Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
Lời cám ơn.
Trong 4 năm học tại trường Học viện Hành chính về khoa Nhà nước và pháp luật
với chuyên ngành Thanh tra. Với sự tận tình giảng dạy của quý thầy, cô giáo đã
trang bị cho em những kiến thức cơ bản về chuyên ngành học của mình, đồng thời
cũng tạo cho em nắm được những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ của ngành
Thanh tra, những bài học, kinh nghiệm, sự hiểu biết về xã hội, khi ra trường em có
một trình độ nhận thức, kiến thức thực tế đầy đủ bước vào cuộc sống.
Thời gian qua, được sự giới thiệu của nhà trường em đã về Thanh tra tỉnh Lạng
Sơn. Sau gần 2 tháng tiếp súc thực tế với chuyên ngành học của mình, đã giúp em
nâng cao được trình độ, kinh nghiệm và có cơ hội áp dụng những kiến thức đã học
vào thực tiễn.
Với những kiến thức được tích lũy đã học ở trường và tiếp xúc với thực tế, cùng
với sự hưỡng dẫn tận tình của cô giáo Trần Thị Diệu Oanh và cán bộ thanh tra viên
Mã Thị Hiền và cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các Bác, Chú lãnh đạo và toàn
thể cán bộ thanh tra tỉnh Lạng Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bản báo
cáo này.
Tuy nhiên với trình độ nhận thức còn hạn chế không thể không tránh khỏi những
thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo trường Học viện Hành
chính, cùng các Bác, Chú lãnh đạo Thanh tra tỉnh Lạng Sơn để bản báo cáo của em
được hoàn chỉnh hơn và giúp em hoàn thành chương trình, nhiệm vụ học của mình.
Em xin chân thành cám ơn./.
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
1
- Thực hiện các công
(Từ ngày 02 đến
việc được giao.
ngày 06/04/2012)
- Nghiên cứu tài liệu.
- Viết đề cương sơ lược
và kế hoạch thực tập.
Tuần 3:
(Từ ngay 09 đến
ngày 13/04/2012)
- Gửi mail cho giáo
viên hướng dẫn về bản đề
cương báo cáo thực tập.
- Tiếp tục nghiên cứu
tài liệu tại đơn vị thực
tập.
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
2
- Làm quen với các
công việc chính của
phòng.
- Nghiên cứu tài liệu.
(từ ngày 23 đến ngày
- Tham gia các công
27/04/2012)
việc của phòng nghiệp vụ
- Nhận biết các nghiệp
vụ chuyên môn của
phòng.
1.
Tuần 6:
(Từ ngày 02 đến
ngày 04/05/2012)
- Viết dự thảo báo cáo
thực tập.
- Bản dự thảo báo cáo
thực tập.
- Học cách viết bút lục
hồ sơ và các công việc
- Kỹ năng viết bút lục
- Ý kiến của đơn vị thực
3
- Hoàn thiện bản báo
cáo thực tập.
- Kết thúc đợt thực tập.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai hiện nay, dưới sự tác động của xu hướng toàn cầu hóa hội nhập, cùng
với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, có rất nhiều quốc gia đã nỗ lực
cải cách hành chính, để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy trong các cơ quan
hành chính Nhà nước. Trước những đòi hỏi của nền công vụ, nền hành chính nước ta
đã có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng theo hướng ngày càng hiện đại, năng
động và hiệu quả hơn để đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi nền công vụ. Với việc sử
việc chấp hành chính sách pháp luật, nhiệm vụ được giao của đối tượng chịu sự quản
lý. Chính vì vậy, thanh tra, kiểm tra là một phương thức đảm bảo pháp chế, tăng
cường kỷ luật nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phòng ngừa và đẩy lùi
tệ tham nhũng cần phải được xác định như một yếu tố tất yếu của quản lý.
Tham nhũng luôn gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ
máy nhà nước. Về mặt lý luận, không thể có tệ tham nhũng ngoài nhà nước, tách
khỏi bộ máy quản lý, cai trị. Tham nhũng là căn bệnh đồng hành đặc trưng của mọi
nhà nước, đó là biểu hiện của sự “tha hóa quyền lực nhà nước”, là căn bệnh không
thể tránh khỏi của các chế độ. “mọi người có quyền lực đều có xu hướng lạm dụng
quyền lực đó”(L. Montsesquieue – nhà tư tưởng lớn người Pháp ở thế kỷ XVI). Như
vậy tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn liền với việc hình thành giai cấp và sự
ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước. Tệ tham nhũng diễn ra ở tất cả các quốc gia,
không phân biệt chế độ chính trị, không kể quốc gia giàu nghèo, đang ở trình độ phát
triển kinh tế như thế nào; tham nhũng diễn ra ở mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn
hóa, nó tồn tại và phát triển thường xuyên, hàng ngày, hàng giờ, nó len lỏi vào mọi
mặt của đời sống xã hội và đụng chạm đến lợi ích hầu hết của cư dân. Tham nhũng
là một căn bệnh nguy hiểm, nó gây ra những hậu quả hết sức nguy hại về mặt kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có khi dẫn đến sự sụp đổ của một cơ chế.
