TIỂU LUẬN tư TƯỞNG hồ CHÍNH MINH về kết hợp GIỮA sức MẠNH dân tộc với sức MẠNH THỜI đại NHỮNG vấn đề đặt RA TRONG GIAI đoạn CÁCH MẠNG HIỆN NAY - Pdf 38

MỞ ĐẦU
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một nội dung quan trọng trong hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh, là quy luật, bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn cho thấy, nhờ khéo kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành thắng lợi suốt mấy thập kỷ qua. Trước
những diễn biễn phức tạp của tình hình trong nước và thế giới hiện nay, việc nghiên cứu, tìm
hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn to lớn.
Việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc được thực hiện trong hoàn cảnh hiện nay của thế giới sau khi chủ nghĩa xã hội lâm
vào thoái trào; trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra như vũ bão xu thế
toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra sôi động; hoà bình hợp tác đang là xu thế chung của các quốc
gia dân tộc. Tuy nhiên các thế lực hiếu chiến và phản động quốc tế, đứng đầu là đế quốc Mỹ
đang tận dụng ưu thế về kinh tế, khoa học và công nghệ, quân sự, lợi dụng danh nghĩa “chống
khủng bố” để can thiệp sâu vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc có chủ quyền, kể cả
việc tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao.
Ba mươi năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực mới cho đất nước, được bạn bè quốc tế thừa
nhận và khâm phục. Những thành tự đó thể hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Song bên cạnh đó, cũng còn nhiều khuyết điểm,
yếu kém, nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực. Tình hình đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước, nhân dân ta phải
có những chủ trương, quyết sách, biện pháp đúng đắn để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC
VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI
1.1.Quan niệm về sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
Quá trình bôn ba khắp năm châu bốn biển đi tìm đường cứu nước, Hồ
Chí Minh đã chứng kiến cuộc sống khổ cực của các tầng lớp nhân dân
1


tiến bộ trên toàn thế giới; Tình đoàn kết quốc tế vô sản vô tư, trong
sáng; Các phong trào, các lực lượng cách mạng, dân chủ, tiến bộ xã hội
trên toàn thế giới; tinh hoa văn hoá và các giá trị chung của nhân loại.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh dân tộc và sức mạnh
thời đại bao gồm cả sức mạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại
giao… cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần; sức mạnh trong
nước và sức mạnh ngoài nước. Mỗi yếu tố đó có giá trị riêng nhưng đều
có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, yếu tố bao trùm nhất,
trở thành giá trị chung chính là sức mạnh làm chủ và khát vọng về

3


quyền tự do, độc lập, bình đẳng, hạnh phúc của các tầng lớp nhân dân
lao động.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại
Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước trong điều kiện thời đại có những biến đổi
to lớn, đã tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội mở đầu bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917.
Thời đại chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, gắn liền với hệ thống thuộc địa do
chủ nghĩa đế quốc tạo dựng nên. Nhắc nhở những người cộng sản cần bám sát yếu tố thời đại để
định ra đường lối cách mạng cho phù hợp, Lênin khẳng định: “chúng ta đang sống ở khoảng
giao thời giữa hai thời đại và chỉ có thể hiểu được những biến cố lịch sử có ý nghĩa lớn lao đang
diễn ra trước mắt chúng ta nếu trước hết chúng ta phân tích những điều kiện khách quan của
bước chuyển từ thời đại này sang thời đại kia”1 . Quán triệt tinh thần đó, Nguyễn Ái Quốc nhận
thấy: "Thời đại của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn cũng là thời đại một nhóm nước lớn do bọn tư
bản tài chính cầm đầu thống trị các nước phụ thuộc và nửa phụ thuộc, bởi vậy công cuộc giải
phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản" 2 . Từ
thực tiễn yếu tố thời đại đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc tin tưởng thời kỳ tồn tại biệt lập giữa các

