiến tranh chống nổi dậy mà vì
khái niệm này không được áp dụng đầy đủ. Ý niệm này được phản ánh qua lời
có mặt lâu dài về quân sự của Mỹ trong vùng.
Chiến lược thứ hai để lựa chọn là xâm nhập vào Lào, được biết nhiều
trong lục quân, trước tiên do cuốn sách của đại tá Sam -mơ (Summers) viết dưới
cái tên "Về chiến lược trong bối cảnh của chiến tranh Việt Nam ! Nhiều sĩ quan
coi đó là sự bảo vệ sắc sảo nhất đã được viết về vai trò của lục quân trong cuộc
chiến tranh. Sam-mơ nêu lại chiến lược xâm nhập vào Lào bằng cách kêu gọi
xem xét lại kế hoạch ELPASO do cơ quan tham mưu của MACV vạch ra cho Oétmo-len năm 1966. Kế hoạch này dự kiến một cuộc tấn công mãnh liệt của liên
quân Mỹ - Nam Việt Nam - Nam Triều Tiên vượt qua vùng cán xoong Lào, từ khu
phi quân sự đến Xa-va-na-khét giáp biên giới Thái Lan. Theo kế hoạch này, có
thể dùng lực lượng như thế phong toả không cho Bắc Việt Nam chuyển đồ tiếp tế
vào miền Nam, cô lập chiến trường và Việt cộng, để Nam Việt Nam tiêu diệt lực
lượng nổi dậy, một việc mà lục quân không nên dính líu vào. Sam -mơ cho rằng
sai lầm tai hại của lục quân Mỹ là dính líu thái quá trong chiến đấu với du kích
do đó bỏ sót mối đe doạ thực sự là quân Bắc Việt Nam. Theo ông ta, chiến lược
đích thực cho cuộc chiến tranh của lục quân bị giới dân sự bác bỏ (kế hoạch
ELPASO). Còn lục quân thì không trung thành với lý luận của mình. Thực hiện kế
hoạch ELPASO, lục quân có thể cơ động cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh và lập
một lực lượng phong toả cỡ 8 sư đoàn (5 Mỹ, 2 Nam Triều Tiên, 1 Nam Việt
Nam) dọc theo khu phi quân sự của Lào đến Xa-va-na-khét. Mỹ sẽ đảm nhận
phòng thủ chiến thuật và chiến lược từ những vị trí chuẩn bị sẵn thật tốt, do đó
giảm thương vong Mỹ xuống ít nhất. Quân đội Bắc Việt Nam - nguồn gốc của
vấn đề - sẽ bị trục ra khỏi Nam Việt Nam, để lại Việt cộng như "cá nằm chết khô
trên cạn" và tan rã dưới sức ép của quân Nam Việt Nam.
Điều đó có thể thực hiện được không? Hình như không thể được. Trước
tiên kế hoạch được tham mưu trưởng lục quân, tướng A. Giôn - xơn xem xét mùa
xuân năm 1965 và cho vào ngăn kéo khi thấy các yêu cầu yểm trợ (cần 18.000
công binh) không đáp ứng được. Rút lực lượng Mỹ để bố trí dọc theo khu phi
quân sự và ở Lào sẽ tiếp tục làm tan rã quân Nam Việt Nam. Không có lý do đủ
bên trong lãnh thổ trong khi quân Mỹ ở các chốt ven biển bảo vệ căn cứ chống
lại các cuộc tấn công của địch. Khi quân cộng sản tập trung lực lượng lớn tạo cơ
hội để đánh trận quyết định, Mỹ sẽ đưa quân đến tiêu diệt. Những người ở bộ
Ngoại giao tán thành chiến lược này, chỉ ra rằng Mỹ phải thừa nhận là quân
địch có thể không chịu bó tay trước chiến lược này mà họ thấy sẽ bị tổn thất vì
hoả lực Mỹ. Xem xét đến tính chất cuộc xung đột thì các lực lượng Mỹ không thể
dành được chiến thắng cho Nam Việt Nam cũng như lục quân Mỹ không thể bị
các họat động của cộng sản đuổi ra khỏi Nam Việt Nam. Chiến lược đóng chốt
buộc phải chấp nhận tình trạng tiến thoái lưỡng nan này với cái giá thấp nhất
về thương vong cũng như về tài lực của Mỹ. Tất nhiên nó có thể bảo đảm cho
Nam Việt Nam lấy lại hơi sức và giành lại quyền kiểm soát nông thôn từ tay
cộng sản.
