NGHIÊN cứu sử DỤNG BÀI tập THEO HƯỚNG bồi DƯỠNG NĂNG lực tự HỌC CHO HỌC SINH PHẦN NHIỆT HỌC vật LÍ 8 THCS - Pdf 38

hướng dẫn đọc toàn văn báo cáo KQNC

!
!

Bạn muốn đọc nhanh
những thông tin cần thiết ?
Hy đọc qua Mục lục bên tay trái bạn trước khi
đọc báo cáo ( với Acrobat 4.0 trở lên, cho trỏ chuột vào
mỗi đề mục để đọc toàn bộ dòng bị che khuất )

! Chọn đề mục muốn đọc và nháy chuột vào đó
!
!

Bạn muốn phóng to hay thu nhỏ
trang báo cáo trên màn hình ?
Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích th
thưước
có sẵn trên thanh Menu

, hoặc

! Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to
! Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích th
thưước
muốn,, Nhấn OK
hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn

Chúc bạn hài lòng
với những thông tin đđưược cung cấp

giáo ThS. Phạm Thị Thanh Hương đã tận tình giúp đỡ em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Cảm ơn gia đình và các bạn trong lớp Cao đẳng Sư
phạm Vật lí – KTCN – K53 đã động viên, khích lệ, tạo
điều kiện trong suốt quá trình thực hiện và hoàn
thành khóa luận này.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên khóa
luận này không tránh khỏ i nhữ ng thiế u sót. Em rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và
các bạn sinh viên.
Quảng Bình,
tháng 5 năm 2014

ii


Sinh viên: Nguyễn
Thị Hoài Thu

iii


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu........................................................................................................ 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................................... 3
5. Giả thuyết khoa học ...................................................................................................... 3
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 3

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC PHẦN NHIỆT HỌC VẬT LÍ 8 .................................................. 19
1. Các Nguyên tắc của việc tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập Vật lí và bài tập Vật lí
theo định hướng tự học ................................................................................................... 19
1.1. Nguyên tắc của việc tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập Vật lí ........................... 19
1.2. Nguyên tắc tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập vật lí theo hướng bồi dưỡng năng
lực tự học cho học sinh Trung học cơ sở. ........................................................................ 22
2. Hệ thống bài tập theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học phần “Nhiệt học” Vật lí 8 THCS ...... 22
2.1. Chủ đề 1: Cấu tạo chất ............................................................................................ 22
2.2. Chủ đề 2: Nhiệt năng – Cách thay đổi nhiệt năng ..................................................... 23
2.3. Chủ đề 3: Nhiệt lượng và phương trình cân bằng nhiệt............................................. 24
2.4. Chủ đề 4: Năng suất tỏa nhiệt của nhiên liệu - Bảo toàn năng lượng trong các hiện
tượng cơ nhiệt- Động cơ nhiệt ........................................................................................ 26
3. Tiến trình bài dạy có sử dụng bài tập theo định hướng tự học ..................................... 27
Bài 19: CÁC CHẤT ĐƯỢC CẤU TẠO NHƯ THẾ NÀO ? ........................................... 27
Bài 24: CÔNG THỨC TÍNH NHIỆT LƯỢNG ............................................................... 35
4. Kết luận chương II ...................................................................................................... 41
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................... 44
PHỤ LỤC 1 ....................................................................................................................P1
PHỤ LỤC 2 ..................................................................................................................P14

2


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ của khoa học, công nghệ bùng nổ. Đây
là bước tiến quan trọng của xã hội loài người, yêu cầu cần có những con người lao động
biết học tập và cập nhật tri thức thường xuyên. Điều này đặt ra cho giáo dục của các quốc

