Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật về công nghệ thi công TOPDOWN - Pdf 38

Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật về công nghệ thi công TOP-DOWN
Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật về công nghệ thi công TOP-DOWN do Thầy Lê
Đức Thành - Giảng viên bộ môn thi công - Trường Đại học Xây dựng thực
hiện. Luận văn đã được Hội đồng chấm luận văn đánh giá suất sắc và
chuyển lên tiếp tục làm NCS - Tiến sĩ. Tôi đã xin phép Thầy để post lên cho
anh em tham khảo. Tiếp theo đây, hy vọng các bác khác sau khi bảo vệ Tốt
nghiệp sẽ post đồ án, luận văn của mình lên để anh em lớp sau học tập,
tham khảo đồng thời cũng tránh bị lặp lại hoặc bị "đạo văn".
Dưới đây là Phần mở đầu, mục lục và tóm tắt của bản luận văn:
Lời nói đầu
-----------***----------Kể từ khi đất nước ta chuyển sang cơ chế thị trường cùng với chính sách mở
cửa làm cho nền kinh tế nước ta khởi sắc nhanh chóng và đã đạt được
những thành tựu rất to lớn, đời sống của người dân đã được cải thiện và
nâng lên đáng kể, bộ mặt đất nước đã thay đổi từng ngày. Hoà theo nhịp
tiến chung của xã hội thì ngành Xây dựng cơ bản cũng bước những bước
tiến dài so với thời kỳ bao cấp. Ngày nay chúng ta đã có khả năng thiết kế
và thi công các nhà cao tầng, các cây cầu hiện đại. Đội ngũ những người
làm kỹ thuật của chúng ta được trang bị đầy đủ kiến thức và có đủ kinh
nghiệm để đảm đương những công trình lớn phức tạp. Khắp mọi miền đất
nước đã xuất hiện nhiều toà nhà cao tầng, kiến trúc hiện đại được xây dựng
bằng kỹ thuật xây dựng tiên tiến nhất. Nhiều toà nhà cao tầng được thiết kế
từ 2-->4 tầng hầm nhằm giải quyết những yêu cầu thực tế do chúng đặt ra.
Số nhà cao tầng có tầng hầm đã được xây dựng ở Việt Nam tuy chưa nhiều
nhưng nó cũng đánh dấu một bước phát triển của công nghệ thi công tầng
hầm ở Việt Nam. Chúng ta ai cũng biết việc xây dựng các công trình ngầm
nói chung là phức tạp vì nó phụ thuộc rất nhiều vào địa chất nơi công trình
được xây dựng, phụ thuộc vào thiết bị, máy móc cũng như trình độ kỹ thuật,
tay nghề của đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật. Đối với chúng ta thì công
nghệ thi công tầng hầm là khá mới mẻ, đặc biệt khi công nghệ đó là "Thi
công từ trên xuống". Vấn đề này hiện nay được rất nhiều nhà thầu và các
chuyên gia xây dựng quan tâm đặc biệt vì theo xu thế phát triển của đất

a. Do nhu cầu sử dụng.
b. Về mặt nền móng.
c. Về mặt kết cấu.
d. Về an ninh quốc phòng
4. Kết luận : Việc thiết kế và xây dựng công trình dân dụng có tầng hầm ở
Việt Nam là rất cần thiết và hoàn toàn có thể thực hiện được bởi chính các
Kiến trúc sư, Kỹ sư xây dựng ở Việt Nam.
Chương II. Công nghệ thi công tầng hầm nhà nhiều tầng.
1. Phương pháp đào đất trước sau đó thi công nhà từ dưới lên.
Thể hiện hình 1
- Ưu điểm:
• Thi công đơn giản, độ chính xác cao, các giải pháp kiến trúc và kết cấu
cho tầng hầm cũng đơn giản.
• Việc xử lý chống thấm cho thành tầng hầm và lắp đặt hệ thống mạng lưới
kỹ thuật cũng dễ dàng, thuận tiện.
Trang 2


• Việc làm khô hố móng đơn giản.
- Nhược điểm:
• Khó thực hiện với tầng hầm có chiều sâu lớn.
• Không an toàn cho các công trình lân cận. Khi chiều sâu lớn.
2. Thi công tường nhà làm tường chắn đất.
- Ưu điểm:
• Không cần dùng ván cừ để giữ vách hố đào.
• Trình tự thi công vẫn theo thứ tự từ dưới lên.
- Nhược điểm:
• Thời gian thi công khá dài.
• Phải chống tường bao khi bản thân nó không chịu được lực xô ngang của
đất nền.