Những người chỉ trích chiến lược này cho rằng nó sẽ đưa quân Mỹ tiếp
xúc quá gần gũi với người Nam Việt Nam có nguy cơ làm cho dân chúng căm
ghét Mỹ do những khác biệt về văn hoá. Quân Mỹ có thể phát triển tâm trạng
đồn trú, mất đi tính xông xáo chiến đấu nếu họ buộc phải đóng chốt, chiến lược
này còn bị phê phán là bỏ qua lợi thế của lục quân Mỹ là hoả lực và cơ động, rất
tốt trong việc chống lại du kích. Cuối cùng chiến lược này có thể làm mất thế chủ
động về thời gian và địa điểm đánh địch.
Những người ủng hộ chiến lược này trả lời phê phán trên rằng ở vào tình
thế bí thì các "chốt" sẽ kéo dài được thời gian tồn tại cho Nam Việt Nam với giá
thấp về thương vong và tài lực Mỹ. Bằng cách giữ an ninh cho các vùng đông
dân, lục quân đã làm suy yếu lực lượng nổi dậy, do đó Nam Việt Nam có thể
nhanh chóng xử lý quân nổi dậy bằng sức ép của họ. Còn sự mâu thuẫn và xung
đột về văn hoá thì giải quyết bằng cách đóng ít quân hơn và mức độ yểm trợ
thấp hơn.
Việc lo sợ quân Mỹ phát triển tâm trạng đồn trú và không sử dụng được
lợi thế về hoả lực và cơ động phản ánh sự nhận thức thiếu sâu sắc tính chất cuộc
chiến tranh nổi dậy. Chương trình hoạt động bằng các trung đội lùng sục của
- tiến lên lập biên giới nhân khẩu, phân chia vùng đồng bằng ven biển đông dân
với vùng phía trong thưa dân nhằm cô lập quân nổi dậy với nhân dân. Các đơn
vị lực lượng đặc biệt sẽ đột kích qua bên kia "biên giới", phát hiện ý đồ tập trung
lực lượng của địch để tấn công khu vực đông dân. Các đơn vị vừa đủ của quân
chính quy được giữ làm dự bị, làm nản ý định của địch mở cuộc tấn công quy
ước lớn để chống lại chương trình bình định.
Các lời phê phán chiến lược này cũng giống như phê phán chiến lược
đóng chốt. Sự chống đối cũng tập trung vào các mối lo ngại của lục quân: phải
chiến đấu gần các vùng đông dân, quyền chủ động sẽ chuyển sang tay địch (như
một Tết Mậu thân trong tương lai) và để ngỏ khả năng vài thị xã xa xôi hẻo lánh
có thể bị quân cộng sản đánh chiếm.
Những người đề xuất chiến lược này cho rằng nếu dồn các lực lượng từ
các vùng dân cư thưa thớt về thì dân chúng sẽ được bảo vệ tốt hơn. Thêm vào
đó, các cuộc tấn công kiểu Tết trong tương lai của địch sẽ khó được vạch ra và
thực hiện hơn do đồng minh đã triển khai lại lực lượng và do bức màn dày đặc
các toán đột kích tuần tra dọc biên giới nhân khẩu. Nếu cộng sản định chiếm
một vài thị xã xa xôi hẻo lánh, họ sẽ chịu thiệt hại nặng. Như ở Khe Sanh, những
điểm cố thủ bị bao vây như thế - nếu cần sẽ được giải toả bằng cách sử dụng hoả
lực và cơ động của Mỹ. Nếu địch muốn trụ lại và chiến đấu giữ quyền kiểm soát
thành phố, họ phải đối phó với những cuộc hành quân của Mỹ được trang bị tốt
hơn so với quân cộng sản. Hoặc do một lý do nào đó mà phải bỏ một thành phố
hẻo lánh cho địch còn tốt hơn là bỏ ngỏ những khu vực đông dân. Càng nhiều
khu vực đông dân nằm dưới quyền kiểm soát của đồng minh thì quyền chủ động
- đang nằm trong tay quân nổi dậy - sẽ nhanh chóng chuyển sang tay chính phủ
Nam Việt Nam.