giáo viên có thể hình thành cho các em các kĩ năng, năng lực tự học. Đồng thời Vật lí là
môn học có một hệ thống bài tập đa dạng và phong phú. Vật lí 8 chia làm hai phần: phần
cơ học và phần nhiệt học. Nhiệt học là một trong bốn phần kiến thức Vật lí cơ bản được
trang bị cho học sinh THCS. Lượng kiến thức của phần này không nhiều so với các phần
khác, bài tập phần này cũng không quá khó song vì các em ít được tiếp xúc với bài tập
định lượng nên việc định hướng giải bài tập Nhiệt còn khó khăn với các em.Vì thế, giáo
viên có thể thông qua bài tập để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh. Chính vì vậy
chúng tôi đã chọn đề tài “ Nghiên cứu sử dụng bài tập theo hướng bồi dưỡng năng lực tự
học cho học sinh phần nhiệt học Vật lí 8 THCS” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học của học sinh, sinh
viên nhưng rất ít công trình nghiên cứu về cách sử dụng bài tập Vật lí theo hướng bồi
dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Vật lí ở trường trung học cơ sở.
Từ việc tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
của đề tài, chúng tôi nhận thấy:
- Các tác giả như Nguyễn Kỳ, Lưu Xuân Mới, Trần Bá Hoành, Nguyễn Quang Lạc,
Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên, Lê Công Triêm, Lê Đình, Trần Huy Hoàng, Võ
Chấp… đã xây dựng được một cơ sở lí luận khá hoàn chỉnh về tự học, đã coi tự học là
một hình thức, một phương pháp học tập cơ bản và cốt lõi đối với người học. Đặc biệt,
trong các nghiên cứu của mình các tác giả rất chú trọng đến việc bồi dưỡng năng lực tự
học cho học sinh, sinh viên bằng nhiều biện pháp khác nhau.
- Các bài viết chuyên đề đăng trên các tạp chí Giáo dục và Thời đại, Giáo viên và
Nhà trường, Nghiên cứu Giáo dục, Khoa học Giáo dục,… các bài tham luận, bài phát biểu
trong các hội nghị, hội thảo khoa học cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề tự học của học
sinh, sinh viên, đặc biệt là việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu để tạo điều kiện
phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện các kĩ năng vận dụng thực tiễn cho người học.

2





7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
Trong đề tài đã nghiên cứu lí thuyết về cơ sở lí luận vấn đề tự học và bài tập Vật lí
trong quá trình dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh. Đồng thời đề tài
còn ngiên cứu lí thuyết để tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập vật lí thuộc phần “Nhiệt
học” theo hướng sử dụng bài tập để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh lớp 8 THCS.
7.2 Phương pháp điều tra.
Trong quá trình làm đề tài em sử dụng phương pháp điều tra để điều tra thực trạng về
vấn đề sử dụng bài tập theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh ở trường THCS.
8. Cấu trúc
Đề tài bao gồm ba phần: Mở đầu, nội dung, kết luận
Phần mở đầu
Phần nội dung
- Chương I: Cơ sở lí luận và thực trạng của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học
sinh trong dạy học Vật lí .
- Chương II: Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học
phần “Nhiệt học” Vật lí 8 THCS.
Phần kết luận

4


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
1. Một số khái niệm
1.1. Khái niệm tự học
Khái niệm về tự học (Self Directed Learning) bắt đầu từ việc giáo dục người

Năng lực là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt, nhờ có phẩm chất đạo
đức và chuyên môn. Năng lực của con người hoàn toàn không phải do tự nhiên mà có, mà
phần lớn do công tác, do luyện tập mà có.[4]
1.2.2. Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào
tình huống mới[4]. Năng lực tự học của người học bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi người học phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh
sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở lí luận và hiểu
biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn
chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần khơi thông, khám phá, làm sáng rõ…
- Nhóm năng lực giải quyết vấn đề
Bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế
hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, tiếp nhận và xữ lí thông tin; đề xuất các
giải pháp, kiến nghị các kết luận. Kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức
đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho người học phương pháp tự học.
- Nhóm năng lực xác định những vấn đề đúng (kiến thức, cách thức, con đường,
giải pháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề.
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng
của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải
quyết vấn đề sẽ có được một khi người học có năng lực này. Năng lực này bao gồm khả
năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp
dụng (Nếu cần thiết).

