PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM THÔNG QUA VIỆC GẮN KẾT TRI THỨC KHOA HỌC VỚI KIẾN THỨC HÓA HỌC PHỔ THÔNG PHẦN HIĐROCACBON LỚP 11 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - Pdf 24


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
………
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH
VIÊN SƯ PHẠM THÔNG QUA VIỆC GẮN KẾT TRI
THỨC KHOA HỌC VỚI KIẾN THỨC HÓA HỌC PHỔ
THÔNG PHẦN HIĐROCACBON LỚP 11 VỚI SỰ HỖ
TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
GV hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S ĐẶNG THỊ THUẬN AN TRẦN THỊ HỒNG VÂN
Huế, Khóa học 2010 – 2014
Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, em đã nhận được sự hướng
dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em HS và các bạn. Với lòng
kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Cô giáo - Thạc sĩ Đặng Thị Thuận An, người đã động viên, dành nhiều thời
gian tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tận tình cho em trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Xin cám ơn thầy giáo – Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng, cô giáo – Thạc sĩ Đặng Thị
Thuận An, thầy giáo Phan Thế Bình đã tận tình hướng dẫn, dạy bảo chúng em trong
suốt 4 năm học đại học về phương pháp dạy hóa học mang lại hiệu quả cao nhất,
hướng dẫn chúng em cách thức xây dựng một luận văn hoàn chỉnh và nhiều PPDH,
rèn luyện nghiệp vụ sư phạm khác.
Xin cám ơn cô giáo Nguyễn Thị Kim Phương và Phan Nguyên Nhật Phương –
GV giảng dạy môn hóa học và các em HS lớp 11B8, 11A2 ở trường THPT Gia Hội,
Huế đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ em thực nghiệm sư phạm

hầu hết các
em chưa được trang bị những tri thức cần thiết để hình thành và phát triển
năng lực nghề nghiệp. Vì thế các bạn sinh viên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình
học tập và
rèn luyện, nhiều bạn còn băn khoăn hoang mang với sự lựa chọn nghề của
mình. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hứng thú, kết quả học tập và rèn
luyện nghề nghiệp của các bạn.
Xuất phát từ mục tiêu chiến lược của nền GD hiện đại, từ thực tiễn
GD và vai trò đặc biệt quan trọng của năng lực nghề nghiệp, em chọn đề tài
nghiên cứu luận văn: "“Phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm
thông qua việc gắn kết tri thức khoa học với kiến thức hóa học phổ thông phần
hiđrocacbon – chương trình hóa học lớp 11 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng
lực nghề nghiệp cho sinh viên Hóa học, trên cơ sở đó đề xây dựng các bài tập phát
triển năng lực nghề nghiệp cho họ nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD và ĐT sinh
viên ngành Hóa học ở các trường Đại học và Cao đẳng.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Nghiên cứu lý luận: Năng lực nghề nghiệp, những vấn đề tổng quan, tác
dụng nâng cao năng lực nghề nghiệp cho sinh viên.
3.2. Đề xuất các bước, một số biện pháp phát triển năng lực nghề nghiệp cho
sinh viên thông qua phần bài tập hóa học ở chương trình đại học.
3.3. Xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát huy năng lực nghề nghiệp cho sinh
viên thông qua phần bài tập hóa học ở chương trình đại học.
3.4. Thực nghiệm sư phạm bước đầu nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả
của biện pháp và những đề xuất của đề tài.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng hệ thống bài tập tốt có chất lượng sẽ giúp sinh viên phát triển các
năng lực tư duy như: tư duy khoa học, tư duy logic, tư duy sáng tạo ; có phương
pháp tự học tốt. Từ đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng GD và ĐT sinh viên ngành