Với những lý do trên, chiến lược biên giới nhân khẩu đem lại nhiều lợi thế
hơn chiến lược xâm lăng. Nó nhấn mạnh việc đánh bại mối đe doạ của quân nổi
dậy hơn, so với cả chiến lược đóng chốt. Nó không xoá bỏ vai trò các đơn vị chủ
Kết quả là không chịu hiểu biết hơn về cách tiến hành chiến tranh chống nổi dậy
như thế nào trong các phạm vi xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự đã tạo thành
hình thức xung đột ấy mà lục quân lại muốn biến đổi nó thành một cái gì đó mà
nó có thể điều khiển được. Điều bất hạnh là lục quân áp dụng bài học ở Việt
Nam, kẻ địch của Mỹ sẽ không chơi với chỗ mạnh quân sự của Mỹ mà họ sẽ khai
thác những chỗ yếu của Mỹ.
Tài liệu gốc: Thiếu tá A.F.KREPINEVICH (lục quân) Paths Untaken…
PHẦN THỨ III: VAI TRÒ QUÂN SỰ CỦA MỸ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH 25
NĂM CỦA VIỆT NAM
I. Đánh giá những hoạt động quân sự Mỹ.
Mỹ đã điều khiển và tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1962 đến
1969, nói chung là không đến nỗi tồi. Từ năm 1969 cho đến khi người lính cuối
cùng của Mỹ rút khỏi Việt Nam (8 -1972), hoạt động quân sự giảm dần. Việc
phát hiện ra nạn nghiện ma tuý lan tràn trong lính Mỹ ở Việt Nam mùa xuân
năm 1970 đã báo hiệu trước nguy cơ về tinh thần kỷ luật rệu rã. Thỉnh thoảng
lại có vụ tấn công làm "tan xác" cấp chỉ huy, đúng là những dấu hiệu của sự sa
sút tinh thần, trở thành vấn đề phải quan tâm sâu sắc.
Những tuyên bố của các quan chức cấp cao ở Mỹ, kể cả các thượng nghị sĩ
chống lại sự dính líu vào Việt Nam, tác động nghiêm trọng đến lính Mỹ ở chiến
trường, làm nguy hại trầm trọng đến tinh thần của họ. Nó tác động đến cả thái
độ của tù binh Mỹ bị giam ở Bắc Việt Nam. Nó thể hiện qua con số tù binh bị tố
cáo là đã cộng tác với đối phương cao hơn so với những năm đầu của cuộc
chiến.
Đã có những lời ngợi khen các hoạt động của quân đánh bộ, cơ bản là lục
quân Mỹ. Theo truyền thống, lính thuỷ đánh bộ trao nhiều trách nhiệm và quyền
hạn hơn cho hạ sĩ quan. Đó là một nguyên tắc cố hữu hợp lý mà lục quân đã làm
ngoài vấn đề đáng ca ngợi, còn có việc không khai thác được khả năng cơ động
của trực thăng. Trong khi đối phương bao vây vị trí Khe Sanh năm 1967, tướng
Oét-mo-len cử tư lệnh không đoàn số 9 chỉ huy tất cả hoạt động không quân của
mọi quân chủng để yểm trợ cho lính thuỷ đánh bộ. Quân lính thuỷ đánh bộ đã
kịch liệt phản đối vì họ chống lại mọi mưu toan đặt một bộ phận kiểm soát bên
ngoài xen vào giữa thành phần quân đánh bộ và thành phần không quân yểm
trợ riêng của họ.
Mọi hoạt động hành quân sẽ không đạt kết quả nếu tin tức tình báo thiếu
chất lượng. Do đó, chúng ta hãy xem xét vắn tắt hoạt động tình báo của Mỹ ở
cấp quốc gia cũng như ở cấp chiến trường. Với tổng thống và các nhà làm chính
sách ở Oa-sinh-tơn thì có quá thừa các bản nghiên cứu và ước tính tình báo về
Việt Nam. Nhiều nguồn cung cấp như toà đại sứ Mỹ, cơ quan tình báo khu vực,
Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ (MACV), Bộ tư lệnh Thái Bình Dương và vô số cơ
quan tình báo ở Oa-sinh-tơn.