6


- Nhóm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (nhận thức kiến thức mới).
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính trong thực tiễn cuộc
sống, hoặc vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến

nhiêu loại hình kỹ năng chuyên biệt. Hệ thống các kĩ năng tự học bao gồm:
+ Kĩ năng xây dựng kế hoạch tự học
Xây dựng kế hoạch tự học bao gồm việc lên danh mục các nội dung cần tự học,
khối lượng và yêu cầu cần đạt được, các hoạt động cần phải tiến hành, sản phẩm cụ thể
cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung và hoạt động. Kế hoạch tự học phải
đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và tính khả thi. Xây dựng được bản kế hoạch tự học
hợp lí là kĩ năng quan trọng đầu tiên đối với mỗi người học. Trong bản kế hoạch cũng cần
phải dự kiến các phương án phụ, hướng khắc phục các trở ngại đột xuất..
+ Kĩ năng lựa chọn tài liệu
Hiện nay lượng thông tin rất đa dạng và phong phú cả về thể loại và cả chủng loại
và được thể hiện dưới nhiều dạng như viết nghe - nhìn, internet... tài liệu trong nước, tài
liệu nước ngoài. Để tự học có hiệu quả, người học cần phải rèn luyện cho mình kĩ năng
lựa chọn các tài liệu thích hợp sao cho đúng, đủ, hợp lí để nâng cao chất lượng tự học, tự
nghiên cứu của bản thân mình.
Kĩ năng lựa chọn tài liệu còn được thể hiện trong việc trực tiếp dự giờ, hội thảo
khoa học, xê-mi-na, đi thực tế, lấy ý kiến chuyên gia, tiến hành thí nghiệm... Để lựa chọn
các dạng tài liệu này thì người học cần có kĩ năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa để
rút ra các thông tin cần thiết cho bản thân. Đồng thời những suy nghĩ của bản thân người
học lại chịu tác động trực tiếp của các ý kiến khách quan, đòi hỏi người học không những
có kĩ năng chọn lọc, nắm bắt nhanh nhạy thông tin mà còn biết so sánh, đối chiếu, tự đánh
giá thông tin mình lựa chọn được.
+ Kĩ năng lựa chọn hình thức tự học
Không phải lúc nào việc tự học cũng được thực hiện một cách dễ dàng, thuận lợi.
Những khó khăn, vấp phải trong tự học đòi hỏi người học cần phải có sự hộ trở của bạn
bè, thầy cô hoặc các chương trình trên tivi, máy tính... Vì thế kĩ năng lựa chọn hình thức
tự học cũng rấ cần thiết, nó giúp người học “gỡ rối” những vấn đề mà tự mình không vượt

8



9


trao đổi phổ biến những kiến thức mà mình có được là mỗi lần người học rèn luyện kĩ
năng truyền đạt và kĩ năng viết văn bản khoa học, bởi vì việc trao đổi, phổ biền thông tin
có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như trò chuyện, tuyên truền, báo
cáo, viết tin, viết báo… qua các địa chỉ như ở các xê-mi-na, hội thảo, hội nghị, sách báo,
truyền hình, phát thanh, mạng internet... Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng trao đổi và phổ
biến thông tin liên quan đến việc rèn luyện các kĩ năng trình bày thông tin khoa học.
+ Kĩ năng tự kiểm tra đánh giá
Sau khi bạn hoàn tất các công việc theo mục tiêu của mình, người học cần kiểm tra
lại kiến thức của mình. Điều này có thể được thực hiện bằng cách viết ra các điểm chính
của vấn đề, vẽ lại các sơ đồ, biểu đồ… Tự kiểm tra bản thân là rất quan trọng và bạn
không được bỏ qua bước này.
Chìa khóa để tự giáo dục là để thay đổi cách bạn suy nghĩ về học tập. Học tập hiệu
quả cần có thời gian, kế hoạch, công sức. Người học không chỉ học được các kiến thức
chuyên môn mà bạn còn có thể học được các kỹ năng cần thiết giúp người học phản ứng
tốt hơn với bất kỳ điều gì chọn để làm.[9]
2. Khái niệm, phân loại và phương pháp giải bài tập Vật lí
2.1. Khái niệm
2.1.1. Khái niệm bài tập
Theo từ điển bài tập là bài ra cho học sinh làm để luyện tập vận dụng kiến thức đã
học. Có rất nhiều dạng bài tập trong đó bài tập chứa đựng những mâu thuẫn.
2.1.2. Khái niệm bài tập Vật lí
Bài tập Vật lí là một yêu cầu đặt ra cho người học được người học giải quyết dựa
trên cơ sở các lập luận logic, nhờ các phép tính toán, các thí nghiệm, dựa trên những kiến
thức về khái niệm, định luật và các thuyết Vật lí.