Xác định được những yêu cầu cấp thiết trên, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
tiếp tục xác định vai trò của thanh tra trong phòng, chống tham nhũng: “Để thực
hiện phòng, chống tham nhũng(PCTN) trong bộ máy nhà nước, một trong những
giải pháp quan trọng là cần phải hoàn thiện các cơ chế về thanh tra, kiểm tra; phải
tập trung chỉ đạo thanh tra, kiểm tra phòng, chống tham nhũng”.
Để giúp sinh viên có được những cơ sở lý luận thực tế về ngành học của mình,
Học viện hành chính đã tổ chức cho sinh viên đi tìm hiểu thực tế tại các cơ quan, tổ
chức trong bộ máy Nhà nước. Là một cử nhân hành chính trong tương lai, được về
thực tập tại cơ quan thanh tra. Trong suốt thời gian thực tập, tôi đã tìm hiểu và học
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
6
gia và 7 cặp chợ biên giới. Mặt khác, có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất
thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, khoa học – công nghệ với các tỉnh phía Nam
trong cả nước, với Trung Quốc và qua đó sang các nước vùng Trung Á, châu Âu và
các nước khác.
Toàn tỉnh có 10 huyện và 01 thành phố thuộc tỉnh với 226 xã, phường, thị trấn,
trong đó có 136 xã vùng cao, 106 xã đặc biệt khó khăn, 20 xã và 01 thị trấn biên
giới. Dân số toàn tỉnh năm 2009 là 732 nghìn người. Trong đó dân số thành thị có
141.728 người, chiếm 19,33%, dân số nông thôn có 591.403 người, chiếm 80,67 %.
Lạng Sơn có 7 dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên địa bàn, trong đó có 2 dân tộc
chiếm tỷ lệ lớn là: Dân tộc Nùng 43,9%, dân tộc Tày 35,9%. Toàn tỉnh hiện nay có
460.358 lao động trong độ tuổi lao động, chiếm 62,79% tổng dân số, trong đó lao
động nữ chiếm 50,71%. Tỷ lệ lao động khu vực nông thôn chiếm 79,78%, lao động
khu vực thành thị chiếm 20,22%.
Diện tích tự nhiên 8.327,6 km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 62,3%, đất phi
nông nghiệp 4%, đất chưa sử dụng 33,7%. Nền địa hình cao trung bình so với mặt
nước biển là 251m. Lạng Sơn có nét đặc thù của khí hậu á nhiệt đới với độ ẩm cao
(trên 80%) và phân bố tương đối đều trong năm. Sự phân bố khí hậu này đã cho
phép Lạng Sơn có thể phát triển đa dạng, phong phú các loại cây trồng ôn đới, á
nhiệt đới và nhiệt đới.
Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi Nhà nước đang thực hiện chính sách đầu tư
phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, thì Lạng Sơn càng có điều kiện để phát triển các
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
với các lễ hội, truyền thống văn hóa làm cho Lạng Sơn luôn là điểm du lịch hấp dẫn
đối với du khách thập phương.
Với những điều kiện như vậy, trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền và
nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã chủ động nắm bắt thời cơ, khai thác những
thuận lợi, khắc phục những khó khăn để đạt được những kết quả quan trọng trên các
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, chính
trị ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm
bảo..
Trong quá trình phát triển, tốc độ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội
ngày một tăng, nhất là việc triển khai xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu, khu đô thị
mới … đã làm phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến công tác quản lý xã hội và đời
sống nhân dân (trong đó có công tác phòng, chống tham nhũng). Mặt khác môi
trường đầu tư phát triển còn có những vấn đề bất cập, hệ thống, chính sách đang
từng bước hoàn thiện; lĩnh vực xã hội vẫn còn nhiều bức xúc, trình độ dân trí nhìn
chung còn thấp; năng lực quản lý điều hành và thực thi công vụ của một bộ phận cán
bộ, công chức từ tỉnh đến cơ sở còn nhiều hạn chế … đó là một số nguyên nhân làm
phát sinh tiêu cực tham nhũng và phần nào đã ảnh hưởng nhất định đến việc thực
hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh. Vì vậy công tác PCTN trên địa bàn đã được Đảng
bộ, chính quyền tỉnh Lạng Sơn chủ động, tích cực thực hiện và coi đây là nhiệm vụ
trọng tâm, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và xã hội.
