PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM THÔNG QUA VIỆC GẮN KẾT TRI THỨC KHOA HỌC VỚI KIẾN THỨC HÓA HỌC PHỔ THÔNG - Pdf 38

               

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
……… 
 
 
 

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH
VIÊN SƯ PHẠM THÔNG QUA VIỆC GẮN KẾT TRI
THỨC KHOA HỌC VỚI KIẾN THỨC HÓA HỌC PHỔ
THÔNG PHẦN HIĐROCACBON LỚP 11 VỚI SỰ HỖ
TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
GV hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.S ĐẶNG THỊ THUẬN AN

TRẦN THỊ HỒNG VÂN

Huế, Khóa học 2010 – 2014
 
 
 
 

Trân trọng. Huế, ngày 01 tháng 05 năm 2014 
                                                                 Sinh viên thực hiện 
 
                                                              Trần Thị Hồng Vân 
 
 
 
 

 


 

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng  với  xu  thế  hội  nhập  quốc  tế  và  toàn  cầu  hóa,  GD  và  ĐT  
của  Việt  Nam  đã  được  ưu  tiên  ở  vị  trí  hàng  đầu  trong  hệ  thống  các  chính  
sách  phát  triển  quốc  gia,  đặc  biệt  đối  với  ngành  Sư  phạm.  Thực  tiễn  của  nền  
GD  nước  ta  hiện  nay  đã  và  đang  đặt  "lên  vai"  ngành  Sư  phạm  những  
nhiệm  vụ  cao  quý,  những  trọng  trách  nặng  nề.  Hệ  thống  các  trường  Sư  phạm  
và  các  trường  có  ngành  Sư  phạm  là  nơi  ĐT  ra  những  thế  hệ  người  giáo  
viên,  những  người  sẽ  quyết  định  chất  lượng  GD  và  ĐT  trong  tương  lai.  
Vì  thế,  để  đảm  bảo  cho  sự  phát  triển  bền  vững  của  đất  nước,  đáp  ứng  yêu  cầu  
phát  triển  của  thời  đại,  mỗi  sinh  viên  sư  phạm  phải  được  rèn  luyện  trong  
một  quy  trình  GD  hiệu  quả,  hợp  lý,  trong  đó  đặc  biệt  chú  trọng  khâu  giúp  
sinh viên phát triển năng lực nghề nghiệp. 
Tuy  nhiên,  thực  tế  cho  thấy  ở  các  trường  Cao  đẳng,  Đại  học  nói  chung  
không  ít sinh viên còn chưa xác định rõ mục tiêu, lý tưởng, động cơ nghề nghiệp của 


CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Quan điểm về năng lực, năng lực nghề nghiệp
1.1. Năng lực
"Năng  lực"  (competency)-  là  một  trong  những  thành  tố  quan  trọng  trong  cấu 
trúc nhân cách. Có tác giả cho rằng: “Người có năng lực (NL) là người đạt hiệu suất 
và  chất  lượng  hoạt  động  cao  trong  các  hoàn  cảnh  khác  nhau”.  Theo  tác  giả  Phạm 
Minh Hạc, NL nói lên “người đó có thể làm gì, làm đến mức nào, làm với chất lượng 
ra sao. Thông thường người ta còn gọi là khả năng hay "tài"”. 
Dưới góc độ GD học, chúng ta có thể xem xét NL là kết quả của quá trình GD, 
rèn luyện của cá nhân, thể hiện ở những kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp để cá 
nhân có thể tham gia hiệu quả vào một lĩnh vực hoạt động nhất định. Như vậy, ở góc 
độ  này,  người  có  NL  ở  lĩnh  vực  nào  thì  nhất  định  phải  có  tri  thức  kĩ  năng  kĩ  xảo 
trong lĩnh vực ấy, có thái độ tích cực để vận dụng tri thức kĩ năng hiệu quả vào các 
hoạt  động.  Tuy  nhiên  có  tri  thức,  kĩ  năng  chưa  thể  khẳng  định  cá  nhân  có  NL  hay 
không, bởi tri thức kĩ năng ấy chưa chắc đã được hiện thực hóa trong hoạt động. Vậy 
NL  dưới  góc độ GD  học được thể  hiện ở  kết quả hoạt động của cá nhân,  khả  năng 
vận dụng tri thức, kĩ năng để tham gia có hiệu quả trong một lĩnh vực hoạt động nhất 
định. 
NL có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn bởi “sự phát triển NL của mọi thành 
viên  trong  xã  hội  sẽ  đảm  bảo  cho  mọi  người  tự  do  lựa  chọn  một  nghề  nghiệp  phù 
hợp với khả năng cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả hơn,... và cảm 
thấy hạnh phúc khi lao động”. [1]
Trong luận án này tôi cũng đồng ý với quan niệm: “Năng lực là khả năng thực
hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề
thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau
trên cơ sở kết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm”.[2]
 
