Tiểu luận Nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự, thực trạng và kiến nghị - pdf 13

Download miễn phí Tiểu luận Nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự, thực trạng và kiến nghị



MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
NỘI DUNG 2
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2
1. Khái niệm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự. 2
2. Cơ sở của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự. 2
II. NỘI DUNG NGUYÊN TẮC QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 3
1. Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc đưa ra yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự 3
2. Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. 5
3. Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và kháng cáo bản án, quyết định của toà án 6
4. Một số quyền khác thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 7
5. Trách nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 8
III. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 8
1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 8
2. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
 
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39265/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

N SỰ.
1. Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc đưa ra yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự
Theo quy định tại Điều 5 BLTTDS năm 2004 ĐS có quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự. Theo Điều 60 BLTTDS bị đơn có quyền định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố. Và theo Điều 61 BLTTDS người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu đối với nguyên đơn, bị đơn.
1.1. Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự
Thứ nhất, về QTĐĐCĐS trong việc khởi kiện vụ án DS. Tại Điều 161 BLTTDS quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hay thông qua người thay mặt hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Và theo Điều 162 BLTTDS quy định cụ thể về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Với các quy định đó, Nhà nước chính thức ghi nhận quyền khởi kiện vụ án DS của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của các chủ thể khác như cơ quan dân số, gia đình và trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ, công đoàn… trong việc khởi kiện yêu cầu TA bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng, khi họ cho rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm. Việc ghi nhận quyền khởi kiện vụ án dân sự, trước hết cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm hại hay có tranh chấp yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thực hiện quyền khởi kiện chính là một trong những biểu hiện của nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS. Theo đó, ĐS được quyền tự định đoạt trong việc khởi kiện vụ án dân sự, nộp đơn yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác.
Thứ hai, về quyền tự định đoạt trong việc yêu cầu giải quyết việc dân sự. Trong các việc dân sự, không có tranh chấp trực tiếp giữa các bên. Thông thường trong các việc DS một bên công nhận hay bác bỏ một quyền lợi hay thực hiện một trách nhiệm DS nào đó nên không xuất hiện khái niệm bị đơn và nguyên đơn DS mà được thay thế bằng thuật ngữ người yêu cầu và người bị yêu cầu. Người yêu cầu trong việc DS là người tham gia tố tụng đưa ra yêu cầu về giải quyết việc dân sự. Việc tham gia tố tụng của người yêu cầu việc DS cũng chủ động như nguyên đơn trong vụ án DS. Người yêu cầu trong vụ việc DS có lợi ích pháp lý độc lập nên được đưa ra yêu cầu cho TA giải quyết như nguyên đơn trong VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên yêu cầu của họ chỉ giới hạn trong phạm vi yêu cầu TA công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của họ hay công nhận quyền, nghĩa vụ của họ. Quyền yêu cầu giải quyết việc DS là một trong những quyền cơ bản của ĐS trong TTDS. Việc BLTTDS ghi nhận quyền này của ĐS đã góp phần thể hiện việc thực thi nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS thực tế. Từ các phân tích trên cho thấy quyền khởi kiện vụ án DS và quyền yêu cầu giải quyết việc DS là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS, không có hành vi khởi kiện, hành vi yêu cầu giải quyết vụ việc DS thì cũng không có quá trình TTDS cho các giai đoạn tiếp theo. Quy định này xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với việc bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp trong xã hội, thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với cá nhân con người. Tuy nhiên, để việc thực hiện trách nhiệm của xã hội không làm xâm phạm đến những vấn đề riêng tư mang tính chất cá nhân, chỉ một số những vụ án nhất định thì pháp luật mới quy định những người không phải là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm hay người thay mặt hợp pháp của các chủ thể này mới có quyền khởi kiện. Đây là cách đặc trưng trong việc thực hiện quyền tự định đoạt trong TTDS được thể hiện bằng việc ĐS có thể hành động ngay tức khắc để tự bảo vệ các quyền DS của mình tránh nguy cơ xâm phạm xảy ra như khởi kiện đòi lại tài sản hay khởi kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật…
1.2. Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn.
Về quyền yêu cầu phản tố, nếu như nguyên đơn có quyền quyết định việc khởi kiện và nội dung khởi kiện thì bị đơn cũng có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Trong TTDS, phản tố được hiểu là việc bị đơn khởi kiện ngược lại nguyên đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn, nhưng có liên quan đến quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã khởi kiện. BLTTDS năm 2004 đã dành một số điều luật quy định cụ thể về quyền phản tố của bị đơn trong TTDS, cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 60 BLTTDS quy định bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hay đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Ngoài ra BLTTDS cũng quy định cho bị đơn có quyền bác bỏ yêu cầu theo luật nội dung và bác bỏ yêu cầu về mặt tố tụng. Sự bác bỏ yêu cầu theo luật nội dung là sự giải thích và lập luận của bị đơn về tính không có căn cứ của yêu cầu khởi kiện về mặt pháp lý cũng như về mặt thực tế. Sự bác bỏ yêu cầu về mặt tố tụng là sự lý giải và chứng minh của bị đơn về tính không hợp pháp của việc giải quyết vụ án hay là về sự vi phạm thủ tục tố tụng trong việc thụ lý và giải quyết vụ án. Với việc quy định quyền phản tố, quyền bác bỏ của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn là thể hiện sự ghi nhận của pháp luật đối với QTĐĐCĐS.
1.3 Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trong TTDS, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng vào vụ án DS đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên cũng có quyền đưa ra yêu cầu của mình hay bác bỏ yêu cầu của người khác. Việc tham gia tố tụng của họ trong vụ án DS là do họ có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADS. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm hai loại là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quant ham gia tố tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn. Theo quy định tại Điều 177 BLTTDS thì trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hay với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây: Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ liên của họ; y
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status