nô dịch”. Vai trò của cách mạng thuộc địa rất to lớn, không có họ thì cách mạng vô sản không
thể giành thắng lợi. “Lênin là người đầu tiên" 3 đã nhận thức đúng vấn đề đó. Theo Nguyễn Ái
Quốc, thuộc địa là nơi mà "tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc
địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ
hàng, mộ công nhân rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính
người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó" 4 . Người khái quát: Lịch sử tất cả cuộc
xâm chiếm thuộc địa nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của người bản xứ. Sự bóc
lột tàn bạo của chủ nghĩa tư bản nói trên, đã đẩy các nước thuộc địa đến bước đường cùng phải
đoàn kết chống lại chủ nghĩa tư bản, lựa chọn đi theo con đường cách mạng vô sản.
Sự phân tích trên của Nguyễn Ái Quốc là một thực tế về vai trò của cách mạng thuộc
địa đối với cách mạng vô sản thế giới và sự cần thiết phải gắn bó chặt chẽ cách mạng dân tộc với
cách mạng vô sản thế giới. Quan điểm này còn góp phần đập tan huyền thoại của chủ nghĩa cơ
hội cho rằng: chủ nghĩa đế quốc đi xâm lược các nước thuộc địa, đóng vai là nhà “khai hoá,
truyền bá văn minh” đối với các dân tộc còn lạc hậu, trình độ phát triển thấp. Các dân tộc thuộc
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tập 2, tr 219.
4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tập 1, tr 243.

5


địa chưa có đủ khả năng để giải phóng mình, vì họ còn thấp kém về mọi mặt. Mặt khác, giai cấp
vô sản thế giới chưa thể giúp giai cấp vô sản thuộc địa giải phóng được, để làm được điều đó cần
phải có thời gian tích luỹ lực lượng.
Hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Nguyễn Ái Quốc tìm mọi
cách gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Người khẳng định: “Cách mệnh An Nam
cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới" 5 . Cách mạng ở phương Đông chậm phát triển và
suy yếu vì có một nguyên nhân là “sự biệt lập”. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra
ở các nước láng riềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành
động và sự cổ vũ lẫn nhau. Biết được nguyên nhân suy yếu của cách mạng thì phải tìm cách
khắc phục, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy phải tuyên truyền giáo dục để: làm cho các dân tộc thuộc

nước chân chính, Hồ Chí Minh đã triệt để phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh
thần dân tộc; đồng thời là nhà quốc tế chủ nghĩa trong sáng, Hồ Chí Minh đã suốt đời đấu tranh
không mệt mỏi để củng cố tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị giữa Việt Nam và các dân tộc
khác đang đấu tranh cho mục tiêu chung là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã
hội.

Người nhấn mạnh: Đảng ta lấy toàn bộ hoạt động thực tiễn của mình để chứng

minh chủ nghĩa yêu nước chân chính không thể nào tách rời chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Trước việc kẻ thù tuyên truyền chủ nghĩa chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, thói
kỳ thị màu da, tiếng nói, phong tục, tập quán... để chia rẽ giữa các dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ ra
cách mạng vô sản phải thực hiện triệt để tư tưởng kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với
chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Từ đó, muốn giải phóng mình thì nhân dân “bị bóc lột
thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức” 8 . Người không giấu nổi niềm phấn
khởi khi thấy trường đại học phương Đông đã thể hiện rõ tư tưởng của Lênin về kết hợp chủ
nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng qua việc đoàn kết các dân
tộc thuộc địa: “Làm cho các dân tộc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết
nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh
này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản” 9 . Rằng đây bốn biển một nhà, vàng
đen trắng đỏ đều là anh em.
Để phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện giành độc lập
cho dân tộc, trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hồ Chí
Minh luôn đòi hỏi mọi người phân biệt rõ sự khác nhau giữa nhân dân lao động yêu chuộng hoà
bình, tự do với bọn thực dân đế quốc; nhân dân lao động pháp với bọn thực dân xâm lược Pháp.
Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược gây bao tội ác đối với nhân dân Việt Nam, nhưng Hồ

7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tập 6, tr 172
8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tập 1, tr 452
9 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tập 2, tr 124


thủ sự giúp đỡ của quốc tế với Việt Nam, Hồ Chí Minh đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của
Việt Nam với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Khi có sự mất đoàn kết giữa các dân
tộc phải cùng nhau khôi phục, củng cố, phát triển tình đoàn kết có lý, có tình trên cơ sở chủ
nghĩa Mác - Lênin về tinh thần quốc tế vô sản. Nhân dân Việt Nam không chỉ chiến đấu vì độc
lập tự do cho dân tộc mình mà còn vì độc lập tự do của các nước khác.