Hiện nay, việc phát triển năng lực thông qua dạy học được hiểu đồng nghĩa với 
phát triển năng lực hành động. Năng lực hành động bao gồm: 

các trường Đại học và Cao đẳng
Ở  Việt  Nam,  các  công  trình  nghiên  cứu  về  năng  lực  nghề  nghiệp  chưa  được 
nhiều  tác  giả  quan  tâm  nghiên  cứu.  Các  công  trình  nghiên  cứu  về  vấn  đề  này  còn 
chưa có hệ thống. 
  Hội thảo khoa học: “Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học, nghề nghiệp cho
sinh viên ngành Hóa học Trường Đại học Hùng Vương” [22]. Hội thảo đã nhận được 
16 báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà khoa học và các giảng 
viên trực tiếp giảng dạy tại Trường THPT và Đại học, Viện nghiên cứu. Các báo cáo 
khoa học chủ yếu tập trung vào nội dung: 
1.  Thực  trạng  và  giải  pháp  nâng  cao  chất  lượng  nghiên  cứu  khoa  học  và  giảng 
dạy sinh học, hóa học ở các trường đại học hiện nay. 
2.  Thành  tựu  phát  triển  của  ngành  hóa  học  các  hợp  chất  thiên  nhiên  và  định 
hướng nghề nghiệp cho sinh  viên hóa học có nguyện  vọng học tập  và nghiên cứu tại 
Viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam. 
3.  Phương  pháp  học  tập,  nghiên  cứu  để  trở  thành  những  GV  giỏi  ở  các  trường 
THPT chuyên và không chuyên. 
Khái quát các kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra kết luận: 
- Những kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn, giúp cho thế hệ 

trẻ và những người lao động nói chung đáp ứng những yêu cầu của hoạt động nghề 
nghiệp, tạo ra hiệu quả tốt nhất trong lĩnh vực này. Tuy nhiên việc ứng dụng những 
kết quả nghiên cứu để giúp SV phát triển NLNN trong các trường chuyên nghiệp nói 
chung và các trường SP nói riêng còn nhiều hạn chế. 
- Trong  lĩnh  vực  ĐT  GV,  làm  thế  nào  để  giúp  SV  sư  phạm  phát  triển  NLNN 

vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ. Điều này một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của 
việc triển khai vấn đề nghiên cứu của luận văn.  
  Nội  dung  của  cuộc  hội  thảo  khoa  học:  "Phát triển năng lực nghề nghiệp của
sinh viên sư phạm hóa học" của trường Đại học sư phạm Hà Nội [4] vào ngày ngày 21 
tháng 12 năm 2012 nói rõ:  

Đã  tiến  hành  nghiên  cứu,  điều  tra  phân  tích  một  số  vấn  đề  thực  tiễn  có  liên 
quan đến việc phát triển năng lực độc lập sáng tạo của SV ĐH kĩ thuật thông qua dạy 
học Hóa học hữu cơ.  
 