Cộng đồng tình báo ở Oa-sinh-tơn gồm : giám đốc Trung ương tình báo
(DCI) và cơ quan tình báo thuộc quyền, cơ quan tình báo Bộ Quốc phòng và Lầu
Năm Góc (DIA), các cơ quan tình báo của các quân chủng, cục tình báo và sưu
tầm (INR) thuộc Bộ Ngoại giao; cục an ninh quốc gia (NSA), các cục an ninh
quân chủng. Giám đốc Cục tình báo Trung ương điều khiển cái liên minh lỏng lẻo
này và chủ trì uỷ ban tình báo của Mỹ, được gọi là uỷ ban tình báo đối ngoại
quốc gia. Quyền hành của giám đốc DCI có phần yếu bởi vì có 3 trong 4 thành
viên chính của uỷ ban chịu trách nhiệm đối với một thành viên nội các.
Trong thời chiến, Tư lệnh chiến trường thường là viên tư lệnh thống nhất,
có quyền điều khiển tất cả các nguồn cung cấp tình báo. Tuy nhiên, chiến trường
Việt Nam là trường hợp duy nhất mà tổ chức thời chiến nói trên không được áp
dụng. Hậu quả là nỗ lực thống nhất tình báo của Mỹ ở Việt Nam không thực hiện
được, và đã xảy ra sự trùng lặp và cạnh tranh không nên có. Khốn thay, vấn đề
này đã tác động tới cả các hoạt động tình báo hỗn hợp của Mỹ và Nam Việt
Một vấn đề đặt biệt phức tạp gây tranh cãi trong cộng đồng tình báo suốt
cuộc chiến tranh là ước tính số quân và xác định thành phần các đơn vị lớn của
địch. Đó là sự xét đoán về tình báo quân sự khó khăn nhất, nhất là trong chiến
tranh nhân dân ở Việt Nam, một cuộc chiến tranh mà quân chính quy rất khó
phân loại các lực lượng trực tiếp chiến đấu với các lực lượng gián tiếp. Lại còn
rất khó ước tính thương vong của bộ đội địch vì lực lượng tham chiến có cả dân
thường, quân chính quy, quân địa phương và dân quân. Ước tính giữa CIA và
MACV về số đơn vị địch tham chiến phải trải qua thời gian lâu dài mới nhích gần
lại nhau, còn với lực lượng quân du kích thì khác xa nhau một trời một vực.
Ước tính số thương vong của địch bằng hội chứng "đếm xác" là vấn đề
không có gì mới mẻ và là nhân tố rất phức tạp. Phóng đại số xác đếm được thổi
phồng ước tính tổn thất của địch là một thí dụ. Phân biệt được số quân trực tiếp
tham chiến là chính quy hay không chính quy rất khó khăn nên có xu hướng gây
thương vong cho dân thường để làm tăng số "địch" bị chết. Nó khuyến khích các
đơn vị chiến đấu vừa thổi phồng con số và thêm thắt vào báo cáo số địch thương
vong làm cho hội chứng "đếm xác" gay gắt thêm. Ở đồng bằng sông Cửu Long có
một số đơn vị làm như vậy và gây thương vong bừa bãi cho thường dân.
Nguồn nhân lực dồi dào của địch là điều qúa rõ. Đối phương chọn vị trí và
thời gian để mở trận địa, nhờ vậy họ có thể kiểm soát tỷ lệ thương vong. Có
những đơn vị của họ rõ ràng là bị đánh tan tác mà chỉ vài tháng sau đã lại xuất
phát từ các căn cứ an toàn, sẵn sàng tham chiến với đầy đủ số quân. Những sự
kiện đó kết hợp với tin tức về mức xâm nhập theo đường mòn Hồ Chí Minh cấu
thành những dấu hiệu cho thấy địch có thể tiến hành vô hạn định loại chiến
tranh này. Nguồn nhân lực của đối phương, theo đúng nghĩa của nó, dường như
vô tận. Với số thương vong của họ - mà giả thử là của Mỹ ắt hẳn đã gây ảnh
hưởng quan trọng trong xã hội, ngược lại chẳng tác động gì tới Hà Nội và nhân
dân họ. Do đó, người ta được phép kết luận là các quan chức Mỹ lẽ ra không nên
để bị lừa về các báo cáo ước tính sai về tổn thất và về số quân của đối phương.
một trung đoàn quân Bắc Việt nào đó, nhất thiết không có nghĩa là trung đoàn
đóng ở đó, mặc dầu có dấu hiệu là các bộ phận của trung đoàn có mặt ở khu vực
lân cận. Có bài học rõ nét là Mỹ không khai thác đúng mức nguồn tin do người
cung cấp so với những nguồn tin điện tử.