10


các phép tính phức tạp mà phải sử dụng những phép suy luận lôgic trên cơ sở hiểu rõ bản
chất của các khái niệm, định luật Vật lí và nhận biết được những biểu hiện của chúng
trong các trường hợp cụ thể. Đó là những bài tập Vật lí mà khi giải học sinh không cần
tính toán hay chỉ làm những phép toán đơn giản có thể nhẩm được. Bài tập định tính có
tầm quan trọng đặc biệt vì nhiều bài tập tính toán có thể giải được phải thông qua những
bài tập định tính... Vì vậy việc luyện tập, đào sâu kiến thức và mở rộng kiến thức của học
sinh về một vấn đề nào đó cần được bắt đầu từ bài tập định tính. Đây là loại bài tập có
khả năng trau dồi kiến thức và tạo hứng thú học tập của học sinh.
Để giải quyết được bài tập định tính đòi hỏi học sinh phải phân tích được bản chất
của các hiện tượng Vật lí. Với các bài tập định tính ta có thể chia ra là hai loại: loại bài tập
định tính đơn giản và loại bài tập định tính phức tạp.
+ Loại bài tập định tính đơn giản:
Giải bài tập định tính đơn giản học sinh chỉ cần vận dụng một hai khái niệm hay
định luật đã học là có thể giải quyết được dạng bài tập này nên dùng để củng cố.
+ Dạng bài tập định tính phức tạp :

11


Đối với các bài tập dạng định tính phức tạp thì việc giải các bài tập này là giải một
chuỗi các câu hỏi định tính. Những câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải dựa vào việc vận
dụng một định luật Vật lí, một tính chất Vật lí nào đó. Khi giải các bài tập định tính phức
tạp này ta thường phân tích ra ba giai đoạn :
Giai đoạn 1: Phân tích điều kiện câu hỏi.
Giai đoạn 2: Phân tích các hiện tượng vật Vật lí mô tả trong câu hỏi, trên cơ sở đó
liên hệ với định luật Vật lí, định nghĩa, một đại lượng Vật lí hay một tính chất Vật lí liên quan.
Giai đoạn 3: Tổng hợp các điều kiện đã cho và kiến thức tương ứng để giải.
- Bài tập định lượng
Đó là dạng bài tập muốn giải đựơc phải thực hiện một loạt các phép tính .
+ Để làm tốt loại bài tập này giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề, tìm hiểu

- Bài tập có nội dung cụ thể và trừu tượng
+ Bài tập có nội dung cụ thể là bài tập trong đó dữ liệu của đầu bài là cụ thể và
người học có thể tự giải chúng dựa vào vốn kiến thức cơ bản đã có. Ưu điểm chính của
bài tập cụ thể là tính trực quan và gắn vào đời sống.
+ Bài tập có nội dung trừu tượng là những bài tập mà dữ liệu đã cho không cụ thể.
Nét nổi bật của bài tập trừu tượng là bản chất Vật lí được nêu nổi bật lên, nó được tách ra
không lẫn lộn với các chi tiết không cơ bản.
- Bài tập có nội dung theo phân môn
Trong Vật lí học người ta phân ra các chuyên nghành nhỏ để nghiên cứu và bài tập
cũng được xếp loại theo các phân môn.
- Bài tập có nội dung kỹ thuật tổng hợp
Đó là các bài tập mà số liệu dữ kiện gắn với các số liệu thực tế trong các nghành
kỹ thuật, công nghiệp, các bài tập này có tính ứng dụng thực tế.
2.2.1.2 Phân loại theo trình độ phát triển tư duy
- Bài tập nhận biết, tái hiện, tái tạo lại
Đó là những bài tập đòi hỏi người học nhận ra được, nhớ lại được những kiến thức
đã học, đã được nêu trong tài liệu. Đó là những câu hỏi về câu hỏi về khái niệm, về định
luật, về thuyết Vật lí hoặc các ứng dụng Vật lí.
- Bài tập hiểu, áp dụng
Với các bài tập này thì những đại lượng đã cho có mối quan hệ trực tiếp với đại
lượng phải tìm thông qua một công thức, một phương trình nào đó mà người học đã học.
Bài tập dạng này yêu cầu người học nhận lại, nhớ lại mối liên hệ giữa các đại lượng đã