Đã tiến hành  nghiên cứu nội dung  chương trình Hóa học  hữu cơ ở trường  ĐH 
kĩ  thuật  ngành  Hóa  và  ngành  Y  Dược  để  thấy  những  điểm  tương  đồng  và  sự  khác 
biệt  giữa  chúng  cũng  như  khác  nhau  về  mức  độ  lý  thuyết  và  thực  tiễn  so  với  nội 
dung Hóa học hữu cơ ở trường phổ thông. 
 
Đã điều tra thực trạng việc sử dụng PPDH tích cực trong DH Hóa học hữu cơ ở 
trường ĐH ngành kĩ thuật. 
 

Đã phân tích đặc điểm tâm sinh lý, năng lực học Hóa học của SV ĐH kĩ thuật. 

3. Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, đã đề xuất mới về phát triển năng lực độc lập 
sáng tạo cho SV ĐH kĩ thuật cụ thể là:  
+ Đã xác định một số biểu hiện năng lực độc lập sáng tạo của SV ĐH kĩ thuật.  
+  Đề  xuất  thiết  kế  bộ  công  cụ  đánh  giá  năng  lực  độc  lập  sáng  tạo  cho  SV  Kĩ 
thuật gồm: bảng kiểm tra quan sát, phiếu hỏi, phiếu đánh giá sản phẩm, đề kiểm tra 


Hóa Hữu cơ. 
+ Đề xuất 4 định hướng, 5 nguyên tắc phát triển năng lực độc lập sáng tạo cho 
SV ĐH kĩ thuật. 
2. Cơ sở khoa học của việc phát triển năng lực nghề nghiệp [6]
2.1. Cơ sở triết học
 
Khi xem xét cơ sở triết học của việc phát triển NLNN, cần đề cập đến hai nguyên 
lý của phép biện chứng duy vật là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự 

SV sư phạm rất say mê, yêu thích nghề Sư phạm, đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự 
phát triển NLNN Sư phạm của SV đó diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn.  
Do  vậy,  việc  phát  triển  NLNN xét  về  mặt  tâm lý  cũng chính là quá trình hình 
thành những đặc điểm tâm lý, nhân cách cơ bản phù hợp và đáp ứng những yêu cầu 
luôn luôn thay đổi của nghề.  
2.4. Cơ sở xã hội học
Về mặt xã hội học, sự phát triển NLNN là quá trình mỗi cá nhân tiếp nhận được 
các giá trị của xã hội, lĩnh hội các giá trị và chuẩn mực xã hội, điều tiết các mối quan 


hệ xã hội, xác định  vị trí  của mình trong những môi trường, hoàn cảnh xã hội nhất 
định.  Xét cho  cùng,  chính là  việc  cá  nhân  tham  gia  vào  quá  trình  xã  hội hóa. Như 
vậy, ở góc độ này, phát triển NLNN chính là việc cá nhân tạo ra những hành vi, ứng 
xử đáp ứng mọi yêu cầu của môi trường và hoạt động nghề nghiệp. Hành vi, ứng xử 
đó rất linh hoạt và mới mẻ, thậm chí có khả năng thay đổi môi trường đặc điểm của 
nghề, tạo ra giá trị mới cho xã hội, khẳng định vị thế xã hội của cá nhân. 
2.5. Cơ sở lý luận GD hướng nghiệp
Việc quan tâm tới quá trình phát triển NLNN của SV không thể tách rời cơ sở 
lý  luận  GD, bởi NLNN  là  một  nội dung  của  GD  hướng nghiệp,  GD  nghề trong  các 
nhà trường. GD hướng  nghiệp là  một  hệ thống  các tác  động GD nhằm  định  hướng, 
hình thành và phát triển các phẩm chất và NLNN cho người lao động. Quá trình này 
mang tính liên tục,  lâu  dài, có tính linh  hoạt, bao  gồm các  giai  đoạn có  mối  lien  hệ 
chặc  chẽ  với  nhau,  đó  là  các  giai  đoạn:  Giới  thiệu  và  tuyên  truyền  nghề;  Tư  vấn 
nghề; Tuyển chọn nghề; Năng lực nghề nghiệp; Thích ứng nghề. 
Như vậy, thích ứng nghề là giai đoạn cuối cùng của công tác hướng nghiệp và 
cũng là giai đoạn phức tạp nhất, đòi hỏi sự nỗ lực của cá nhân nhiều nhất. Mỗi nghề 
đòi hỏi con người phải có khả năng thích ứng ở những mức độ xác định. 
3. Phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên ngành hóa học [8]
3.1. Đặc điểm hoạt động rèn luyện nghề nghiệp của sinh viên ngành sư phạm
hóa học