1.2.Tổng quan về thanh tra tỉnh Lạng Sơn
Ngày tái lập của cơ quan Thanh tra tỉnh: 15/5/1957
* Địa chỉ, điện thoại, fax, email của cơ quan Thanh tra tỉnh:
Số 04 đường Hoàng Văn Thụ - P.Chi Lăng - TP. Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
ĐT Văn phòng: 025. 3812273
Fax: 025.3811287
Căn cứ vào Quyết định số 2532/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lạng Sơn ngày 22
tháng 12 năm 2009 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Thanh tra tỉnh Lạng Sơn quy định như sau:
1.2.1. Vị trí và chức năng
1.2.1.1.Vị trí
Thanh tra tỉnh là cơ quan ngang Sở thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; chịu sự chỉ đạo,
quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh mà trực tiếp là
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về
công tác, tổ chức và chuyên môn, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ.
Thanh tra tỉnh Lạng Sơn có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
1.2.1.2.Chức năng
Thanh tra tỉnh Lạng sơn có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo;
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, giải quyết kiếu nại,tố cáo và phòng, chống
tham nhũng trong phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh.
1.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn
Thanh tra tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
* Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác tổ chức, nghiệp vụ thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo đối với thanh tra Huyện, thanh tra Sở và cán bộ làm công tác
thanh tra của cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân
tỉnh.
* Về thanh tra
- Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng và thực hiện Chương trình, kế
hoạch thanh tra của Thanh tra các Huyện, Thành phố, thanh tra Sở;
- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân
các Huyện, Thành phố, của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh (sau
đây gọi chung là Sở);
- Thanh tra vụ việc có liên quan đến trách nhiệm của nhiều Ủy ban nhân dân
huyện, thành phố hoặc nhiều Sở;
- Thanh tra vụ việc khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao;
- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định
xử lý về thanh tra của Thanh tra tỉnh và của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
* Về giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản
lý của Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện việc tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố
cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện chế độ tiếp công dân tại trụ sở làm việc
theo quy định;
- Thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện,
thành phố, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân
tỉnh trong việc tiếp nhận công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiến nghị các biện
pháp nhằm chấn chỉnh công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc phạm vi quản lý
* Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
phòng, chống tham nhũng được thực hiện quyền hạn của Thanh tra tỉnh theo quy
định của pháp luật; yêu cầu cơ quan, đơn vị có liên quan cử cán bộ, công chức tham
gia các Đoàn thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
* Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo,
phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc ủy
quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, Thanh tra Chính phủ.
* Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật; xây dựng cơ sở dữ
liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ được giao.
* Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động thanh tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng. Thực hiện công tác thông tin, tổng hợp,
báo cáo kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham
nhũng theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh và Thanh tra Chính phủ.
* Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng, các phòng nghiệp
vụ thuộc Thanh tra tỉnh; quản lý biên chế, thực hiện chế độ tiền lương và chính
sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công
chức thuộc phạm vi quản lý của Thanh tra tỉnh theo quy định của pháp luật và phân
cấp Ủy ban nhân dân tỉnh.
* Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và
phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
* Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân tỉnh giao và theo quy định
Phòng Nghiệp vụ III;
Phòng Nghiệp vụ IV.
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
Các Phòng Nghiệp vụ giúp Chánh Thanh tra tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo lĩnh vực và địa bàn
thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh; thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng trong phạm vi địa bàn được phân
công phụ trách.
Chánh Thanh tra tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng và các Phòng
Nghiệp vụ của thanh tra tỉnh theo đúng hưỡng dẫn tại Thông tư liên tịch số
475/2009/TTLT-TTCP-BNV ngày 13 tháng 3 năm 2009 của thanh tra Chính phủ và
Bộ Nội Vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh
tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thanh tra Huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh.
1.2.3.2.Biên chế và kinh phí hoạt động
* Biên chế
Biên chế hành chính của Thanh tra tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định trong
tổng biên chế hành chính của tỉnh được Trung ương giao.