13


cho và các đại lượng cần tìm. Tiến trình bài giải ở đây đơn giản chỉ là một phương trình một
ẩn số hoặc là giải thích một tính chất nào đó dựa vào đặc điểm, vào các tính chất Vật lí đã
học. Sử dụng giải thích một hiện tượng Vật lí, rèn luyện kĩ năng sử dụng thuật ngữ Vật lí.
- Bài tập vận dụng linh hoạt

đoạn tuân theo những định luật nào, quy tắc nào.
Bước 3: Xây dựng lập luận cho việc giải bài tập
- Trình bày có hệ thống các lập luận logic để tìm ra mối liên hệ giữa dữ kiện đã cho
và dữ kiện cần tìm của bài tập. Có thể trình bày lập luận theo hai phương pháp: phương
pháp phân tích và phương pháp tổng hợp.
+ Phân tích là bắt đầu từ dữ kiện cần tìm, thông qua các mối quan hệ trung gian, ta
xác lập các mối quan hệ dần đến dữ kiện đã cho. Cuối cùng, ta tìm được mối liên hệ trực
tiếp giữa dữ kiện cần tìm và dữ kiện đã cho. Phương pháp này giúp học sinh ở bậc trung
học cơ sở dễ tiếp cận vấn đề hơn.
+ Tổng hợp là bắt đầu từ những dữ kiện đã cho, thông qua các mối quan hệ trung
gian, ta xác lập các mối quan hệ dần đến dữ kiện cần tìm. Cuối cùng, ta tìm được mối liên
hệ trực tiếp giữa dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm.
- Nếu cần tính toán định lượng thì lập các công thức có liên quan đến đại lượng cho
biết, đại lượng cần tìm. Sau đó thực hiện các phép biến đổi toán học để đưa về một
phương trình chứa các đại lượng đã biết và ẩn số là đại lượng cần tìm.
- Đổi đơn vị các đại lượng về cùng một hệ đơn vị và thức hiện tính toán.
Bước 4: Kiểm tra và biện luận về kết quả thu được
- Kiểm tra xem các biến đổi toán học có chính xác chưa. Có thể kiểm tra bằng cách
giải khác.
- Biện luận xem kết quả thu được đã đầy đủ chưa, những kết quả được chọn có phù
hợp với thực tế hay không.
- Nếu có điều kiện, nên phân tích, tìm một cách giải khác, đi đến cùng một kết
quả đó. Kiểm tra xem còn con đường nào ngắn hơn không.
2.3. Vai trò của bài tập Vật lí trong việc bồi dưỡng năng lực tự học
Như chúng ta đã biết, môn Vật lí chiếm giữ vị trí quan trọng đối với việc phát triển
năng lực tư duy sáng tạo, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh cho học sinh. Nó là một
môn khoa học thực nghiệm có liên hệ mật thiết với các hiện tượng trong tự nhiên và được
ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống. Hệ thống bài tập Vật lí ở trường THCS hiện nay chủ

15

nhận ra được các dấu hiệu Vật lí của vấn đề, từ đó có thể tìm ra được các quy luật của