và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khác nhau”. Theo tác giả Phạm
Minh Hạc, NL nói lên “người đó có thể làm gì, làm đến mức nào, làm với chất lượng
ra sao. Thông thường người ta còn gọi là khả năng hay "tài"”.
Dưới góc độ GD học, chúng ta có thể xem xét NL là kết quả của quá trình GD,
rèn luyện của cá nhân, thể hiện ở những kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp để cá
nhân có thể tham gia hiệu quả vào một lĩnh vực hoạt động nhất định. Như vậy, ở góc
độ này, người có NL ở lĩnh vực nào thì nhất định phải có tri thức kĩ năng kĩ xảo
trong lĩnh vực ấy, có thái độ tích cực để vận dụng tri thức kĩ năng hiệu quả vào các
hoạt động. Tuy nhiên có tri thức, kĩ năng chưa thể khẳng định cá nhân có NL hay
không, bởi tri thức kĩ năng ấy chưa chắc đã được hiện thực hóa trong hoạt động. Vậy
NL dưới góc độ GD học được thể hiện ở kết quả hoạt động của cá nhân, khả năng
vận dụng tri thức, kĩ năng để tham gia có hiệu quả trong một lĩnh vực hoạt động nhất
định.
NL có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn bởi “sự phát triển NL của mọi thành
viên trong xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề nghiệp phù
hợp với khả năng cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả hơn, và cảm
thấy hạnh phúc khi lao động”. [1]
Trong luận án này tôi cũng đồng ý với quan niệm: “Năng lực là khả năng thực
hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề
thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau
trên cơ sở kết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm”.[2]
Hiện nay, việc phát triển năng lực thông qua dạy học được hiểu đồng nghĩa với
phát triển năng lực hành động. Năng lực hành động bao gồm:
Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn
cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp và đảm bảo chính xác về
mặt chuyên môn (bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp và trừu
tượng; khả năng nhận biết các mối quan hệ thống nhất trong quá trình).
Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch,
định hướng mục đích trong công việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề đặt ra. Trọng
tâm của năng lực PP là những PP nhận thức, xử lý, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu.

dạy sinh học, hóa học ở các trường đại học hiện nay.
2. Thành tựu phát triển của ngành hóa học các hợp chất thiên nhiên và định
hướng nghề nghiệp cho sinh viên hóa học có nguyện vọng học tập và nghiên cứu tại
Viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam.
3. Phương pháp học tập, nghiên cứu để trở thành những GV giỏi ở các trường
THPT chuyên và không chuyên.
Khái quát các kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra kết luận:
- Những kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn, giúp cho thế hệ
trẻ và những người lao động nói chung đáp ứng những yêu cầu của hoạt động nghề
nghiệp, tạo ra hiệu quả tốt nhất trong lĩnh vực này. Tuy nhiên việc ứng dụng những
kết quả nghiên cứu để giúp SV phát triển NLNN trong các trường chuyên nghiệp nói
chung và các trường SP nói riêng còn nhiều hạn chế.
- Trong lĩnh vực ĐT GV, làm thế nào để giúp SV sư phạm phát triển NLNN
vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ. Điều này một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của
việc triển khai vấn đề nghiên cứu của luận văn.
 Nội dung của cuộc hội thảo khoa học: "Phát triển năng lực nghề nghiệp của
sinh viên sư phạm hóa học" của trường Đại học sư phạm Hà Nội [4] vào ngày ngày 21
tháng 12 năm 2012 nói rõ:
1. ĐT các môn khoa học cơ bản (Hóa học lý thuyết và Hóa lý, Hóa học Vô cơ,
Hóa học Hữu cơ, Hóa học Phân tích, Hóa học công nghệ và môi trường) theo định
hướng phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm hóa học.
2. ĐT các môn khoa học GD (Tâm lý học sư phạm, GD học, Lý luận dạy học
hóa học) theo định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm hóa
học.
3. Sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong ĐT GV hóa học.
4. Phối hợp với trường phổ thông trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp
của sinh viên sư phạm hóa học.
5. Nghiên cứu bài học và ứng dụng trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp
của sinh viên sư phạm hóa học.