nghiệp. Những động cơ tích cực cần phải xây dựng ở SV đó là các động cơ học tập 
đúng  đắn,  học  “vì  ngày  mai  lập  nghiệp”,  vì  “sự  nghiệp  xây  dựng  đất  nước  giàu 
mạnh,  vì  một  xã  hội  công  bằng,  dân  chủ,  văn  minh”,  động  cơ  thành  đạt,  động  cơ 
nghề nghiệp,... cần xây dựng thái độ học tập tích cực, có ý thức tự giác, chủ động, có 
tinh  thần  cầu  thị,  khiêm  tốn,  học  hỏi  và  sự  nỗ  lực  ý  chí  trên  con  đường  rèn  luyện 
nghề nghiệp của mình. 
3.2. Các nội dung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên ngành sư phạm
hóa học
ĐT các môn khoa học cơ bản (Hóa học lý thuyết và Hóa lý, Hóa học Vô cơ, Hóa 
học Hữu cơ, Hóa học Phân tích, Hóa học công nghệ và môi trường) theo định hướng 
phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm hóa học. 
ĐT các môn khoa học GD (Tâm lý học sư phạm, GD học, Lý luận dạy học hóa 
học) theo định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm hóa học. 
Sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong 
ĐT GV hóa học. 
Phối  hợp  với  trường  phổ  thông  trong  việc  phát  triển  năng  lực nghề  nghiệp  của 
sinh viên sư phạm hóa học. 
Nghiên cứu bài học và ứng dụng trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp của 
sinh viên sư phạm hóa học.  
Từ đó SV có thể:  
+ Lập kế hoạch dạy học và GD dưới sự hỗ trợ giúp đỡ của giảng viên, chuẩn bị 
giáo án hay  kế hoạch hoạt động GD, tùy theo mục đích đặt ra.  SV có những tài liệu 
tham khảo, trao đổi với bạn bè và chuẩn bị giáo án cho chính mình. 
+ Chuẩn bị những điều kiện để dạy học hay tổ chức họat động GD như: chuẩn bị 
và  làm  đồ  dùng  dạy  học,  tập  sử  dụng  đồ  dùng  dạy  học,  các  tài  liệu  ấn  phẩm,  tranh/ 
ảnh, các vật liệu, sa bàn, luyện cách sử dụng dụng cụ thí nghiệm và phối kết hợp với 
việc trình bày diễn giải hay ra câu hỏi thảo luận, luyện cách viết bảng, tập sử dụng các 
thiết bị nghe nhìn hiện đại... 
+ Tập giảng  và rèn luyện các kĩ năng cụ thể như: kĩ năng trình bày bảng  và lời 
nói; kĩ năng trìnhh bày bằng lời nói; kĩ năng biểu đạt; kĩ năng ra câu hỏi; kĩ năng kết 

