THAM LUẬN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ THÍCH ỨNG VỚI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH NINH THUẬN.
Đ/c Lưu Xuân Vĩnh
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
Ninh Thuận là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ có dải đồng bằng
hẹp, địa hình phức tạp, khí hậu nắng nóng, khô hạn quanh năm, là nơi có hệ sinh
thái của vùng bán khô hạn với hệ số khô hạn cao. Tổng diện tích tự nhiên
336.000ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 60.113ha, đất lâm nghiệp 159.895ha,
đất chuyên dùng 12.673ha, đất ở 2.880ha, còn lại là đất trống chưa sử dụng, sông
suối và núi đá 100.443ha. Hiện nay, Biến đổi khí hậu, nhất là hạn hán đang ngày
càng nguy hiểm đối với đời sống và phát triển sản xuất của người dân địa phương,
mặt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, nguy cơ hoang mạc
hóa ở vùng đất này. Theo kết quả kiểm kê đất đai diện tích đất trống đang bị thoái
hóa và hoang mạc hóa chiếm 33,9% tổng diện tích tự nhiên và phân bố tập trung
chủ yếu ở các huyện Ninh Phước, Ninh Hải và Ninh Sơn.
Trong những năm gần đây do sự biến đổi khí hậu toàn cầu, hiện tượng hạn
hán, thiếu nước trong mùa khô xảy ra liên tiếp ở nhiều nơi, trong đó Ninh Thuận là
địa phương có lượng mưa thấp nhất cả nước, tình hình hạn hán càng trở nên
nghiêm trọng hơn và đi cùng với nó là tình trạng hoang mạc hóa ngày càng mở
rộng. Nguyên nhân của việc xuất hiện hiện tượng khô hạn của tỉnh Ninh Thuận là
sự tương tác giữa yếu tố địa hình và hoàn lưu khí quyển, vì vậy nơi đây thường
xuất hiện các quá trình nhiệt ẩm không thuận lợi cho việc hình thành dòng chảy.
Hàng năm lượng mưa mang đến vùng không lớn và phân bố không đều theo không
gian (dao động từ 300 - 1200mm) và phân phối không đều theo thời gian (thời kỳ
khô hạn kéo dài trên 7 tháng, tiềm năng bốc thoát hơi bề mặt lên tới 1800 2000mm); Vì vậy, sự thiếu hụt ẩm của tỉnh Ninh Thuận rất cao. Trên nền mặt đệm
và điều kiện khí hậu khô hạn đã hạn chế sự phát triển tài nguyên nước (TNN). Hầu
hết các sông suối trong vùng đều bị khô kiệt vào mùa khô và không đảm bảo cấp
nước cho các nhu cầu dùng nước. Hiện tượng thiếu nước đã và đang đe doạ cuộc
sống của người dân ở đây với sự mở rộng các diện tích đất hoang hoá và cũng là
hưởng và làm cho khu vực Ninh Thuận trở nên khô nóng quanh năm.
- Tính chất khô hạn càng trở nên gay gắt do mùa khô kéo dài. Điều kiện khí
hậu khô - nóng, gió mạnh là tiền đề gây hoang mạc hóa trên địa bàn tỉnh.
- Lượng dòng chảy mặt Ninh Thuận thuộc vào loại nhỏ nhất nước ta, lại
phân bố không đều theo không gian và thời gian gây lũ quét trong 3 tháng mùa
mưa, hạn kiệt thiếu nước trầm trọng trong mùa khô.
- Điều kiện địa hình dốc và chia cắt mạnh dẫn đến gây xói mòn, rửa trôi lớn,
hình thành đất xói mòn trơ sỏi đá và bạc màu.
- Đất đai bị khai thác lâu dài với phương thức canh tác lạc hậu, đốt nương
rãy và chăn thả gia súc quá tải đã gây thoái hoá đất. Tình trạng khai thác kiệt quệ
lớp phủ thực vật tự nhiên dẫn đến thoái hoá đất và hình thành “đất trống đồi trọc”,
“đất mòn trơ sỏi đá” ở Ninh Thuận khá phổ biến.
Bảng 1: Tổng diện tích đất bị ảnh hưởng bởi hoang mạc hóa tại Ninh Thuận
STT
1
2
3
4
Dạng hoang mạc
Hoang mạc cát
Hoang mạc đá
Hoang mạc muối
Hoang mạc đất cằn
Diện tích (ha)
2001
4.878
3.457
11.867
đầu tháng 2/2005 mực nước trên các sông, suối, ao hồ trong toàn tỉnh đều bị cạn
kiệt và nằm dưới mực nước chết nên đã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho tỉnh, tổng
thiệt hại chỉ tính riêng về sản xuất nông nghiệp là 133 tỷ 707 triệu đồng, lớn hơn
mức thiệt hại do trận lũ đặc biệt lớn xảy ra năm 2003 ở Ninh Thuận và hiện nay
(2015) hạn hán được lập lại sau 10 năm, đang gây thiệt hại rất lớn cho sản xuất và
sinh hoạt của người dân trên địa bàn tỉnh.