+ Đề xuất 4 định hướng, 5 nguyên tắc phát triển năng lực độc lập sáng tạo cho
SV ĐH kĩ thuật.
2. Cơ sở khoa học của việc phát triển năng lực nghề nghiệp [6]
2.1. Cơ sở triết học
Khi xem xét cơ sở triết học của việc phát triển NLNN, cần đề cập đến hai nguyên
lý của phép biện chứng duy vật là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự
phát triển.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cho phép chúng ta xem xét đánh giá NLNN của
cá nhân trên nhiều góc độ, nhiều khía cạnh, từ yếu tố chủ quan đến khách quan, yếu tố
bên trong cá nhân và ngoài cá nhân, phân tích được những mối liên hệ giữa chúng. Điều
này giúp ta có cách nhìn bao quát, toàn bộ đối tượng nghiên cứu và đưa ra những giải
pháp hợp lí để nâng cao NLNN cho họ.
Nguyên lý về sự phát triển: cho ta thấy thực chất NLNN là quá trình cá nhân hình
thành và phát triển những kĩ năng và NL để giải quyết một loạt những mâu thuẫn trong
hoạt động nghề nghiệp, từ đó thúc đẩy sự phát triển các phẩm chất nghề nghiệp, đáp ứng
những yêu cầu của nghề.
2.2. Cơ sở sinh học
Trong các tác phẩm, các công trình nghiên cứu về sinh vật học làm cơ sở sinh học
cho việc hình thành và phát triển NLNN, đặc biệt lưu ý các lý thuyết sinh học của
Darwin, cơ thể con người để tồn tại và phát triển luôn phải điều chỉnh mình cho thích
nghi, thích ứng với những thay đổi của môi trường sống. Xét về mặt sinh học, với học
thuyết phản xạ có điều kiện của Palov, phát triển NLNN chính là việc hình thành một
loạt các phản xạ có điều kiện, giúp cho cá nhân thay đổi cách ứng xử, hành vi, điều
chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện hoàn cảnh luôn luôn
thay đổi của hoạt động nghề nghiệp.
2.3. Cơ sở tâm lý học
Quá trình phát triển NLNN phải dựa trên những cơ sở tâm lý nhất định,
những đặc điểm tâm lý cá nhân và đặc điểm tâm lý lứa tuổi, các chức năng
tâm lý và cấu tạo tâm lý hay nói một cách ngắn gọn phải dựa trên những đặc
điểm về ý thức nghề của cá nhân, bao gồm các đặc điểm về nhận thức, tình

3. Phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên ngành hóa học [8]
3.1. Đặc điểm hoạt động rèn luyện nghề nghiệp của sinh viên ngành sư phạm
hóa học
Trong nhà trường sư phạm, "nghề" đang được ĐT là một "mô hình" của nghề
dạy học. Nó chưa phải là môi trường GD đang diễn ra ở các cơ sở nhà trường. Tuy
nhiên, việc tham gia rèn luyện tích cực trong nhà trường "mô hình" đó lại có ý nghĩa
quyết định đối với SV, trang bị cho họ những kiến thức, kĩ năng cơ bản để có thể
tham gia "hành nghề" trong môi trường thực sự sau này. Nếu đáp ứng tốt, các SV sẽ
dễ dàng thích nghi hiệu quả với môi trường nghề nghiệp thực tế sau khi tốt nghiệp.
"Mô hình" ĐT nghề ở trường sư phạm quy định đến đặc điểm riêng trong hoạt động
rèn luyện nghề của SV sư phạm nói chung và sư phạm hóa học nói riêng.
Mục đích hoạt động rèn luyện nghề của SV sư phạm: có kiến thức chuyên môn
và kĩ năng thực hành cơ bản về nghề dạy học, có khả năng giải quyết những vấn đề
thông thường thuộc chuyên ngành sư phạm,
Nội dung rèn luyện nghề của SV sư phạm: trau dồi tri thức chuyên môn, văn
hóa sư phạm, hiểu biết xã hội, rèn luyện các phẩm chất nhân cách người GV, rèn
luyện năng lực, kĩ năng sư phạm,
Phương pháp rèn luyện nghề của SV sư phạm: chú trọng phương pháp tự học,
tự GD, tham gia tích cực vào các hoạt động rèn NVSP thường xuyên và các hoạt
động thực tế ở trường phổ thông,
Môi trường rèn luyện nghề của SV sư phạm là môi trường đạo đức đặc biệt với
những yêu cầu cao của xã hội.
Các hình thức tham gia hoạt động rèn luyện nghề của SV sư phạm hóa nói
riêng rất phong phú và đa dạng, gắn liền với các hoạt động học tập và GD SV ở
trường sư phạm như rèn luyện các kĩ năng sư phạm trên lớp, ở nhà, theo nhóm, tổ,
các hình thức tổ chức câu lạc bộ hóa học, seminar, thành lập các diễn đàn, trang web
về hóa học, tổ chức hội thi NVSP hàng năm.
Trong quá trình học tập và rèn luyện nghề ở trường sư phạm, động cơ có ý
nghĩa rất quan trọng đối với kết quả hoạt động của SV. Những động cơ này sẽ là
những động lực thôi thúc SV tham gia tích cực vào các hoạt động rèn luyện nghề,