phù hợp với sự biến đổi và yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp. 
3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư
phạm hóa học
Trong  quá  trình  học  tập  rèn  luyện  ở  trường  SP,  SV  chịu  ảnh  hưởng  tác  động 
của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, khách quan và chủ quan. 
 Các yếu tố khách quan
Ảnh hưởng của các giảng viên:  Thầy cô  giáo là  người trực tiếp tiến  hành  quá 
trình giảng dạy, giúp SV học tập và rèn luyện các phẩm chất và NL nghề nghiệp. Họ 
cũng chính là những người hơn ai hết hiểu được những khó khăn của SV, ưu nhược 
điểm của SV, giúp SV làm quen, thích nghi với hoàn cảnh sống mới ở trường chuyên 
nghiệp. Chính vì vậy, thầy cô giáo chính là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng 
GD SV cũng như NLNN của SV. 
Nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, GD ở
trường SP:  đây  là  những  yếu  tố  ảnh  hưởng  trực  tiếp  đến  chất  lượng  ĐT  nghề  ở 
trường  SP  nói  chung  và  khả  năng  phát  triển  NLNN  của  SV  sư  phạm  hóa  học  nói 
riêng. Việc thực hiện nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, GD hợp 
lý,  phù  hợp  với  trình  độ  nhận  thức,  kích  thích  hứng  thú  học  tập,  củng  cố  lòng  yêu 
nghề, tạo điều kiện cơ hội cho SVthể hiện sự sáng tạo trong rèn luyện nghề sẽ giúp 
SV dễ dàng thích nghi với các điều kiện học tập từ đó phát triển NLNN. 
Môn Rèn luyện NVSP thường xuyên:  Trong  trường  SP,  các  môn  học  đều  có  ý 
nghĩa nhất định trong rèn luyện nghề nghiệp của SV sư phạm, nhưng môn Rèn luyện 
NVSP thường xuyên là  môn học có  ý  nghĩa  đặc biệt  trong  việc  phát triển  năng lực 
thích  ứng  nghề  cho  SV.  Rèn  luyện  NVSP  thường  xuyên  cung  cấp  cho  SV  một  hệ 
thống những kiến thức và kĩ năng, những yêu cầu về phẩm chất NL người thầy giáo, 
những kiến thức nhất định về văn hoá sư phạm và nghề sư phạm, những lĩnh vực rèn 


luyện cần phải thực hiện đối với SV sư phạm. Đây được coi là môn nghiệp vụ không 
thể thiếu và có tính chất đặc thù đối với SV sư phạm. Do vậy, hiệu quả của môn học 
này có ý nghĩa rất lớn đối với sự thích ứng nghề của SV sư phạm. 

dễ thích ứng hơn đối với quá trình học tập và rèn luyện nghề. 
 Các yếu tố chủ quan
Các yếu tố sinh học, thể chất: Qua  nghiên cứu cho thấy,  những yếu tố  về  mặt 
sinh học, tư chất cũng  ảnh hưởng  nhất định đến  khả  năng phát triển  NLNN của  SV 
sư phạm. Ví dụ, nếu SV có đặc điểm cấu tạo thanh quản tốt thuận lợi cho việc phát 
âm chuẩn, âm vực tốt, giọng nói trầm ấm dễ nghe ... cũng là một yếu tố thuận lợi cho 
SV trong việc tập giảng, dễ làm quen, dễ thích ứng với việc sử dụng ngôn ngữ trong 
giảng dạy và GD. 
Ý thức của bản thân về giá trị nghề dạy học: Để hình thành và phát triển NLNN 
dạy học,  SV  cần ý thức sâu  sắc  về  giá  trị của nghề.  Điều  này  thể  hiện  ở nhận  thức 
sâu sắc của SV về giá trị nghề dạy học, những phẩm chất và NL của người thầy giáo, 
có tình cảm với nghề, yêu nghề, có niềm tin với nghề, nỗ lực cố gắng, sẵn sàng thay 