12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tập 6, tr 522
13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tập 8, tr 30

9


Thực tiễn cách mạng nước ta hơn 80 năm qua, đã khẳng định: chính sự nỗ lực, cố gắng
của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã tạo nên nguồn sức mạnh nội lực to lớn, nhân tố quyết
định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã từng nói: Chúng ta có quyền tự hào
rằng nước ta là một dân tộc nhỏ nhưng đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Đó là thắng
lợi của sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thắng lợi của tư tưởng dựa vào sức
mình là chính nhưng phải ra sức tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài. Thắng lợi đó còn góp phần
vào bảo vệ củng cố tình đoàn kết phong trào vô sản thế giới, thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả
của mình theo đúng nghĩa “Giúp bạn là tự giúp mình”.
Xây dựng tình hữu nghị hợp tác, đoàn kết giữa các quốc gia dân tộc và các lực lượng
cách mạng, hoà bình, dân chủ trên thế giới
Xây dựng tình hữu nghị hợp tác, đoàn kết giữa các quốc gia dân tộc và các lực lượng
cách mạng, hoà bình, dân chủ trên thế giới, là điều kiện quan trọng để tranh thủ, khai thác sức
mạnh từ bên ngoài vào củng cố giữ vững nền độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước vững
mạnh. Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề đó, sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945 thành công, Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay tới việc mở rộng xây dựng tình hữu nghị, quan hệ
hợp tác với các lực lượng cách mạng, hoà bình, dân chủ trên thế giới. Tư tưởng này được thể
hiện rõ trong chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước ta: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà là Chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam. Căn cứ trên quyền

chung, nhưng với từng nước, nhóm nước có chính sách cụ thể. “Thái độ nước Việt Nam đối với
những nước Á châu là thái độ anh em, đối với ngũ cường là thái độ bạn bè” 1 6 . Hồ Chí Minh chỉ
rõ xây dựng tình hữu nghị láng giềng gần gũi với Lào và Cămpuchia, hình thành mặt trận chiến
đấu chống kẻ thù chung của ba nước Đông Dưong. Với Trung Quốc, nước có quan hệ lịch sử
văn hoá lâu đời, củng cố xây đắp tình hoà hiếu vốn có giữa hai dân tộc ngày càng phát triển, xây
dựng tình hữu nghị “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Mặc dù các nước trong khu vực có phong
tục, tập quán, chế độ chính trị xã hội khác nhau nhưng Việt Nam luôn luôn thiết lập mối quan hệ
hữu nghị láng giềng tốt, tôn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia dân tộc.
Đối với các tư bản, nếu muốn thật thà đến kinh doanh ở Việt Nam cốt làm lợi cho cả hai
bên, thì Việt Nam sẽ hoan nghênh. Ngay cả thực dân Pháp: “Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân
thiện với nhân dân Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu
họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh
em bầu bạn”1 7 . Còn nếu tư bản đến Việt Nam để ràng buộc, chế áp, cao hơn nữa là thôn tính,
xâm lược thì nhân dân Việt Nam sẽ cương quyết cự tuyệt chống lại.

15 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr 470
16 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr 136
17 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr 587

11


Để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước trên thế giới,
Hồ Chí Minh đã có nhiều cuộc đi thăm hữu nghị chính thức một số nước ở châu Á như Ấn Độ,
Miến Điện, Inđônêxia... hình thành trục hữu nghị Hà Nội - Niuđêli - Giacácta và đón tiếp nhiều
đoàn đại biểu cấp cao từ các nước Á, Phi; nhiều tổ chức quốc tế sang thăm Việt Nam. Từ năm
1963 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước ta đã chủ trương vận động nhân dân thế giới, các tổ
chức của nhân dân Á, Phi, Mỹ la tinh có hành động phối hợp mạnh mẽ hơn đòi đế quốc Mỹ
chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Kết quả là ở nhiều nước đã thành lập Uỷ ban đoàn kết với Việt
Nam và Hồ Chí Minh cũng không quên gửi điện cảm ơn kịp thời tới vị đứng đầu các tổ chức đó.