nói; kĩ năng trìnhh bày bằng lời nói; kĩ năng biểu đạt; kĩ năng ra câu hỏi; kĩ năng kết
hợp giảng dạy với sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học, kĩ năng tổ chức thảo luận nhóm…
+ Thực hành giảng dạy, đóng vai trước khi đi xuống thực tập tốt nghiệp tại
trường phổ thông. Việc thực hành giảng dạy kết hợp ghi hình để sinh viên có thể
nghiên cứu, xem lại băng hình, trao đổi rút kinh nghiệm sau thực hành. Việc ghi hình
giúp cho sinh viên và giảng viên có cơ hội xem lại, phân tích sâu sắc những thành
công và bài học rút kinh nghiệm – là điều kiện để sinh viên tập luyện trước khi thực
tập tốt nghiệp tại trường phổ thông.
3.3. Các mức độ phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm hóa học
Căn cứ vào những mức độ biểu hiện các tiêu chí đánh giá trong nội dung phát
triển NLNN của SV sư phạm có 4 mức độ phát triển NL này như sau:
Ở mức độ thấp: Ở mức độ này, những biểu hiện trong các tiêu chí đánh giá nội
dung phát triển NLNN của SV không được thể hiện rõ rệt, không thường xuyên, chỉ
đôi khi được thể hiện trong những tình huống nhất định. SV chưa tích cực trong học
tập rèn luyện nghề nghiệp, sự thiếu linh hoạt và thụ động trong các hoàn cảnh thích
ứng.
Ở mức độ trung bình : SV có những biểu hiện của việc phát triển NLNN ở mức
độ trung bình, nhưng chưa tích cực, chưa hiệu quả, có thể thích nghi và làm quen với
môi trường học tập và rèn luyện nghề nghiệp song kết quả chỉ ở mức bình thường,
chưa có sự nhanh nhạy, sự thay đổi kịp thời để đáp ứng những yêu cầu của hoạt
động.
Ở mức độ cao: Những biểu hiện ở mức độ này cho thấy SV có khả năng thích
ứng với các hoạt động học tập và rèn luyện nghề nghiệp một cách khá dễ dàng, có
phản xạ nhanh với những biến đổi và yêu cầu của cuộc sống và hoạt động rèn luyện
nghề nghiệp, đạt kết quả tốt trong các lĩnh vực hoạt động ở trường Sư phạm.
Ở mức độ rất cao: Đây là mức độ cao nhất của phát triển NLNN của SV, thể
hiện sự linh hoạt sáng tạo, tính tích cực rất cao của SV trong các hoạt động học tập
và rèn luyện nghề nghiệp. Ở mức độ này SV không những có khả năng thích nghi
làm quen mà còn có khả năng thay đổi, sáng tạo cải tạo hoàn cảnh và bản thân cho
phù hợp với sự biến đổi và yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp.