Mỹ cũng yếu kém về phản tình báo, nghĩa là một cố gắng có tổ chức và có
kỷ luật để ngăn chặn không cho địch biết về kế hoạch hành quân và về các vấn
đề quân sự khác. Việc bảo đảm an toàn thông tin liên lạc của Mỹ ở Đông Nam Aù
không được hoàn hảo, chỉ an toàn ở mức tương đối. Do thói quen cẩu thả, nói
thẳng (không dùng mã) qua máy điện thoại hoặc máy vô tuyến không an toàn,
nên địch thường biết trước kế hoạch của Mỹ rất rõ, kể cả các cuộc ném bom của
Bộ Tư lệnh không quân chiến lược nên đã có biện pháp báo động cho bộ đội và
người của họ. Hậu quả là Mỹ đã bỏ mất nhiều cơ hội và lợi thế quý giá gây bất
ngờ cho địch.
Việc bắn phá quấy rối và ngăn chặn, việc ném bom không hướng dẫn,
thường căn cứ theo tin tức mơ hồ nhiều khi nhằm vào các khu vực tình nghi địch
chiếm đóng gọi là vùng "oanh kích tự do". Về phương diện quân sự việc này
không thực sự có hiệu quả và hoang phí đạn dược. Quân Mỹ và quân Sài Gòn
thường trông đợi chủ yếu vào hoả lực dồi dào của đơn vị bạn mà xem thường cố
gắng của đơn vị mình. thói quen này còn do quân bộ binh kém khả năng nên
phải trông cậy vào hoả lực yểm trợ từ bên ngoài. Do đó khi hầu hết quân đánh
bộ của Mỹ đã rút lui, hoả lực của không quân Mỹ không đủ để bù đắp những
nhược điểm đó của quân đội Sài Gòn. Sau hiệp định ngừng bắn tháng 1/1973,
quân Sài Gòn lâm vào tình trạng thiếu hoả lực không quân, thiết giáp và pháo cỡ
lớn để chống chọi với quân Bắc Việt đông và hiện đại hơn.
Trực thăng nhiều, vừa là cái lợi, vừa là cái hại. Nó là phương tiện đắt tiền,
cần bảo quản công phu. Phi công phải được huấn luyện chu đáo giỏi về chiến
thuật. Nếu không thì hành quân có thể bị thảm bại. Nhưng quân Mỹ đã quá lệ
thuộc vào trực thăng. Tuy trực thăng làm được nhiều việc nhưng vẫn không
thay thế được quân đánh bộ, mạnh, dẻo dai, có thể di chuyển đường trường với
sự yểm trợ ít ỏi. Quân bộ cứ dùng trực thăng để rút khỏi vị trí hiểm nghèo thì
khả năng theo tiêu chuẩn. Đơn giản là lục quân không thể nào cung cấp thích
đáng để thay thế hàng loạt cấp chỉ huy, cả sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm
tương xứng với bổn phận của họ. Do nhiệm kỳ phục vụ một năm ở Việt Nam và
do không ban hành được lệnh động viên nên phải phân tán mỏng cấp chỉ huy
chuyên nghiệp có kinh nghiệm trong lục quân Mỹ trên khắp thế giới. Ngoài ra
nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên nghiệp, sau khi hoàn thành hai hoặc ba
nhiệm kỳ ở Việt Nam, bị gia đình ngày càng thúc ép, đã quyết định xin về hưu, do
đó càng mất mát. Số chỉ huy dày dạn kinh nghiệm ở Việt Nam dần dần làm hại
mọi cố gắng của chúng ta, xói mòn tinh thần tận tuỵ đối với nhiệm vụ giao phó.
Chiến tranh Việt Nam đã làm bộc lộ một khuyết điểm quan trọng trong
việc huấn luyện quân nhân Mỹ, cả sĩ quan lẫn binh sĩ. Quân đội Mỹ, dù ở trong
nước hay ở Đông Nam Aù đều đã không làm tốt nhiệm vụ đối đầu với loại chiến
tranh du kích vì thiếu cấp chỉ huy chín chắn có kinh nghiệm, cả sĩ quan lẫn hạ sĩ
quan.
