VÀI Ý KIẾN VỀ MƠN HỌC VÀ GIÁO TRÌNH
“NHỮNG NGUN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN”
Võ Minh Tuấn*
1. Những ưu điểm
Việc đổi mới và cấu trúc lại nội dung, chương trình của ba
mơn học “Triết học Mác – Lênin”, “Kinh tế chính trị học Mác –
Lênin” và “Chủ nghĩa xã hội khoa học” thành một mơn học “Những
ngun lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” có được một số ưu
điểm dễ nhận thấy sau đây:
- Việc tích hợp ba mơn học trước đây thành một mơn đã đáp
ứng được u cầu giảm tải thời lượng và dung lượng các mơn lý
luận chính trị, hạn chế hiện tượng trùng lặp ở một số nội dung, phần
nào cập nhật được những thay đổi mới của tình hình đất nước và thế
giới.
- Kết cấu giáo trình tương đối logic: bắt đầu từ thế giới quan,
phương pháp luận nói chung (phần thứ nhất), rồi tiếp tục tìm hiểu
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (phần thứ hai) để đi đến kết
luận về một hình thái kinh tế – xã hội mới (phần thứ ba).
*
Tiến sĩ, Khoa Lý luận chính trị, Học viện Ngân hàng.
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
567
- Do đó, góp phần làm cho cả giảng viên lẫn sinh viên có cái
Tại Việt Nam, còn có thêm hai bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh.
2
Ví dụ như triết học là gì, kinh tế chính trị học là gì, xã hội học là gì, v.v...
568
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
lập có khái niệm, đối tượng, phương pháp khơng trùng khớp với
trường hợp này.
Hầu như thiếu vắng các vấn đề có tính lịch sử: lịch sử triết
học, lịch sử kinh tế chính trị học, lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Vì thế, người học chỉ được cung cấp một bức tranh phiến diện,
khơng hiểu được chủ nghĩa Mác – Lênin là một sự kế thừa trong
dòng chảy chung, là tài sản chung của nhân loại. Điều đó mâu thuẫn
với quan điểm biện chứng duy vật mácxít về mặt nhận thức.
Sự bất cập về mặt khoa học sẽ dẫn đến sự lúng túng về mặt
thao tác cho giảng viên và sự nhầm lẫn trong nhận thức của sinh
viên: giảng viên sẽ gặp khó khăn khi giúp sinh viên phân biệt ba bộ
phận cấu thành này, do ln bị “ám ảnh” bởi ba mơn học trước đây;
còn sinh viên dễ bị nhầm lẫn trong tên gọi mơn học.
Về phía giảng viên, do chun ngành được đào tạo, hoặc là
triết học, hoặc là kinh tế chính trị, hoặc là chủ nghĩa xã hội khoa
học, nên khi giảng dạy mơn học mới trên cơ sở hợp nhất cả ba bộ
trường đại học thì phải thể hiện bằng giáo trình, và phải trả lời được
đâu là đối tượng, đâu là phương pháp nghiên cứu, tức là quay lại
trường hợp 1. Thực tế khơng thể trả lời được xác đáng câu hỏi trên,
vì việc lắp ghép ba mơn khoa học thành một chủ yếu do xuất phát từ
mục đích chứ chưa có căn cứ khoa học.
Giáo trình ít đề cập tính lịch sử của vấn đề: lịch sử triết học,
lịch sử kinh tế chính trị, lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì thế,
người học chỉ được cung cấp một bức tranh phiến diện, khơng hiểu
được chủ nghĩa Mác – Lênin là một sự kế thừa trong dòng chảy
chung, là tài sản chung của nhân loại.
Đối với tên người, tên địa danh nước ngồi có gốc chữ latinh:
việc phiên âm chỉ nên áp dụng với báo chí vì dành cho đại chúng,
còn tác phẩm khoa học dành cho đối tượng chun biệt (trí thức),
phiên âm sẽ dẫn đến sự sai lệch trong phát âm danh từ, khó tra cứu4.
Đã từ lâu, các tác phẩm khoa học thường giữ ngun gốc latinh chứ
khơng phiên âm. Giáo trình là một tác phẩm khoa học, khơng nên
phiên âm5. Sau nhiều lần tái bản, giáo trình hiện tại đã có một bước
tiến mới về vấn đề này so với các lần xuất bản trước khi chua thêm
ngun gốc latinh nhưng vẫn giữ lại sự phiên âm mà thực tế là
khơng cần thiết.