hóa giữ nước Việt Nam; sức mạnh của những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực mà nhân dân ta
đã đạt được trong công cuộc đổi mới đất nước những năm vừa qua.
Trước những biến động phức tạp của tình hình chính trị thế giới, sức mạnh của thời đại
là sức mạnh của quy luật phát triển xã hội loài người quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội trên phạm vi toàn thế giới nhưng có những nội dung và hình thức mới. Đó là sức mạnh của
chủ nghĩa xã hội đang hồi sinh và đổi mới; sức mạnh đoàn kết của giai cấp công nhân, của các
lực lượng tiến bộ và nhân dân lao động các nước đấu tranh chống sự áp đặt cường quyền của các
nước đế quốc, chống mặt trái của toàn cầu hóa, phấn đấu vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội; là sức mạnh của đường lối và chính sách ngoại giao đúng đắn và sáng
tạo của Đảng và nhà nước ta: Việt Nam là bạn là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển ; là sức mạnh của khoa học
công nghệ đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, cùng với nguồn lực trí tuệ của cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài đang hướng về Tổ quốc. Để phát huy được sức mạnh tổng hợp đó
phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi, bảo đảm cho sự
phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Giữ vững định hướng xã hội trong công cuộc đổi mới là một nội dung quan trọng.
Trước những biến đổi sâu sắc của tình hình quốc tế hiện nay việc giữ vững định hướng phát triển
của đất nước theo mô hình chủ nghĩa xã hội là một vấn đề có ý nghĩa quyết định, đó là phương
hướng chính trị và quan điểm chỉ đạo cơ bản, được Đảng ta quán triệt sâu sắc và nhất quán trong
mọi hoạt động thực tiễn. Ngay từ cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội tại Đại hội VII, Đảng ta đã nhận định “lịch sử đang trải qua những bước quanh co,
song loài người cuối cùng nhất định sẽ tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch
sử”1 8 . Đồng thời Đại hội cũng đi đến chủ trương: “phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
trong quá trình đổi mới, kết hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược cách mạng với sự linh
hoạt trong trong sách lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới. Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất
yếu ở nước ta…Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa
và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội”1 9
1,2


tưởng Đảng ta cũng rất quan tâm đến việc giữ vững định hướng trên lĩnh vực kinh tế. Bởi vì,có
quá độ lên chủ nghĩa xã hội được hay không; diều đó trước hết phụ thuộc vào công cuộc xây
dựng nền kinh tế có giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa hay không. Định hướng đó phải
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa bao gồm cả quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối và vấn đề quản lý nền kinh
tế. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ đó sẽ bảo đảm cho nền kinh tế không bị tụt hậu trong thời
đại văn minh tin học, tạo ra được tiền đề kinh tế, kỹ thuật cho sự quá độ, đồng thời không đi
chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

20

ĐCSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, HN 1996, tr. 82

14


Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo
quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế;
có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo…”2 1 . Kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử
với những đặc điểm riêng. Trước hết, đó là tính mục đích của kinh tế thị trường ở nước ta khác
với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa: “Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại
gắn liền với xây dựng một quan hệ sản xuất mớiphù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân
phối”. Đó là một nền kinh tế thị trường có nhiều cơ cấu, nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể dần trở thành nền tảng của kinh tế quốc dân;
một nền kinh tế kết hợp hài hòa sự phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội, công bằng xã hội, phát

ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Trong kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ Đảng ta luôn coi trọng việc phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc. Chỉ có
bằng sức mạnh của nội lực thì chúng ta mới có nền tảng vững chắc để bồi bổ lực lượng vượt qua
mọi hy sinh, gian khổ mọi tình huống phức tạp, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi.
Hiện nay, xuất phát từ bối cảnh quốc tế và cục diện cách mạng trong nước kế thừa và
phát triển những bài học kinh nghiệm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều
kiện mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định phải khơi dậy “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả
và bền vững”2 2 và xác định rõ “nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau
thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”2 3 .
Đảng ta đã nhận thức sâu sắc rằng trong quá trình kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại, trước hết phải nêu cao ý chí tự lực tự cường, phát huy cao nhất các yếu tố nội lực
dựa vào nguồn lực trong nước là chính, bao gồm nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí
tuệ, truyền thống (lịch sử, văn hóa của dân tộc). Kinh nghiệm cho thấy, nếu không nêu cao tinh
thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, không phát huy đầy đủ nội lực thì không thể đứng vững, đi
lên một cấch lâu bền và cũng không thể hội nhập quốc tế một cách bình đẳng. Ngược lại để hội
nhập một cách chủ động, tránh “đánh mất” mình hay “hòa tan” mình vào cuộc hội nhập đầy
phức tạp và tiềm tàng những bất trắc thì không thể không xây dựng và phát triển một nội lực
mạnh mẽ đủ khả năng giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, tiếp thu và sử dụng có hiệu quả
ngoại lực để xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Thực tiễn cách mạng nước ta, nhất là sau 30 năm đổi mới đã chứng minh rằng tư tưởng
“độc lập, tự chủ, tự lực tự cường” là hoàn toàn đúng đắn. Chỉ có trên cơ sở độc lập tự chủ chúng
ta mới có sự sáng tạo trong đường lối cách mạng, luôn luôn chủ động và năng động trong thực

22

ĐCSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN 2001, tr. 86
23

16

dựng nước ta thành nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chế độ
xã hội chủ nghĩa, chứ nhất quyết không phải để “hòa nhập với thế giới tự do” tư bản chủ nghĩa.