đổi  hành  vi  ứng  xử,  thay  đổi  bản  thân  để  đáp  ứng  yêu  cầu  của  nghề.  Tất  cả  những 
yếu tố này chính là nội lực cơ bản để SV thích ứng và phát triển NLNN. 
Động cơ, lý tưởng, hứng thú nghề nghiệp: Việc xác định động cơ nghề nghiệp 
đúng  đắn,  có  lý  tưởng  về  nghề,  có  hứng  thú  với  nghề  cũng  là  những  yếu  tố  quan 
trọng ảnh hưởng đến sự phát triển NLNN của SV sư phạm. Nếu SV sư phạm có động 
cơ  tích  cực  trong  học  tập,  rèn  luyện  nghề  nghiệp  (ví  dụ  động  cơ  mong  muốn  trở 
thành GV giỏi để phục vụ cho xã hội, động cơ thành đạt,...) thì sẽ là yếu tố thuận lợi 
cho sự phát triển NLNN của SV.  
Tri thức kĩ năng kĩ xảo đã có ở SV: Khi vào trường SP, mỗi SV sư phạm đã có 
những  trình  độ  nhất  định  về  tri  thức  kĩ  năng  kĩ  xảo,  điều  đó  sẽ  ảnh  hưởng  đến  quá 
trình học tập và khả năng phát triển NLNN của SV, tạo thuận lợi cho quá trình học 
tập và rèn luyện nghề của SV. 
Tính tích cực tự giác, sáng tạo trong học tập và ý chí rèn luyện nghề: NLNN 
đòi hỏi ở SV khả năng tự giác, tính tích cực sáng tạo cao trong học tập, ý chí nỗ lực 
vươn lên  khắc  phục  khó  khăn, cải  tạo hoàn cảnh,  cải tạo  bản thân đáp  ứng  yêu cầu 
của hoạt động rèn luyện nghề nghiệp. Càng tích cực sáng tạo, NLNN của SV sẽ càng 

học”. 
Theo từ điển tiếng Việt  “bài tập”  và  “bài toán” được giải nghĩa  khác hẳn nhau: 
bài tập là bài ra cho HS làm để tập vận dụng những điều đã học; bài toán là vấn đề cần 
giải quyết bằng phương pháp khoa học. 
Trong một số tài liệu về lí luận dạy học thuật ngữ “bài toán hóa học” được dùng 
để chỉ những bài tập định lượng (có tính toán) trong đó HS phải thực hiện những phép 
toán nhất định. Theo đó, “bài toán hóa học” được định nghĩa “là hệ thông tin xác định, 
bao gồm những điều kiện và những yêu cầu luôn luôn không phù hợp (mâu thuẩn) với 
nhau,  dẫn  tới  nhu  cầu  phải  khắc  phục  bằng  cách  biến  đổi  chúng”;  các  tài  liệu  trên 
không đưa ra định nghĩa về bài tập hóa học. 
Theo Zueva M. V, “bài tập là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu 
hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng HS nắm được 
một tri thức hay kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng”. 
Với cách dùng tên sách “ bài tập hóa học 10”, “ bài tập hóa học 11”…như hiện 
nay thì thuật ngữ “bài tập” cũng được xem tương đồng với quan niệm trên. 
Theo tôi thuật ngữ “bài tập hóa học” chung hơn khái niệm “bài toán hóa học” và 
bao hàm cả khái niệm bài toán hóa học. Và có thể coi bài tập hóa học là một vấn đề


học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hóa 
học, trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học.  
4.2. Vị trí, phân loại và ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy và học
4.2.1. Vị trí của bài tập hóa học trong dạy và học
Trong thực tế dạy học hiện nay, nhiều GV chưa nắm được vị trí của bài tập hóa 
học  trong  quá  trình  dạy  học.  Họ  thường  sử  dụng  BT  vào  đầu  giờ  để  kiểm  tra  bài  cũ 
hoặc  cuối  giờ  học,  cuối  chương,  cuối  học  kì  để  ôn  tập  và  kiểm  tra  kiến  thức.  Quan 
niệm đó chưa thật đúng, làm giảm tác dụng của BT khi dạy học. 
GV có thể sử dụng BT ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào khi thấy nó có thể giúp 
mình thỏa mãn nhiệm vụ dạy học và mục đích dạy học. Ngược lại, GV hoàn toàn có 
thể không sử dụng BT khi điều đó không cần thiết cho công việc giảng dạy của mình. 