Căn cứ vào quy định về định mức biên chế, khối lượng công việc và tính chất đặc
thù, phức tạp của công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham
nhũng, Ủy ban nhân tỉnh bố trí biên chế cho Thanh tra tỉnh đảm bảo đủ lực lượng để
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
nước, tách khỏi bộ máy quản lý, cai trị. Tham nhũng là căn bệnh đồng hành đặc
trưng của mọi nhà nước, nó là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực, đó là biểu hiện của
sự “tha hóa quyền lực nhà nước”, là căn bệnh không thể tránh khỏi của các chế độ.
L. Montsesquieue – nhà tư tưởng lớn người Pháp ở thế kỷ thứ XVI đã chỉ rõ: “mọi
người có quyền lực đều có xu hướng lạm dụng quyền lực đó”.
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn liền với việc hình thành giai cấp và sự
ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước. Tệ tham nhũng diễn ra ở tất cả các quốc gia,
không phân biệt chế độ chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình
độ phát triển kinh tế như thế nào; tham nhũng diễn ra ở mọi lĩnh vực kinh tế -xã hội,
văn hóa, nó tồn tại và phát triển thường xuyên, hàng ngày, hàng giờ, nó len lỏi và
mọi mặt của đời sống xã hội và đụng chạm đến lợi ích hầu hết của cư dân. Tham
nhũng là một căn bệnh nguy hiểm, nó gây ra những hậu quả hết sức nguy hại về mặt
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có khi dẫn đến sự sụp đổ của một thể chế.
Tham nhũng là hiện tượng mà không ai có thể phủ nhận về sự tồn tại cũng như
tính nguy hại của nó đối với xã hội. Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn đề tham nhũng,
không có một định nghĩa chung nhất và cụ thể về tham nhũng. Những quan niệm về
tham nhũng còn phụ thuộc vào tình hình chính trị, xã hội của mỗi nước.
Theo Từ điển tiếng Việt thì: “tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu
dân và lấy của”.
Ngân hàng thế giới định nghĩa: “tham nhũng là sự lạm quyền lực công cộng mưu
cầu các lợi ích cá nhân”.
Định nghĩa được sử dụng phổ biến và cổ điển nhất là của Coolin Nye cho rằng:
Tham nhũng là hành động trệch hướng khỏi các nhiệm vụ chính thức của một vai trò
cộng đồng bởi các vẫn đề cá nhân (bao gồm: cá nhân, gia đình, các nhóm cá nhân)
về tiền bạc hay địa vị, hoặc vi phạm các quy định đối với các quyền lực ảnh hưởng
- Tham nhũng theo nghĩa hẹp là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong
khu vực nhà nước đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
Luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam quan niệm tham nhũng theo nghĩa
hẹp. Việc giới hạn như vậy là nhằm tập trung vào những hành vi tham nhũng xảy ra
phổ biến nhất, bảo đảm tính trọng tâm.
Do sự phát triển của khu vực tư dẫn đến những hành vi tham nhũng trong khu vực
này trở nên ngày càng phổ biến và tác động đến trật tự xã hội nói chung, do vậy, vấn
đề chống tham nhũng trong khu vực tư cần phải được đặt ra. Công ước Liên hợp
quốc về chống tham nhũng mà chúng ta tham gia ký kết và đã phê chuẩn cũng nhấn
mạnh vấn đề này.
Như vậy, tham nhũng được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
* Dấu hiệu (đặc trưng) pháp lý của tham nhũng
Phân tích khái niệm “tham nhũng” theo quy định của pháp luật Việt Nam, có thể
thấy tham nhũng có những đặc trưng cơ bản sau:
- Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn.
- Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng chỉ có thể là người có chức vụ, quyền hạn
thực hiện. Người có chức vụ, quyền hạn là người do bầu cử, bổ nhiệm, phê chuẩn do
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
hợp đồng hoặc do hình thức khác, được giao thực hiện một nhiệm vụ, công vụ cụ
thể.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
định thông qua vị trí của các cơ quan này trong bộ máy nhà nước, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của nó do pháp luật quy định và hiệu quả hoạt động của nó trong thực
tiễn.
Cơ quan thanh tra nhà nước là một bộ phận trong hệ thống cơ quan hành chính
nhà nước. Cơ quan thanh tra nhà nước trọng phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo,
phòng, chống tham nhũng; tiễn hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,
chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Trong hoạt động phòng, chống tham nhũng, vai trò của cơ quan thanh tra được thể
hiện qua các yếu tố:
- Thanh tra là một khâu trong chu trình quản lý nhà nước, đảm bảo cho hoạt
động quản lý đúng pháp luật, ngăn ngừa tham nhũng.