Như trên, sau khi xem xét hoạt động của quân đội Mỹ, hệ thống tình báo
Mỹ, một số nhược điểm về chiến thuật và hậu cần, điểm yếu nghiêm trọng trong
hệ thống nhân lực, chúng ta có thể đặt giả thiết nếu có những cải tiến quan
trọng trong hoạt động của Mỹ thì có đem lại kết quả khả quan hơn không? Câu
trả lời có lẽ là " Không"! Chúng ta đã thua cuộc chiến tranh chủ yếu là ở phạm vi
chiến lược, ngoại giao và chính trị nội bộ. Tuy nhiên, quân nhân chuyên nghiêp
Mỹ chúng ta có thể học hỏi được nhiều từ kinh nghiệm bi thảm ở Việt Nam.
Những bài học thấm thía đó có thể tác động đến thắng trận hay thua trận trong
một cuộc chiến tranh tương lai.
II. Chiến lược của Mỹ.
Những bài học đau đớn, những câu hỏi đã nêu lên cùng những vấn đề tồn
đọng đều thuộc về di sản Việt Nam. Chắc chắn những kinh nghiệm của Mỹ ở đó
sẽ tác động lâu dài đến chính sách đối ngoại cùng chính sách quốc phòng. Thảm
kịch Việt Nam chắc chắn là nhân tố hạn chế trong quan hệ đối ngoại và đối nội
hai dân tộc.
Thứ ba, là Mỹ cũng như các nước phương Tây không có khả năng tạo cho
dân chúng loại quyết tâm và lòng sốt sắng gần như có tính cách tôn giáo mà
cộng sản đã làm được. Động cơ thúc đẩy này là một thứ vũ khí kinh khủng. Sự
truyền thụ chủ nghĩa cộng sản cho một số thanh niên được lựa chọn biến họ
thành những đảng viên nòng cốt và những người lãnh đạo tương lai. Cần nhớ
rằng, đầu những năm 60, một phần dân cư Nam Việt Nam đã nằm dưới quyền
cộng sản hơn một thế hệ.
Về mặt chiến lược, Mỹ cũng ở thế bất lợi rất lớn so với Liên Xô và Trung
Quốc. Trong khi hai cường quốc này không phải chịu thương vong mà chỉ tốn
phí tài nguyên vật chất thì Mỹ phải chịu thương vong cao và tốn phí một số tài
nguyên to lớn để duy trì một lực lượng Mỹ ngày càng phình to, chiến đấu cách
nước mình nửa vòng quả đất. Để đối phó với một tình hình quân sự vốn dĩ khó
khăn, Mỹ đã quyết định không động viên mà lại bành trướng các lực lượng
đang tại ngũ của mình khi chiến tranh mở rộng và tăng cường. Việc không động
viên này cùng với những quyết định nội bộ khác của bộ quốc phòng đã dẫn đến
việc làm xói mòn đều đặn các lực lượng Mỹ, không chỉ ở Đông Nam Aù mà ở cả
những khu vực khác, đặc biệt là ở châu Âu, nơi mà một tập đoàn quân dã chiến
Mỹ một thời có tiếng là cừ khôi đã lâm vào tình trạng không sẵn sàng chiến đấu
một cách kỳ quặc, không có khả năng làm tròn nhiệm vụ trong khối NATO của
mình. Quyết định trên cũng đặt thành nghi vấn nhu cầu về vệ binh quốc gia cùng
các lực lượng dự bị, làm thiệt hại trầm trọng uy tín và tinh thần họ. Sau cùng,
Mỹ đã bị thất thế một cách hiểm nghèo về mặt chiến lược vì đã không chú trọng
đến các lực lượng của mình ở châu Âu và Đại Tây Dương.
Mỹ cũng bị bất lợi nghiêm trọng về mặt chính trị và tâm lý. Người ta đã
buộc tội việc Mỹ vào Việt Nam không khác gì sự có mặt trước kia của Pháp, do
đó Mỹ đã bị liệt vào nước thực dân như bất cứ cường quốc phương Tây nào
khác. Trong khi điều này là cản trở chính về tâm lý cho phía chúng ta thì nó lại là
của chúng ta trong phạm vi biên giới lãnh thổ của Nam Việt Nam, nhưng vẫn
còn tin là ắt phải tìm được cách nào đó để khắc phục những trở ngại này. Đó là
hội chứng "có thể làm được". Nhưng đối với phần lớn chúng ta, việc nhận thức
ra rằng thời gian chẳng mấy chốc không còn đứng về phía chúng ta nữa đã đến
quá muộn.