f. Dựa vào khối lượng kiến thức
- Bài tập đơn giản (cơ bản). 
- Bài tập phức tạp (tổng hợp). 
g. Dựa vào cách thức kiểm tra
- Bài tập trắc nghiệm. 
- Bài tập tự luận. 
h. Dựa vào phương pháp giải bài tập
- Bài tập tính theo công thức và phương trình. 
- Bài tập biện luận. 
- Bài tập dùng các giá trị trung bình. 
- Bài tập dùng đồ thị… 
i. Dựa vào mục đích sử dụng
- Bài tập dùng để kiểm tra đầu giờ. 
- Bài tập dùng để củng cố kiến thức. 
- Bài tập dùng để ôn luyện, tổng kết. 
- Bài tập để bồi dưỡng HS giỏi. 
- Bài tập để phụ đạo HS yếu… 
k. Dựa theo các bước của quá trình dạy học
- Bài tập mở bài, tạo tình huống dạy học. 
- Bài tập vận dụng khi giảng bài mới. 
- Bài tập củng cố, hệ thống hóa kiến thức. 
- Bài tập về nhà. 
- Bài tập kiểm tra. 
Ngoài ra, có thể dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức có thể chia thành: 
- Bài tập tái hiện: Bài tập yêu cầu HS nhớ lại, tái hiện kiến thức, kĩ năng đã học. 
- Bài tập sáng tạo: Bài tập yêu cầu HS phải áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã 
học để giải quyết vấn đề trong tình huống mới, phải vận dụng phối hợp các kiến thức 
để giải quyết vấn đề. Ở mức độ cao hơn, bài tập sáng tạo đòi hỏi HS giải quyết vấn đề 
theo một hướng mới, một kĩ thuật mới, một phương pháp mới. 
Trong thực tế dạy  học, có hai cách phân loại  bài tập có ý nghĩa hơn cả là  phân 

đoán suy luận để tìm ra lời giải. Nhờ vậy tư duy của HS được phát triển và năng lực 
làm việc độc lập của HS được nâng cao. Một số bài tập ngoài cách giải thông thường 
còn có cách giải độc đáo, thông minh, rất ngắn gọn mà lại chính xác. Đưa ra một bài 
tập  có  nhiều  cách  giải,  yêu  cầu  HS  giải  bằng  nhiều  cách,  tìm  những  cách  giải  ngắn 
nhất, hay nhất là một cách rèn luyện trí thông minh cho các em.  
f) GD tư tưởng, đạo đức như rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thực, sáng tạo, chính 
xác, khoa học. 
4.2.4. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học
Thực tế cho thấy có nhiều bài tập hóa học còn quá nặng nề về thuật toán, nghèo 
nàn về kiến thức hóa học và không có liên hệ với thực tế hoặc mô tả không đúng với 
các  quy  trình  hóa  học.  Khi  giải  các  bài  tập  này  thường  mất  thời  gian  tính  toán  toán 
học,  kiến  thức  hóa  học  lĩnh  hội  được  không  nhiều  và  hạn  chế  khả  năng  sáng  tạo, 
nghiên cứu khoa học hóa học của HS. Các dạng bài tập này dễ tạo lối mòn trong suy 
nghĩ hoặc nhiều khi lại quá phức tạp, rối rắm với HS làm cho các em thiếu tự tin vào 
khả năng của bản thân dẫn đến chán học, học kém. 
Định hướng xây dựng chương trình sách giáo khoa THPT của Bộ GD và ĐT năm 
2002 có chú trọng đến tính thực tiễn và đặc thù của môn học trong lựa chọn kiến thức 
nội dung sách giáo khoa. Quan điểm thực tiễn và đặc thù của hóa học cần được hiểu ở 
các góc độ sau đây: 