Cân nhắc việc sử dụng các từ so sánh tuyệt đối, ví dụ: chủ
nghĩa duy vật biện chứng là “hình thức phát triển cao nhất”, “đỉnh
cao” của chủ nghĩa duy vật (tr.35, 38, 39, 145), vì theo quan điểm
biện chứng, mọi thứ là khơng ngừng vận động và phát triển. Có thể
sử dụng so sánh hơn, ví dụ “hình thức phát triển cao”.
4
Ví dụ Giáo trình phiên âm Smith thành Xmít (tr.13), Hobbes thành Hốpxơ (tr.41) là
khơng chính xác, hay “chủ nghĩa Makhơ” (tr.24) do phiên âm nên khơng thể tra cứu tư
liệu gốc.
- Ở trang 49, 50, chưa phân biệt rõ các cấp độ phản ánh
tương ứng với cấu trúc vật chất và hình thức phản ánh. Có ba cấp độ
gồm cấp độ thấp (của thế giới vơ cơ, với các hình thức phản ánh vật
lý, hóa học), cấp độ trung bình (của thế giới hữu cơ, với các hình
thức phản ánh cảm ứng, phản xạ, tâm lý), cấp độ cao (của con
người, với hình thức phản ánh ý thức).
- Ở trang 50, nói “Phản ánh năng động, sáng tạo là hình thức
phản ánh cao nhất” là khơng chính xác, vì năng động, sáng tạo là
đặc trưng của một hình thức phản ánh cao nhất, khơng thể lấy đặc
6
Báo điện tử Đảng CSVN
(cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30683&cn_id=364322), Tạp chí Xây dựng
Đảng (xaydungdang.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=5704&print=true).
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015
571
trưng để đặt tên, và đồng thời khơng logic với tên gọi của các hình
thức phản ánh khác: vật lý, hóa học, sinh học. Cần hiểu cho đúng, ý
thức là hình thức phản ánh cao nhất vì mang đặc trưng phản ánh
năng động, sáng tạo7.
- Ở trang 53, dòng 18 trên xuống, “tái tạo lại” nên sửa là “tái
tạo”.
Chương II
- Trang 63, dòng 11 trên xuống, “vơ ngã” (Anatman) trong
Phật giáo thể hiện tư tưởng về bản thể luận, khơng phải là tư tưởng
biện chứng như giáo trình dẫn chứng.
- Trang 127 nhận định, “Mỗi phương thức sản xuất đều có
hai phương diện cơ bản là kỹ thuật và kinh tế” là chưa chính xác, và
các luận điểm giải thích cho nhận định này ngay sau đó nặng về tính
kinh tế. Chính xác phải là, phương thức sản xuất biểu thị sự thống
nhất của hai mối quan hệ, thứ nhất là quan hệ giữa con người với tự
nhiên (lực lượng sản xuất), thứ hai là quan hệ giữa con người với
con người (quan hệ sản xuất). Cũng trang này, “những cách thức tổ
chức kinh tế cao” dường như chưa chính xác?
- Trang 131, trình bày về lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất mà khơng cho thấy đây là hai bộ phận cấu thành một phương
thức sản xuất, từ đó chưa làm rõ được quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – nguồn gốc và
động lực của sự vận động phát triển của các phương thức sản xuất.
- Trang 139, khi trình bày về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng đã khơng cho thấy chúng hợp thành cơ cấu
kinh tế – xã hội có liên quan đến hạt nhân là phương thức sản xuất.
Cũng trang này, cần phân tích rõ hơn vai trò quyết định của cơ sở hạ
tầng đối với kiến trúc thượng tầng, khi xem xét cơ sở hạ tầng với tư
cách là cấu trúc kinh tế hình thành trên các quan hệ sản xuất quyết
định đời sống tinh thần xã hội và các thiết chế chính trị – xã hội.
- Trang 142, khi đề cập đến tồn tại xã hội và ý thức xã hội,
chưa làm rõ được đây là những biểu hiện đặc thù của vật chất và ý
thức trong xã hội, mà sự hợp thành của chúng làm nên tồn bộ xã
hội lồi người.
- Trang 171, khi phân tích về bản tính xã hội của con người,
cần bổ sung luận điểm về lịch sử giống lồi.
3. Vài đề xuất
Thứ nhất, là ba phương án tái cấu trúc:
1. Nếu vẫn giữ ngun sự tích hợp ba mơn thành một, thì tên