Một trong những trở ngại của chúng ta là ít người Mỹ hiểu được bản chất
thực sự của cuộc chiến tranh này. Đó là một cuộc chiến tranh kết hợp khéo léo
đến mức quỷ quái kiểu chiến tranh thông thường ở mức thấp với chiến tranh du
kích chiến đấu theo lối cổ điển. Hà Nội luôn luôn chú trọng các mục tiêu chính trị
của mình, nên mỗi hành động lựa chọn quân sự hay phi quân sự đều nhằm giúp
cho các mục tiêu đó. Theo quan điểm của Hà Nội đây là cuộc chiến tranh tổng
lực.
Trong khi đó, theo cách nhìn của Mỹ, đó là chiến tranh hoàn toàn hạn chế.
Các nhà lãnh đạo Mỹ, dân sự cũng như quân sự, hình như không nắm được đầy
đủ những hệ quả của quyết định chiến đấu trong một cuộc chiến tranh cục bộ
với những mục tiêu hạn chế, nên tìm cách ngăn không cho Bắc Việt Nam giành
thắng lợi ở miền Nam qua việc buộc họ phải trả giá cao. Bây giờ chúng ta hãy
xem xét những hậu quả của quyết định tiến hành một cuộc phòng thủ chiến lược
thụ động ở Nam Việt Nam như vừa nói.
Thứ nhất, nó dành cho Hà Nội quyền chủ động và lợi thế tấn công chiến
lược. Các lực lượng Mỹ và đồng minh ở miền Nam chỉ có thể phản ứng và vũ khí
tiến công duy nhất của họ là sức mạnh không quân để chống lại miền Bắc. Hơn
nữa, việc áp dụng dần dần từng phần sức mạnh không quân đã làm cho tình
hình trở nên xấu hơn nữa. Nó giúp cho Bắc Việt Nam xây dựng các hệ thống
phòng không đến mức chưa từng có, tập cho dân quen chịu đựng hậu quả các
cuộc ném bom. Cho nên xét cho cùng thì không quân đánh miền Bắc Việt Nam
mà không có một mối đe doạ đáng tin cậy và toàn bộ trên mặt đất đối với Hà
Nội là không đạt đến kết quả quyết định.
thương lượng hoà bình, quá sớm. Suốt thời gian từ 1964 đến 1968, tổng thống
Giôn - xơn đã có trên 70 đề nghị hoà bình xen lẫn với 16 lần ngừng ném bom.
Cho đến năm 1968, tư thế của chúng ta ở Nam Việt Nam còn lâu mới đủ mạnh
để biện minh cho các cuộc thương lượng. Hà Nội xem những mưu toan này của
Mỹ như dấu hiệu yếu kém và thiếu tin tưởng của chúng ta.
Với bối cảnh này, chúng ta hãy xem xét tổng quát chiến lược Mỹ. Chiến
lược Mỹ có hai phần, ít liên hệ với nhau theo nghĩa quân sự nhưng liên quan
chặt chẽ với nhau về chính trị và tâm lý. Phần thứ nhất là cuộc tiến công bằng
không quân đối với miền Bắc đi đôi với thương lượng hoà bình về ngoại giao,
nhằm thuyết phục Hà Nội đừng tìm cách chiếm Nam Việt Nam. Phần thứ hai là
cuộc chiến tranh trên bộ ở Nam Việt Nam.
Mặc dầu cuộc tiến công bằng không quân được tranh luận sôi nổi ở Oasinh-tơn, cuộc tranh luận tương tự đối với chiến tranh trên bộ đã diễn ra từ từ.
Oa-sinh-tơn vẫn lỏng tay để tướng Oét-mo-len, trong thời gian từ 1965 đến
1966 - vận dụng sáng kiến chiến lược sai lầm toàn bộ là tiến hành một cuộc
chiến tranh tiêu hao giới hạn trong phạm vi biên giới lãnh thổ Nam Việt Nam,
dùng binh sĩ Mỹ làm mũi nhọn tấn công. Có nhiều điểm yếu kém trong chiến lược
này chồng chéo với nhau làm lợi cho địch theo nhiều cách.