3. Về ảnh hưởng của bảo, ATNĐ và lũ lụt:
- Ninh Thuận là tỉnh ít có bão đổ bộ trực tiếp, nhưng nằm trong phạm vi chịu
ảnh hưởng nên đã gây ra mưa lớn, nhất là do biến đổi khí hậu; Cho nên cường độ
mưa, thời gian mưa và lượng mưa lớn, tập trung đã dẫn đến lũ lụt, điển hình nhất là
trận lũ lụt năm 2003 gây thiệt hại trên 626 ha ao, đìa với sản lượng 1.080 tấn tôm;
50 tấn Rong sụn và làm hư hỏng nhiều công trình, kênh mương các khu vực nuôi
trồng thủy sản Đầm Nại, An Hải, Sơn Hải; ao đìa nuôi tôm ở Ninh Hải, Phan
Rang, Ninh Phước.
- Ảnh hưởng của bão, ATNĐ gây sạt lở đê bao bờ sông, bờ biển và gia tăng
xâm nhập mặn vùng đất thấp dọc bờ biển Ninh Thuận đã làm ảnh hưởng đến hoạt
động nhiều ngành, lĩnh vực của vùng ven biển, đặc biệt đối với dân cư là nông dân
nghèo, ngư dân và người già, trẻ em, do đó phải sắp xếp lại dân cư để bảo đảm an
sinh xã hội, tạo dựng bộ mặt mới cho nông thôn các vùng này. Các vùng bị ảnh
hưởng phải di dời dân cư như sau:
Như vậy, biến đổi khí hậu đã có tác động trực tiếp đến tỉnh Ninh Thuận như:
thời tiết diễn biến thất thường, thiên tai thường xuyên xảy ra, cường độ ngày càng
ác liệt hơn; nhất là tình hình hạn hán đã làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển
kinh tế xã hội tại địa phương và gây nhiều thiệt về tài sản của nhà nước, của nhân
dân và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh.
II. Những giải pháp phòng ngừa và thích ứng với biến đổi khí hậu của
tỉnh trong thời gian qua:
Duyên hải miền Trung nói chung và Ninh Thuận nói riêng là khu vực chịu
ảnh hưởng nặng nề nhất của hạn hán, hoang mạc hóa. Đặc điểm nổi bật của tỉnh
Ninh Thuận là: địa hình cao, dốc, sông ngắn, dòng mặt thoát khá nhanh ra dòng
hoạch phát
triển kinh tế xã
hội
Con người
Phi công trình
3
Một số biện pháp đã được thực hiện tại Ninh Thuận mang lại một hiệu quả
nhất định đối với việc phòng ngừa và giảm nhẹ hậu quả do biến đổi khí hậu gây ra.
Cụ thể như sau:
1. Giải pháp công trình:
a. Phát triển và bảo vệ nguồn nước:
Đây là giải pháp quan trọng nhất nhằm đảm bảo an toàn nước cho sản xuất,
dân sinh và môi trường. Trong những năm qua, tỉnh đã luôn chú trọng đến việc xây
dựng hệ thống các công trình thuỷ lợi, đập dâng nước nhằm tăng nguồn thu nước
phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Tổng dung tích các hồ
chứa đã đầu tư đến nay khoảng 190 triệu m3, đã góp phần nâng tổng diện tích đất
canh tác được tưới hiện nay đạt 41,42%, tỷ lệ người dân vùng nông thôn sử dụng
nước sinh hoạt hợp vệ sinh 85%. Đối với các vùng ven biển người dân đã tự bỏ
vốn đầu tư các ao thu trử nước mưa, tận dụng nguồn nước ngầm để tự cung cấp
nước phục vụ cho sản xuất của người dân và chăn nuôi.
HỒ SÔNG TRÂU
4
hành đơn giản, tốn ít công lao động, dễ dàng tự động hoá.
Áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm
Bảng 1: So sánh mức tưới theo hai phương pháp tưới của cây nho
Phương pháp
Thời gian
Lượng nước
Công tưới
Độ ẩm đạt được
6
tưới
tưới
(giờ)
17,0
31
tưới (m3)
(công)
Tưới tiết kiệm
85
0,3
15 – 16 %
Tưới cổ
310
- Đối với các vùng đất trống đồi núi trọc:
+ Đối với các vùng đất cát đang di động thực hiện các mô hình trồng rừng
chống cát bay bằng loài cây Filao.