Về mặt lý luận, thanh tra luôn gắn liền với quản lý nhà nước, với tư cách là một
chức năng, một khâu trong chu trình quản lý nhà nước, hoạt động của thanh tra
không thể tách rời hoạt động quản lý nhà nước.
Quản lý được hiểu là sự tác động có tính chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới
mục đích nhất định và đúng với ý chí của chủ thể quản lý. Trong phạm vi nghiên
cứu về quản lý nhà nước, xét theo giai đoạn tác động thì quản lý nhà nước có ba giai
đoạn cơ bản: ra quyết định; tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện
quyết định. Trong đó kiểm tra là hình thức tác động có hướng đích nhằm quan sát cả
hệ thống để phát hiện ra những sai lệch so với yêu cầu đề ra, tìm ra nguyên nhân và
cường kỷ luật nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phòng ngừa và đẩy lùi
tệ tham nhũng cần phải được xác định như là một yếu tố tất yếu của quản lý.
- Hoạt động thanh tra giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi phạm
pháp luật.
Các cơ quan thanh tra nhà nước với chức năng cơ bản là tiến hành các cuộc thanh
tra nhằm đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra; thực hiện nhiệm vụ giải quyết, khiếu nại, tố
cáo theo thẩm quyền đã thể hiện vai trò của mình như một công cụ không thể thiếu
của Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay. Mục đích
của hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp
luật để kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục;
phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá
nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
Với chức năng và mục tiêu hoạt động được pháp luật thanh tra quy định, các cơ
quan thanh tra nhà nước luôn thể hiện vai trò là công cụ quan trọng và hữu hiệu để
đảm bảo hiệu lực quản lý nhà nước, thiết lập kỷ cương quản lý xã hội, đấu tranh
phòng, chống các vi phạm pháp luật trong đó có các hành vi tham nhũng.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục xác định vai trò của thanh tra
trong phòng, chống tham nhũng: Để thực hiện phòng, chống tham nhũng trong bộ
GVHD: ThS. Trần Thị Diệu Oanh
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nói trên, các cơ quan thanh tra
được sử dụng các quyền nhằm bảo đảm cho các cơ quan thanh tra hoàn thành tốt
nhiệm vụ. Trong quá trình thanh tra, tùy từng trường hợp cụ thể đoàn thanh tra có
quyền: kiểm kê tài sản, niêm phong tài liệu; tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép; tạm đình
chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm của đối tượng bị thanh tra
khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Ngoài ra, người ra quyết định
thanh tra còn quyết định thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép hoặc ra
quyết định xử lý theo thẩm quyền khi thấy cần thiết.
Khi kết luận thanh tra, các cơ quan thanh tra có quyền: đánh giá việc thực hiện
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh tra; kết
luận về nội dung thanh tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân,
trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm(nếu có); các biện
pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng; kiến nghị các biện pháp xử lý đối với
các hành vi vi phạm pháp luật trong đó có các hành vi tham nhũng(nếu có) của đối
tượng thanh tra. Ngoài ra trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện vụ việc, dấu hiệu
phạm pháp hình sự, người ra quyết định thanh tra có thẩm quyền chuyển hồ sơ sang
cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Thanh tra Chính phủ, ngoài những nhiệm vụ chung như các cơ quan
thanh tra nhà nước khác trong phòng, chống tham nhũng còn có nhiệm vụ: xây dựng
văn bản pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trình
cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền; hướng dẫn kiểm tra,
thanh tra việc thực hiện pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,
chống tham nhũng…
Thông qua việc thanh tra giải quyết kiếu nại, tố cáo các cơ quan thanh tra phát
hiện được những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, công chức, để có những
biện pháp xử lý hiệu quả, kịp thời.
Theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, các cơ quan thanh tra
công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” và các chính sách pháp luật của nhà
nước;
Nghị quyết số 21/NQ ngày 12/5/2009 của Chính phủ ban hành chiến lược quốc
gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020;
Thông tư 2442/2007/TT-TTCP ngày Hướng dẫn thi hành một số Điều của Nghị
định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về minh bạch tài
sản, thu nhập;
Thông tư số 05/2011/TT-TTCP ngày 10/01/2011 của thanh tra Chính phủ quy
định về phòng, chống tham nhũng trong thanh tra;
SV: Hoàng Văn Dũng - KH9 TT2
25