Thứ nhất là Mỹ quá tin vào hiệu quả cuộc tấn công bằng không quân leo
thang dần và tiến hành riêng rẽ nhằm buộc Bắc Việt Nam thôi xâm lăng Nam
Việt Nam. Một lần nữa xin nói rằng, nó được sử dụng mà không có cuộc hành
quân trên bộ hoặc đe doạ tấn công trên bộ nên nó không đạt hiệu quả như
người ta tưởng. Dòng xâm nhập người và vật tư vào Nam Việt Nam tuy bị ngăn
trở nhưng không chặn đứng được. Tệ hơn nữa, cuộc tấn công bằng không quân
của Mỹ ở miền Bắc đã giúp cho Hà Nội có một thứ vũ khí tuyên truyền lý tưởng
mà họ đã sử dụng đạt hiệu quả to lớn trên phạm vi toàn cầu.
Thứ hai là Mỹ đã bị bất lợi một cách tai hại do chiến lược phòng thủ thụ
động không thể làm tiêu hao các lực lượng địch. Dù số thương vong có cao, Bắc
Việt Nam vẫn thực sự tăng cường được sức mạnh của họ ở miền Nam. Họ có đủ
đồng minh, nên rất khó chứng minh là trên thực tế đang có tiến triển. Những bài
tường thuật chiến trận đăng trên báo chí Mỹ cho thấy rõ điều này một cách đau
lòng.
Điều quan trọng nhất là, bị thu hút vào các hoạt động của Mỹ, chúng ta
không quan tâm đầy đủ vào công tác quân sự số một của chúng ta là phát triển
lực lượng vũ trang Nam Việt Nam để họ có thể bình định và phòng thủ chính đất
nước họ. Không có đoàn cố vấn và trợ giúp quân sự riêng nào của Mỹ dành để
làm nhiệm vụ đó. Chúng ta có thể đánh bại thứ quân tinh nhuệ mà Việt cộng và
Bắc Việt Nam đưa ra, nhưng việc này không phải là mục tiêu căn bản của chúng
ta.
Quyết định có ý thức của chúng ta, đặt ưu tiên số một cho việc đánh bại
lực lượng chính quy của địch ở chiến trường bằng cách gần như chỉ sử dụng lực
lượng Mỹ đã gây ra những hậu quả to lớn, bao gồm những điều mắc mớ bất lợi.
Quyết định đó khiến người ta không tập trung ưu tiên nguồn tài lực của Mỹ vào
công tác chính là phát triển quân đội Sài Gòn để họ đảm nhiệm chính lấy việc
chiến tranh và phòng thủ đất nước. Nó còn tạo cho Hà Nội một cơ hội tuyên
truyền tố cáo rằng người Mỹ đã gạt Sài Gòn ra rìa và tiến hành chiến tranh phục
vụ mục đích ích kỷ của đế quốc Mỹ. Quyết định đó còn mắc mưu chiến lược chính
trị toàn bộ của Hà Nội là gây thương vong tối đa cho các lực lượng Mỹ, đưa tổn
phí chiến tranh lên quá mức chịu đựng của chúng ta, làm xói mòn ý chí và quyết
tâm chịu đựng của Mỹ theo đuổi cuộc chiến. Nó cũng phá hoại tâm lý các lực
lượng Nam Việt Nam bằng cách hàm ý là Sài Gòn không đủ khả năng, không có
can đảm đánh bại các lực lượng Bắc Việt Nam (thật ra nhân dân và các người
lãnh đạo Sài Gòn có mặc cảm tự ty như vậy). Sau cùng, quyết định đó làm hao
phí thời gian mà chúng ta không thể lấy lại được. Người Mỹ trong nước đã mất
kiên nhẫn đối với cuộc chiến tranh, không còn tin vào các nhà lãnh đạo của mình
và hoang mang lo sợ. Đến lúc Mỹ chuyển hướng, đặt việc xây dựng lực lượng vũ
trang Sài Gòn lên hàng ưu tiên cao nhất thì đã quá muộn. Sự ủng hộ của quần
chúng Mỹ đã bị xói mòn.
Phần lớn các điều nêu trên, chỉ là một sự duyệt xét khi nhìn lại quá khứ,