+ Đối với các vùng đất cát đang bị hoang mạc hoá xây dựng mô hình ngăn
ngừa và hạn chế thoái hoá đất, hoang mạc hoá do chăn thả tự do tại Phước Hải,
Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận bằng biện pháp trồng rừng, trồng cỏ, đào ao tích
nước…
+ Đối với vùng đất bị hoang mạc hoá ở vùng đồng bằng và trung du xây
dựng các mô hình trồng rừng bằng loài cây đa tác dụng: vừa phòng hộ vừa mang
lại hiệu quả kinh tế trên vùng đất hoang mạc hóa nhằm thích ứng với biến đổi khí
hậu như: Mô hình trồng rừng Trôm trên núi đá. Mô hình trồng rừng Neem trên
vùng núi đá… kết hợp chăn nuôi dưới tán rừng tại các huyện Ninh Phước, Thuận
Bắc tỉnh Ninh Thuận. Các mô hình trên đã mang lại hiệu quả cho việc phòng
chống sa mạc hoá, cân bằng hệ sinh thái vùng khô hạn, tạo được đai rừng phòng hộ
giữ nước, tăng thu nhập cho người dân địa phương.
7
MÔ HÌNH TRỒNG RỪNG NEEM TRÊN VÙNG ĐẤT HMH
MÔ HÌNH TRỒNG RỪNG TRÔM TRÊN VÙNG ĐẤT HMH
- Dự án thí điểm “Tái tạo nguồn nước bằng kỹ thuật giữ nước mặt quy mô
nhỏ, bền vững tại Chà Bang-huyện Thuận Nam”. Sự khan hiếm nước và hạn hán
đang xác định là vấn đề nghiêm trọng của tỉnh Ninh Thuận, tình trạng thiếu nước
dùng trong sinh hoạt và nông nghiệp trong mùa khô và lũ lụt, ngập úng vào mùa
mưa, đang cản trở sự phát triển kinh tế xã hội. Những ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu có thể làm nặng thêm tình trạng này. Dự án đã ứng dụng một số kỹ thuật giữ
nước bao gồm các rãnh và đập trên các suối nhỏ.
2. Giải pháp phi công trình:
* Các biện pháp sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước
- Tăng cường dự báo, cảnh báo và tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao
nhận thức về sử dụng các biện pháp để tiết kiệm nước tối đa.
9
- Không để các hộ dân tranh chấp hoặc tư ý lấy nước từ các kênh.
- Tưới luân phiên giữa các hệ thống và trong hệ thống thủy lợi. Trong từng
hệ thống cũng phải bố trí tưới luân phiên theo từng cấp kênh, tăng thời gian tưới
cho vùng cuối kênh lấy nước khó khăn.
- Quản lý chặt chẽ, tìm thêm các nguồn nước, điều hành, phân phối nguồn
nước, sử dụng hợp lý, tiết kiệm theo thứ tự ưu tiên: Nước sinh họat cho người,
nước uống cho gia súc, cho sản xuất công nghiệp và cân đối cho trồng trọt.
* Các biện pháp bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ
- Giảm diệm tích gieo trồng nhất là diện tích Lúa và bố trí lại kế hoạch sản
xuất vụ Hè thu cho phù hợp với tình hình hạn hán.
- Tập trung ưu tiên gieo cấy lúa vùng trũng sâu đầu kênh, vùng dễ lấy nước;
những vùng khó lấy nước sẽ gieo cấy đợt 2 vụ Hè thu hoặc chuyển đổi cây trồng ít
sử dụng nước; các xã có diện tích lúa Đông Xuân đang bị hạn, khó khăn nước thì
không gieo cấy lúa Hè thu mà phải chuyển sang trồng các loại cây trồng khác hoặc
chờ thời tiết thuận lợi mới gieo cấy.
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tiết kiệm nước
- Giảm bớt quy mô đàn gia súc, chuyển gia súc đến các vùng trong tỉnh có
thức ăn và nước uống để chăn thả.
* Các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng-vật nuôi theo hướng chịu hạn
- Mô hình luân canh trên đất Lúa (Lúa-Bắp lai-đậu xanh; Bắp lai- rau đậuLúa; Bông vải- rau đậu- Lúa,...) trong hệ thống kênh Nam, kênh Bắc và hệ thông
Sông Pha cho thu nhập từ 35 đến 45 triệu/ha/năm.
- Mô hình luân canh cây thuốc lá với các loại cây trồng cạn (Bắp lai, đậu
hoang mạc hoá tại các vùng trong tỉnh.
- Đã xác định được tập đoàn cây chịu hạn, có giá trị kinh tế cao như: Cây
Neem, Cóc Hành, Điều, Filao, Trôm…Góp phần tạo thu nhập ổn định cho người
dân, nâng cao được nhận thức của người dân trong việc bảo vệ và Phát triển rừng.
- Bước đầu góp phần làm thay đổi điều kiện môi trường tại một số vùng nông
thôn miền núi và vùng ven biển.