16


hiện tượng và sẽ xử lí được vấn đề. Có thể nói bài tập Vật lí là một phương tiện để nâng
cao kĩ năng xử lí thông tin đồng thời cũng là một cách để tự học hiệu quả.
- Bài tập Vật lí là phương tiện vận dụng tri thức vào thực tiễn
Bài tập Vật lí được xây dựng trên nguyên tắc tiến hành thực nghiệm, giải bài tập
Vật lí lại là một khâu quan trọng. Việc giải bài tập Vật lí giúp củng cố đào sâu, mở rộng
những kiến thức cơ bản của bài giảng, xây dựng củng cố kỹ năng kỹ xảo vận dụng lý
thuyết vào thực tiễn. Giải bài tập Vật lí cũng là một biện pháp hữu hiệu để phát triển năng
lực tư duy của học sinh. Sau khi giải bài tập Vật lí học sinh hiểu sâu sắc hơn các khái
niệm, định luật Vật lí, vận dụng chúng vào những vấn đề thực tế trong cuộc sống. Chính
vì vậy bài tập Vật lí là phương tiện thuận lợi để người học có thể liên hệ giữa lí thuyết với
thực hành. Đồng thời bài tập Vật lí còn rèn luyện kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
của kĩ năng tự học vừa giúp người học bổ sung, mở rộng tri thức cho chính bản thân, vừa
giúp người học vận dụng được kiến thức vào thực tiễn đời sống.
3. Thực trạng vấn đề sử dụng bài tập trong việc bồi dưỡng năng lực tự học ở trường
THCS hiện nay
Qua điều tra cho thấy thực trạng vấn đề sử dụng bài tập Vật lí để bồi dưỡng năng
lực tự học cho học sinh ở THCS còn nhiều hạn chế. Cụ thể như sau:
- Đa số giáo viên và học sinh đều hiểu thế nào là tự học, năng lực tự học là gì, kĩ
năng tự học là gì. Tuy nhiên giáo viên chưa chú trọng đến việc bồi dưỡng năng lực tự học
cho học sinh.
- Hầu hết giáo viên chưa tổ chức hoặc ít tổ chức các phương pháp dạy học tích cực.
Rất ít giáo viên biết cách tổ chức tự học cho học sinh ở trên lớp và ở nhà.
- Việc tổ chức dạy học trên lớp giáo viên không chủ động hướng dẫn học sinh tự
học. Đa số giáo viên chỉ truyền thụ kiến thức và yêu cầu học sinh làm các bài tập SGK khi
về nhà dạy học sinh giải bài tập là một công việc khó khăn đồng thời bồi dưỡng năng lực


CHƯƠNG II
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC PHẦN NHIỆT HỌC VẬT LÍ 8
1. Các Nguyên tắc của việc tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập Vật lí và bài tập
Vật lí theo định hướng tự học
1.1. Nguyên tắc của việc tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập Vật lí
Để hệ thống bài tập Vật lí có tác dụng nâng cao chất lượng học tập của học sinh
cần đảm bảo một số nguyên tắc chung sau:
- Hệ thống bài tập Vật lí phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học.
Trong quá trình dạy học Vật lí, bài tập Vật lí là phương tiện để tổ chức các hoạt
động của học sinh nhằm củng cố, khắc sâu, vận dụng và phát triển hệ thống tri thức lí
thuyết đã học, hình thành và rèn luyện cho các em các kĩ năng cơ bản. Đồng thời đó là
những kiến thức và kĩ năng, tư duy rất cần thiết nhằm giúp cho các em có điều kiện lựa
chọn hướng phát triển, tiếp tục học ở các bậc học cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao
động. Vì vậy, bài tập Vật lí phải bám sát mục tiêu, góp phần hoàn thiện mục tiêu môn học.
- Bài tập Vật lí phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng
Vật lí là môn học liên quan chặt chẽ đến những vấn đề của thế giới khách quan.
Trong thế giới khách quan, mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển không
ngừng, chúng không tồn tại dưới dạng độc lập mà tồn tại trong mối quan hệ gắn bó lẫn
nhau. Vì thế, khi tuyển chọn và xây dựng các bài tập Vật lí phải đảm bảo tính hệ thống:
Bài tập trước là cơ sở, là nền tảng để thực hiện bài tập sau và bài tập sau là sự cụ thể hóa,
sự phát triển và củng cố vững chắc hơn bài tập trước; mỗi bài tập tương ứng với một kĩ
năng nhất định, trong quá trình dạy học Vật lí hệ thống nhiều bài tập sẽ hình thành cho
học sinh một kĩ năng chuyên nghiệp thành thảo trong các bài tập Vật lí .
Hệ thống bài tập Vật lí phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú, phản ánh
được tính đa dạng, phức tạp của thế giới khách quan. Sự đa dạng của hệ thống bài tập Vật
lí sẽ giúp việc rèn luyện, bồi dưỡng các kĩ năng tự học một cách đầy đủ và hiệu quả đồng

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status