động thực tập sư phạm, thực hành, thực tế. SV được sáng tỏ lý thuyết, có cơ hội so
sánh và áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, sự linh hoạt trong tư duy khi vận dụng những
điều đã học trên giảng đường vào thực tế phổ thông phong phú đa dạng. Điều này giúp
cho quá trình phát triển NLNN của SV trở nên dễ dàng hơn.
Các phương tiện thông tin đại chúng (sách báo, truyền hình, phim ảnh ). Tuy
không phải là yếu tố cơ bản, song các phương tiện thông tin đại chúng cũng ảnh
hưởng nhất định tới khả năng phát triển NLNN của SV sư phạm. Những thông tin
khác nhau, những tấm gương tốt hay các phản ánh tiêu cực về các thầy cô giáo,
những quan điểm, chính sách đối với ngành sư phạm,. được phản ánh trên các
phương tiện thông tin đại chúng ít nhiều cũng ảnh hưởng đến hứng thú nghề nghiệp,
niềm tin, lý tưởng nghề nghiệp và từ đó ảnh hưởng đến mức độ tích cực trong quá
trình rèn luyện nghề, làm quen và phát triển NLNN của SV sư phạm.
Môi trường và điều kiện học tập: SV được học tập rèn luyện trong một môi
trường cụ thể, với những điều kiện cơ sở vật chất cụ thể như giảng đường, trang thiết
bị học tập, thư viện, ký túc xá, sân chơi, Nếu các điều kiện này đầy đủ, đảm bảo
thuận lợi cho hoạt động học tập và rèn luyện của SV thì sẽ góp phần tạo điều kiện
cho sự phát triển NLNN của SV diễn ra dễ dàng hơn.
Sự giúp đỡ của bạn bè, người thân: Trong quá trình học tập và rèn luyện nghề
nghiệp, SV sẽ gặp không ít những khó khăn. Khó khăn đó có thể là về học tập, về tài
chính, về tâm lý hay giao tiếp Những khó khăn này không phải lúc nào SV cũng có
thể tự giải quyết được và không phải lúc nào việc giải quyết đó của SV cũng đúng,
do vậy, sự hỗ trợ từ phía bạn bè, người thân cũng có ý nghĩa rất lớn và là nguồn động
viên hỗ trợ SV vượt qua khó khăn, thích ứng với cuộc sống và hoạt động rèn luyện
nghề nghiệp.
Truyền thống gia đình: Nếu trong gia đình SV sư phạm có bố, mẹ, anh, chị,.
làm nghề dạy học thì cũng có sự ảnh hưởng của họ đối với quá trình rèn luyện nghề
của SV, trong đó sự truyền đạt kinh nghiệm gia đình cũng là yếu tố giúp SV tự tin,
dễ thích ứng hơn đối với quá trình học tập và rèn luyện nghề.
• Các yếu tố chủ quan
Các yếu tố sinh học, thể chất: Qua nghiên cứu cho thấy, những yếu tố về mặt

Với một chương trình ĐT hợp lý, linh hoạt, luôn có sự điều chỉnh cho phù hợp
với thực tiễn và yêu cầu xã hội, thể hiện qua nội dung, chương trình ĐT các môn học
(việc sắp xếp các môn chung, môn cơ sở, môn chuyên ngành, ), việc phân bổ các
phần thực hành, các chương trình rèn NVSP thường xuyên và TTSP, các hoạt động
hỗ trợ trong rèn luyện nghề cho SV sẽ là những yếu tố cơ bản giúp SV nhanh
chóng thích nghi và đạt hiệu quả tốt trong quá trình học tập và rèn luyện nghề
nghiệp, đặt cơ sở nền móng cho việc rèn luyện các phẩm chất và NL nghề nghiệp
của SV, giúp các bạn SV tự tin và tích cực trong việc lĩnh hội các tri thức và NLNN.
• Phát triển NLNN thông qua hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường
xuyên
NVSP là nội dung học đặc trưng của ngành sư phạm, là một trong những tiêu
chí quyết định hiệu quả và chất lượng ĐT ở trường sư phạm. Quyết định về "Chương
trình rèn luyện NVSP thường xuyên” do Bộ GD ban hành năm 1985 được xem là
hành lang pháp lý để thiết lập một mô hình ĐT NVSP có hệ thống. Trong quá trình
phát triển, hoạt động này ở các trường sư phạm cũng luôn có sự thay đổi để đáp ứng
những yêu cầu mới của nhiệm vụ ĐT GV. Việc tổ chức cho SV tham gia hiệu quả
vào các hoạt động rèn luyện NVSP thường xuyên (tập giảng, thi NVSP, học môn
Rèn luyện NVSP thường xuyên, tham gia thực tập sư phạm, ) có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với việc rèn luyện các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp của SV, từ
đó tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển NLNN của SV sư phạm.
• Phát triển NLNN thông qua các hoạt động xã hội
Ngoài nhiệm vụ học tập, việc tổ chức cho SV tích cực tham gia vào các hoạt
động xã hội như phong trào tình nguyện, hiến máu nhân đạo, quyên góp giúp đỡ
những người có hoàn cảnh khó khăn, ủng hộ các bạn SV nghèo vượt khó, phòng
chống thuốc lá đều có ý nghĩa nhất định góp phần rèn luyện các phẩm chất và
NL nghề nghiệp cho SV. Giúp các bạn SV có điều kiện hiểu biết về đời sống xã
hội rộng lớn, xác định ý thức trách nhiệm của mình đối với xã hội, làm quen với
việc thiết kế, tổ chức các hoạt động xã hội đó là những yêu cầu quan trọng để
các bạn SV vững vàng khi bước vào hoạt động nghề nghiệp sau này - với tư cách
là người GV tham gia vào các hoạt động xã hội và tổ chức các hoạt động xã hội

hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng HS nắm được
một tri thức hay kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng”.
Với cách dùng tên sách “ bài tập hóa học 10”, “ bài tập hóa học 11”…như hiện
nay thì thuật ngữ “bài tập” cũng được xem tương đồng với quan niệm trên.
Theo tôi thuật ngữ “bài tập hóa học” chung hơn khái niệm “bài toán hóa học” và
bao hàm cả khái niệm bài toán hóa học. Và có thể coi bài tập hóa học là một vấn đề
học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hóa
học, trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học.
4.2. Vị trí, phân loại và ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy và học
4.2.1. Vị trí của bài tập hóa học trong dạy và học
Trong thực tế dạy học hiện nay, nhiều GV chưa nắm được vị trí của bài tập hóa
học trong quá trình dạy học. Họ thường sử dụng BT vào đầu giờ để kiểm tra bài cũ
hoặc cuối giờ học, cuối chương, cuối học kì để ôn tập và kiểm tra kiến thức. Quan
niệm đó chưa thật đúng, làm giảm tác dụng của BT khi dạy học.
GV có thể sử dụng BT ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào khi thấy nó có thể giúp
mình thỏa mãn nhiệm vụ dạy học và mục đích dạy học. Ngược lại, GV hoàn toàn có
thể không sử dụng BT khi điều đó không cần thiết cho công việc giảng dạy của mình.
BTHH không phải là nội dung nhưng nó chứa đựng nội dung dạy học. BT phải
phù hợp với nội dung dạy học, với năng lực nhận thức của HS và phải phục vụ được ý
đồ của GV. Khi ra một bài tập phải xác định đúng vị trí của nó để BT trở thành một bộ
phận hữu cơ của hệ thống kiến thức cần truyền thụ.
4.2.2. Phân loại bài tập hóa học
Hiện nay, có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau. Vì vậy, cần có cách nhìn
tổng quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại.
a. Dựa vào nội dung toán học của bài tập
- Bài tập định tính (không có tính toán).
- Bài tập định lượng (có tính toán).
b. Dựa vào nội dung của bài tập hóa học
- Bài tập định lượng.
- Bài tập lý thuyết.

- Bài tập để bồi dưỡng HS giỏi.
- Bài tập để phụ đạo HS yếu…
k. Dựa theo các bước của quá trình dạy học
- Bài tập mở bài, tạo tình huống dạy học.
- Bài tập vận dụng khi giảng bài mới.
- Bài tập củng cố, hệ thống hóa kiến thức.
- Bài tập về nhà.
- Bài tập kiểm tra.
Ngoài ra, có thể dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức có thể chia thành:
- Bài tập tái hiện: Bài tập yêu cầu HS nhớ lại, tái hiện kiến thức, kĩ năng đã học.
- Bài tập sáng tạo: Bài tập yêu cầu HS phải áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã
học để giải quyết vấn đề trong tình huống mới, phải vận dụng phối hợp các kiến thức
để giải quyết vấn đề. Ở mức độ cao hơn, bài tập sáng tạo đòi hỏi HS giải quyết vấn đề
theo một hướng mới, một kĩ thuật mới, một phương pháp mới.
Trong thực tế dạy học, có hai cách phân loại bài tập có ý nghĩa hơn cả là phân
loại theo nội dung và theo dạng bài.
4.2.3. Ý nghĩa của bài tập hóa học
Bài tập hóa học là phương tiện cơ bản để dạy HS tập vận dụng các kiến thức hóa
học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học. Kiến thức HS tiếp thu
được chỉ có ích khi được sử dụng nó. Phương pháp luyện tập thông qua việc sử dụng
BTHH là một trong các phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chấtlượng học tập
bộ môn. Đối với HS, giải bài tập là một phương pháp học tập tích cực. BTHH có tác
dụng:
a) Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng được các kiến thức đã học, biến những
kiến thức tiếp thu được qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của chính mình.
Khi vận dụng được một kiến thức nào đó, kiến thức đó sẽ được nhớ lâu.
b) BTHH là một trong những nguồn để hình thành kiến thức, kĩ năng mới cho
HS, đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn.
Chỉ có vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập, HS mới nắm vững kiến thức một cách
sâu sắc. Ví dụ, sau khi học về tính chất của nhôm, các hợp chất của nhôm, các em sẽ