24

ĐCSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, HN 2016, tr. 69

17


Trong hợp tác phải đấu tranh chống những thủ đoạn lợi dụng hợp tác để chống phá ta, nhưng đấu
tranh là để hợp tác tốt hơn tận dụng nguồn lực bên ngoài tốt hơn.
Vì vậy đi đôi với giữ vững tự chủ tự lực, tự cường chúng ta cũng cần phải chủ động hội
nhập quốc tế, tranh thủ sự hợp tác, liên kết với các nước để khai thác nguồn vốn đầu tư, khoa
học, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, điều hành đất nước cả tầm vĩ mô và vi mô. Đó
chính là là phương hướng xây dựng, sử dụng sức mạnh tổng hợp làm cho các yếu tố thời đại,
quốc tế chuyển hóa và kết hợp với nội lực giúp chúng ta vượt qua những khó khăn thử thách để
đứng vững đổi mới và phát triển.
2.3. Xây dựng một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ theo phương hướng phát huy cao độ
nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài chủ động hội nhập quốc tế
Đó là nền kinh tế độc lập tự chủ đáp ứng nhu cầu xây dựng Tổ quốc giàu mạnh, có khả
năng cạnh tranh trên trường quốc tế, đồng thời đáp ứng nhu cầu xây dựng nền quốc phòng đủ
mạnh để răn đe kẻ thù và đánh thắng chúng khi chúng liều lĩnh xâm lược. Để xây dựng một nền
kinh tế như vậy, trước hết chúng ta phải phát huy nội lực của chính mình trên tinh thần “đem sức
ta để giải phóng cho ta”. Chúng ta phải bắt đầu từ xây dựng nền kinh tế, vì đó là đầu mối của
mọi vấn đề, xây dựng nền quốc phòng cũng phải như vậy.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triển
kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời phải xây dựng được tiềm lực kinh tế, kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, có năng lực nội sinh về khoa học công nghệ…đảm bảo cho
nền kinh tế phát triển trên chính khả năng của mình và phải có cơ cấu kinh tế hợp lý, an toàn về

tận dụng và phát huy tối đa mọi nguồn lực từ bên ngoài đòi hỏi chúng ta cũng phải tham gia vào
quá trình đó. Tuy nhiên việc hội nhập ở đây không phải là sự hòa nhập bị động với trào lưu phát
triển mới của thời đại, càng không phải là sự tham gia hội nhập bằng mọi giá để tự đánh mất
mình, mà phải là sự tham gia có lựa chọn, tính toán chặt chẽ đến lợi ích quốc gia vầ chủ quyền
dân tộc. Đảng ta đã khẳng định: “chủ động hội nhập quốc tế và khu vực”. Điều đó đã nói nên
rằng chỉ có chủ động tham gia vào quá trình hội nhập chúng ta mới có thể tận dụng và phát huy
tối đa các nguồn lực từ bên trong như: vốn, khoa học công nghệ, trình độ tổ chức quản lý…kết
hợp với các nguồn lực bên trong để xây dựng và phát triển đất nước. Chỉ có trên cơ sở của sự hội
nhập chúng ta mới có thể tạo được sự đan cài về lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội giữa nước ta với
các nước, với cấc tổ chức quốc tế và khu vực. Để khi có những tình huống phức tạp xảy ra thì
một mặt chúng ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ xảy ra chiến tranh và mặt khác nếu
chiến tranh có xẩy ra thì chắc chắn chúng ta sẽ nhận được sự ủng hộ to lớn cả về vật chất và tinh
thần từ các nước. Như vậy, việc chủ động tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ có ý
nghĩa đơn thuần về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt quốc phòng an ninh,
phục vụ tốt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Đất nước ta đang thực hiện một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Chúng ta không phủ nhận những thành quả mà nền kinh tế thị trường đem lại. Nhưng,
chúng ta cũng cảm thấy rất lo ngại về những tác động tiêu cực của nó trên tất cả các lĩnh vực
kinh tế, chính trị - xã hội, nhất là đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Do đó, để tận dụng và