Qua đó, bước đầu đã khẳng định tỉnh Ninh Thuận có khả năng ”Sống chung
với hạn hán”.
III. Kịch bản về biến đổi khí hậu khu vực Nam Trung bộ:
Các kịch bản biến đổi khí hậu cho khu vực Nam Trung bộ (Ninh Thuận thuộc
vùng Nam Trung bộ) trong thế kỷ 21 có thể được tóm tắt như sau:
1. Về nhiệt độ:
- Theo kịch bản thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các
vùng khí hậu phía Nam tăng khoảng từ 1,1-1,40C.
- Theo kịch bản trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm
có thể tăng lên 1,90C ở Nam Trung Bộ so với thời kỳ 1980 – 1999.
- Theo kịch bản cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các
vùng khí hậu Nam Trung Bộ là 2,40C.
2. Về lượng mưa:
- Theo kịch bản thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng
khoảng từ 1-2% ở Nam Trung Bộ so với trung bình thời kỳ 1980-1999.
- Theo kịch bản trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể
tăng khoảng từ 2–3% ở Nam Trung Bộ. Lượng mưa vào giữa mùa khô có thể
giảm tới 10-15%. Lượng mưa các tháng mùa mưa tăng từ 10-15%.
- Theo kịch bản cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng
khoảng 4-5% ở Nam Trung Bộ. Lượng mưa vào giữa mùa khô có thể giảm 1322%. Lượng mưa các tháng của mùa mưa sẽ tăng từ 12-19%.
3. Ảnh hưởng của nước biển dâng theo kịch bản phát thải:
Do đặc điểm địa hình tương đối dốc và hướng thấp dần từ Tây sang Đông,
từ Tây Bắc xuống Đông Nam nên tỉnh Ninh Thuận không ít bị ảnh hưởng của nước
biển dâng, tuy nhiên qua kết quả đánh giá ảnh hưởng của hiện tượng nước biển
sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong đó chú trọng phát triển các loại giống cây
trồng, vật nuôi, thủy sản thích ứng với biến động thời tiết và khả năng kháng dịch
bệnh cao; thích ứng với nước biển dâng và xâm nhập mặn. Áp dụng các biện pháp
kỹ thuật canh tác mới, quan tâm nhiều hơn đến môi trường và khai thác bền vững
nguồn tài nguyên thiên nhiên; hướng đến nền nông nghiệp hàng hóa, sạch, đa
dạng, phát triển bền vững. Triển khai các chương trình, dự án phòng chống hoang
mạc hóa, sa mạc hóa, thoái hóa đất canh tác nông nghiệp; bảo đảm diện tích đất
cho phát triển rừng theo quy hoạch, đặc biệt vùng ven biển các huyện Ninh Phước,
Thuận Nam, Ninh Hải và miền núi các huyện Ninh sơn, Bác Ái, Thuận Bắc.
4. Nâng cao nhận thức, kỹ năng phòng tránh thiên tai cho cộng đồng; xây
dựng cơ chế, chính sách bảo đảm sinh kế cho người dân những vùng có nguy cơ bị
ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, vùng thường xuyên bị tác động của thiên
tai, đặc biệt là vùng ven biển thành phố Phan Rang - Tháp Chàm; các huyện Ninh
Hải, Thuận Nam, Ninh Phước; vùng hạ lưu Nam sông Dinh, vùng ven kênh Bắc,
kênh Nam, kênh Chàm và vùng thoát lũ các hồ thủy lợi Tân Giang, sông Sắt, sông
Trâu; có phương án chủ động di dân những vùng có nguy cơ cao khi có tình huống
xấu nhất xảy ra.
5. Rà soát, bổ sung, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh
12
vực, phát triển kinh tế xã hội phù hợp với kịch bản nước biển dâng.
6. Xây dựng phương án cụ thể di dời, bố trí quỹ đất tái định cư để sắp xếp lại
các điểm dân cư ở những vùng thường xuyên bị tác động của bão, lụt, những khu
vực có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và những khu vực ven biển bị xâm thực
do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Chú trọng đến các cụm dân cư
vùng núi, vùng trũng thấp và khu vực bờ sông, bờ biển bị sạt lở;
7. Thường xuyên kiểm tra, duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa, nâng cấp bảo
đảm an toàn các công trình thủy lợi; các đoạn đê, kè biển, sông, suối xung yếu; các
12. Xây dựng mô hình chống xâm nhập mặn, vùng ven biển khi khai thác
nuôi tôm, làm muối.
Trên đây là báo cáo tham luận về tác động của biến đổi khí hậu và giải
pháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở tỉnh Ninh Thuận, mong nhận được các ý kiến
góp ý của Hội thảo để địa phương hoàn thiện các giải pháp ứng phó biến đổi khí
hậu và nước biển dâng trong thời gian tới./.
13
14