nội dung sách giáo khoa. Quan điểm thực tiễn và đặc thù của hóa học cần được hiểu ở
các góc độ sau đây:
• Nội dung kiến thức hóa học phải gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hội cộng
đồng.
• Nội dung kiến thức phải gắn liền với thực hành, thí nghiệm hóa học và tăng
cường thí nghiệm hóa học trong nội dung học tập.
• Bài tập hóa học phải đa dạng, phải có nội dung hóa học thiết thực trên cơ sở
của định hướng xây dựng chương trình hóa học Phổ thông thì xu hướng phát triển
chung của bài tập hóa học trong các giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu:
+ Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà cần
chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóa học và
hành động cho HS. Kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoa học.
+ Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng
của hóa học thực tiễn. Thông qua các dạng bài tập này làm cho HS thấy được việc học
hóa thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi thiết thực với cuộc sống.
Ta cần khai thác các nội dung về vai trò hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội môi
trường và các hiện tượng tự nhiên, để xây dựng các bài tập hóa học làm cho bài tập
hóa học thêm đa dạng kích thích được sự đam mê, hứng thú học tập bộ môn.
+ Bài tập hóa học định lượng được xây dựng trên qua điểm không phức tạp hóa
bởi các thuật toán mà chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng
nhiều trong tính toán hóa học.
+ Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển hóa một số dạng bài tập
tự luận, tính toán định lượng sang dạng trắc nghiệm khách quan.
Như vậy xu hướng phát triển của BTHH hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng
vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho HS ở các mặt: lí thuyết,
thực hành và ứng dụng. Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí
thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi.
4.3. Phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua dạy và học bài tập hóa học
4.3.1. Đặc điểm sinh viên khoa Hóa học
SV khoa Hóa học trường Đại học sư phạm Huế đều có kiến thức kỹ năng hóa học

- Đối với việc ra bài tập: GV phải biết chọn lọc, ra những bài tập điển hình, có đủ
loại và có tính mục đích rõ ràng, có bài tập chung cho cả lớp cũng có bài tập riêng cho
những HS khá, giỏi… Ra bài tập phải có kiểm tra, nhận xét, khuyến khích, động viên.
- Thường xuyên ra bài tập với mức độ thích hợp để HS bắt buộc phải tự giác học
tập, có kiểm tra, đánh giá.
- GV chú trọng xây dựng bài tập thực nghiệm giúp HS cảm thấy Hóa học trở nên
gần gũi với cuộc sống, làm đa dạng hóa kiến thức của HS. Từ đó làm tăng hứng thú học
tập bộ môn.
- Trong các buổi thực hành, GV cần phải GD cho HS tinh thần nghiêm túc, tự
giác làm việc và làm việc có khoa học. Trước hết GV phải là một hình mẫu, GV phải
thực hiện đúng các thao tác và đảm bảo cho thí nghiệm thành công và an toàn. Qua
đây GD cho HS những thao tác, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình làm và biểu diễn thí
nghiệm.
GV thường xuyên kiểm tra dưới nhiều hình thức (kiểm tra miệng, kiểm tra 15
phút, kiểm tra 1 tiết, làm toán nhanh…) để ôn tập, củng cố kiến thức và đôn đốc việc học
của HS. Việc kiểm tra đúng mức sẽ giúp GV phát hiện những khó khăn, sai sót trong
quá trình làm bài của HS, từ đó có kế hoạch điều chỉnh, uốn nắn kịp thời. Việc kiểm tra,
đánh giá còn giúp tích lũy thêm kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân GV.
- Trong giờ học GV nên đưa vào những bài tập đố vui, các trò chơi. GV kết hợp
với tổ chuyên môn tổ chức bồi dưỡng HS giỏi, tổ chức các câu lạc bộ, các buổi chuyên
đề, dã ngoại để giảm bớt căng thẳng và làm tăng hứng thú học tập cho HS.
Một người GV dạy giỏi là người biết truyền đạt những gì cho HS và truyền đạt
như thế nào. Hiệu quả công tác dạy học của GV sẽ được phản ánh rõ rệt qua kết quả
học tập của HS.
Sử dụng bài tập như một bài toán nhận thức giúpHS hình thành khái niệm, tính
chất nhằm phát triển năng lực nhận thức của HS.
+ GV nêu vấn đề cần nhận thức.
+ GV nêu bài tập.
+ HS giải bài tập và rút ra vấn đề cần nhận thức.
Bài tập hóa học giúp rèn luyện cho SV các kiến thức đã học, đào sâu và mở rộng