19


phát huy tối đa các yếu tố tạo thành sức mạnh nội lực trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Đảng ta đã có những cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi giai
cấp tầng lớp trong xã hội vừa tích cực, chủ động trong phát triển kinh tế vừa tham gia vào xây
dựng, củng cố quốc phòng. Đảng chủ trương giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, chính trị - xã
hội của tất cả các giai cấp tầng lớp, các thành phần kinh tế để tìm ra những điểm tương đồng, đó
là lợi ích quốc gia, chủ quyền dân tộc, sự mất còn của Tổ quốc. Nhằm mục đích, trong mỗi bước
phát triển kinh tế chúng ta tạo ra các điều kiện tốt để củng cố quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và

sinh phải được xử lý linh hoạt, khéo léo đúng nguyên tắc. Bởi vậy cần có nhận thức đúng về hợp
tác quân sự, quốc phòng có đặc thù và nhiệm vụ riêng. Hoạt động hợp tác quân sự, quốc phòng
muốn đạt hiệu quả cao phải phối hợp chặt chẽ với các lĩnh vực hợp tác và đấu tranh khác, nhất là
về kinh tế, chính trị, khoa học, công nghệ, văn hóa, nhằm đạt được yêu cầu mọi kết quả hợp tác
trên các lĩnh vực đều tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác quân sự, quốc phòng góp phần đẩy
mạnh các mối quan hệ hợp tác và đấu tranh trên các lĩnh vực khác nhằm đạt mục tiêu chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó cần nhận thức đứng vai trò, vị trí của hợp tác quân sự, quốc
phòng trong tình hình mới. Tránh nhận thức đơn giản, một chiều, coi quân sự, quốc phòng chỉ là
đối đầu. Cố nhiên, quốc phòng chỉ là chuẩn bị để chống giặc ngoài, thù trong, bảo vệ Tổ quốc và
chế độ, nhưng còn một chức năng nữa cũng rất quan trọng là xây dựng tiềm lực kinh tế quốc
phòng, an ninh, góp phần phát huy cao nhất ngoại lực - sức mạnh thời đại.
Trong mối quan hệ sử dụng sức mạnh nội lực và tranh thủ tối đa ngoại lực để củng cố
quốc phòng, phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo tận lực khai thác mọi tiềm năng của đất nước, kinh
nghiệm và truyền thống của dân tộc ta, đề cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, vận
dụng linh hoạt sáng tạo phương châm, phương pháp nâng cao hiệu quả hợp tác, đấu tranh, khôn
khéo giữ thế có lợi cho ta, tránh bị chèn ép, lệ thuộc, giữ gìn bí mật quân sự, bí mật quốc gia an
ninh chính trị. Trên cơ sở đó và với tư cách là thành viên của cộng đồng quốc tế, chủ động hội
nhập mở rộng hợp tác, đấu tranh quân sự quốc phòng trên nhiều lĩnh vực theo hướng mở rộng,
đa phương hóa đa dạng hóa các quan hệ với quân đội và nhân dân các nước, trước hết là các
nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước trong khu vực và bạn bè truyền thống; từng bước
mở rộng quan hệ có chọn lọc với các nước khác, tham gia các hoạt động hợp tác quân sự trong
khu vực và trên thế giới, gópphần tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế, nâng cao vị thế quốc
tế của Đảng, nhà nước và quân đội ta, củng cố tình đoàn kết của nhân dân ta với nhân dân các
nước, tranh thủ sự đồng cảm ủng hộ của bạn bè quốc tế, tạo môi trường hòa bình ổn định về điều
kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời góp phần củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng sức mạnh chiến đấu của
quân đội trên cơ sở hợp tác với quân đội các nước trong đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chỉ
huy, nhân viên kỹ thuật, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu tiên tiến về khoa học nghệ thuật quân
sự, công nghiệp quốc phòng, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy giáo dục, huấn luyện quân đội và lực
lượng vũ trang …Qua đó làm cho quân đội và nhân dân các nước hiểu rõ, hiểu đúng hơn về đất
nước, con người Việt Nam, đường lối chính sách quốc phòng của Đảng và nhà nước ta. Chúng ta

6. HVCT, Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học tập 1, 2, Nxb QĐND, H.2008
7. HVCT, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh tập 1, 2, Nxb QĐND, H.2014
8. Vũ Đình Hòe (chủ biên), Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, H.2010.

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status