  Nội dung kiến thức hóa học phải gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hội cộng 
đồng. 
  Nội  dung  kiến  thức phải  gắn  liền  với  thực  hành,  thí  nghiệm  hóa  học  và  tăng 
cường thí nghiệm hóa học trong nội dung học tập.  
  Bài tập hóa học phải đa dạng, phải có nội  dung hóa học thiết thực trên cơ sở 
của  định  hướng  xây  dựng  chương  trình  hóa  học  Phổ  thông  thì  xu  hướng  phát  triển 
chung của bài tập hóa học trong các giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu: 
+ Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà cần 
chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóa học và 

học, những người GV tương lai cần phải:  
- Nắm vững kiến thức chuyên môn, thường xuyên nghiên cứu, trao dồi kiến thức, 
học tập không ngừng để tiếp cận với nền văn minh và những đổi mới trong bộ môn.  


- Có lòng yêu trẻ, yêu nghề, tận tình chỉ dạy HS, có như vậy thì GV mới có thể 
làm tốt công việc của mình với tâm trạng thoải mái và có hiệu quả.  
- Nắm rõ tình hình HS trong lớp để có phương pháp dạy  phù hợp với từng đối 
tượng.  
-  Trong  quá  trình  dạy  học,  người  GV  phải  biết  nêu  các  vấn  đề  xung  quanh  bài 
học, đề ra công việc cho HS có tính chất nghiên cứu để làm tăng tính tò mò, kích thích 
niềm hăng say học tập bộ môn.  
- GV phải biết khéo léo kết hợp giữa lời giảng và thí nghiệm để HS dễ tiếp thu 
bài học. GV có thể sử dụng thí nghiệm để gợi mở một vấn đề trong giờ học bài mới hoặc 
dùng nó để chứng minh bài học  
- GV vận dụng sáng tạo việc sử dụng hình vẽ, tranh ảnh, mô hình để  cụ thể hóa 
những khái niệm trừu tượng hay đơn giản hóa những máy móc phức tạp, giúp HS dễ 
tiếp thu và nắm vững nội dung kiến thức.  
- Khi sử dụng phương pháp thuyết trình để truyền đạt kiến thức, GV  phải chú ý 
bảo  đảm  tính  khoa  học,  GD  và  tính  thiết  thực  của  bài  giảng,  phải  chặt  chẽ  về  mặt 
logic, phải đảm bảo cho HS ghi chép được và biết cách ghi chép. 
- Đối với việc ra bài tập: GV phải biết chọn lọc, ra những bài tập điển hình, có đủ 
loại và có tính mục đích rõ ràng, có bài tập chung cho cả lớp cũng có bài tập riêng cho 
những HS khá, giỏi Ra bài tập phải có kiểm tra, nhận xét,  khuyến khích, động viên.  
- Thường xuyên ra bài tập với mức độ thích hợp để HS bắt buộc phải tự giác học 
tập, có kiểm tra, đánh giá.  
- GV chú trọng xây dựng bài tập thực nghiệm giúp HS cảm thấy Hóa học trở nên 
gần gũi với cuộc sống, làm đa dạng hóa kiến thức của HS. Từ đó làm tăng hứng thú học 
tập bộ môn.  
-  Trong  các  buổi  thực  hành,  GV  cần  phải  GD  cho  HS  tinh  thần  nghiêm  túc, tự 

Sử dụng để củng cố, khắc sâu các khái niệm, tính chất, giúp phát triển được các 
kĩ năng cho SV. 
 + GV nêu bài tập. 
         + SV giải bài tập. 
         + SV vận dụng và khắc sâu kiến thức đã học. 
Sử dụng bài tập giúp SV vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề liên quan đến 
thực tiễn, giúp phát triển được năng lực giải quyết vấn đề và năng lực 
độc lập sáng tạo cho SV. 
+ GV nêu bài tập như là một vấn đề có liên quan đến thực tiễn. 
+ SV giải bài tập bằng cách vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học. 




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status