thức khoa học với kiến thức hóa học phổ thông phần hiđrocacbon lớp 11 với sự hỗ trợ
của công nghệ thông tin.
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO
SINH VIÊN NGÀNH HÓA HỌC
2.1. Một số biện pháp phát triển năng lực nghề nghiệp
2.2. Đổi mới PPDH môn Hóa học
Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong nghị quyết Trung ương Đảng
lần thứ 4 khoá VII (1/1993), nghị quyết Trung ương Đảng lần 2 khoá VIII (12/1996),
được thể chế hoá trong luật GD (12/1998) và được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ
GD và ĐT, đặc biệt chỉ thị số 15 (4/1999). Luật GD, điều 24.2 đã ghi: “Phương pháp
GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho HS”. Thế nhưng, cho đến nay sự đổi mới PPDH trong nhà
trường phổ thông theo định hướng này chưa được là bao, phổ biến vẫn là cách dạy
thông báo kiến thức sách vở định sẵn và cách học thụ động. Tuy rằng trong nhà trường
hiện nay đã xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt của GV dạy giỏi theo hướng tổ chức
cho HS hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, nhưng tình trạng chung vẫn hàng
ngày diễn ra là “ thầy đọc – trò chép” hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện, biễu
diễn trực quan minh hoạ.
Từ thực tế của ngành GD, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát
triển đất nước, chúng ta đang tiến hành đổi mới PPDH chú trọng đến việc phát huy
tính tích cực chủ động của HS, coi HS là chủ thể của quá trình dạy học. Đây là nguyên
tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học. Nguyên tắc này đã
được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được xác định là một trong
những phương hướng cải cách GD phổ thông Việt Nam.
Trong khuôn khổ luận văn này, tôi xin trình bày một số quan điểm, tiếp cận mới
hiện đang được thử nghiệm và áp dụng ở nước ta dùng làm cơ sở cho việc đổi mới
PPDH môn Hóa học – và lấy một số ví dụ cụ thể trong các bài dạy về hiđrocacbon -

- Đồng phân cấu tạo có những loại nào?
- Đề yêu cầu viết đồng phân anken, ta
loại bỏ được loại đồng phân nào?
- Anken có 5C có thể có dạng mạch
nào?
- Để viết mạch C có nhánh từ mạch
không nhánh ta viết như thế nào?
- Anken trong CTCT có đặc điểm gì?
- Viết đồng phân về vị trí liên kết đôi
như thế nào?
- Đồng phân về mạch cacbon; về vị trí
nhóm chức; về loại nhóm chức.
- Đồng phân về loại nhóm chức.
- Mạch hở không nhánh, mạch hở có
nhánh.
- Cắt bớt C ở mạch thẳng làm nhánh,
nhánh không được gắn ở đầu mạch ;
thay đổi vị trí nhánh nếu được.
- Có liên kết đôi

có đồng phân về
vị trí liên kết đôi.
- Đặt liên kết đôi đầu mạch, thay đổi vị
trí liên kết đôi với mỗi dạng mạch.
Bước 3 : GV hướng dẫn HS rút ra các bước thực hiện theo các bước sau:
+ Viết các dạng mạch C.
+ Đặt vị trí liên kết đôi (nhóm chức) đầu mạch.
+ Dời liên kết đôi dần vào trong mạch, chú ý vị trí đối xứng.
+ Thêm H vào cho đủ hóa trị.
Bước 4 : HS thực hiện việc giải.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status