• Thi công đất trong không gian kín khó thực hiện cơ giới hoá.
• ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân.
• Phải lắp đặt hệt thống thông gió, chiếu sáng nhân tạo.
Chương III. Các vấn đề kỹ thuật cần được giải quyết khi thi công tầng hầm.
1. Xác định lực tác động lên vách chống.
2. Chống vách đất.
1,5m; Đào đến đâu ghép ván tới đó. (Dùng÷a. Đóng cọc thưa cách nhau 0,8
cho hố không sâu, không có nước ngầm, áp lực đất nhỏ). Cọc và ván được
thu hồi dùng lại
b. Dùng ván cừ thép rồi phun vữa bê tông giữ đất.
c. Đóng cọc thép rồi phun vữa bê tông giữ đất.
d. Dùng cọc khoan nhồi liền nhau tạo thành vách chống đất.
e. Dùng tường trong đất.
f. Neo bê tông (Neo ngầm).
g. Và các biện pháp cổ điển.
3. Một số giải pháp kết cấu của tường trong đất.
a. Tường trong đất bằng bê tông toàn khối. Vẽ hình 8
b. Tường trong đất bằng bê tông đúc sẵn. Vẽ hình 14,15
c. Các loại mối nối.
4. Công nghệ xây dựng tường trong đất.
4.1. Tường trong đất bằng bê tông đổ tại chỗ.
Các giai đoạn thi công bắt buộc như sau :
- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng.
- Xây dựng các tường định vị.
- Đào tường đốt hào trong vữa sét.
- Đặt cốt thép và tấm chắn đầu.
- Đổ bê tông bằng phương pháp đổ bê tông trong nước.

Trang 4


các tấm panel.
- Phương pháp đưa vào trong vữa sét sau khi đào xong hào các phụ gia đặc
biệt để chúng đông cứng lại.
d. Chống thấm cho tường bằng Bentonite Geotexttile.
- ứng dụng : Dùng cho các sàn bê tông đặt trên đất, cho các tường cừ bằng
Trang 5


gỗ, thép và bê tông đổ tại chỗ cũng như lắp ghép, cho các công trình đường
hầm, các công trình xây dựng với Bê tông phun.
- Không dùng được : Cho các kết cấu lộ trên mặt đất, cho các khe co dãn,
cho các kết cấu đang có nước đọng.
(Vẽ hình 27b, 27e, 28a).
Chương IV. Những vấn đề cần giải quyết trong quá trình thi công tầng hầm
theo phương pháp từ trên xuống "Top-down".
chương Ụ : tình hình xây dựng nhà có tầng hầm ở việt nam
1. Khái niệm về tầng hầm :
Trong các công trình xây dựng dân dụng nhà nhiều tầng trên thế giới, người ta
quy định phần tầng nhà là từ cao trình mặt đất tự nhiên trở lên. Nhà nhiều tầng có
thể hiểu là từ 4 tầng trở lên, khi số tầng lên đến vài chục tầng thì người ta gọi đó
là nhà cao tầng. Khái niệm cao tầng hiện nay tạm định lượng như nhà cao dưới 9
tầng gọi là nhà thấp tầng. Nhà từ 10 đến 24 tầng gọi là nhà cao trung bình. Nhà có
từ 25 tầng trở lên được gọi là nhà cao tầng.
Trong khu nhà cao tầng bao gồm tầng trệt (Tầng 1) sàn của nó nằm ngang trên
mặt đất, tiếp theo là các tầng 2,3,4... có độ cao sàn dương. Còn những tầng tiếp
theo ở thấp hơn so với mặt đất (nằm dưới tầng trệt) đều được gọi là tầng hầm.
Tầng hầm có thể nửa nổi nửa chìm hoặc nằm hoàn toàn trong lòng đất. Thường
ở những toà nhà cao tầng thì tầng hầm gồm 2 tầng trở lên, tầng hầm trên cùng có
thể là nửa nổi nửa chìm một khi ta muốn tận dụng sự thông gió, chiếu sáng tự
nhiên, số lượng tầng hầm. Số lượng tầng hầm cho nhà nhiều tầng chủ yếu phụ

3
4
5
6
7
8
9
10

Công trình
Thư viện Anh Quốc
Commerce Bank Frankfruit
Central Plaza - Hồng
Kông
Chi Thong - §ài Loan
Chung Wei - §ài Loan
Tai Pao - §ài Loan
Chung Ịian
Sen Jue - §ài Loan
Trung tâm sách - Hà Nội
Vietcombank - Hà Nội
Sun way Hotel - Hà Nội

Số tầng nổi
7
56
75
14
20
27

11,0

Qua bảng thí dụ trên ta thấy các công trình thường có thống kê từ 1 --> 4 tầng
hầm, chiều sâu hố đào từ 5m --> 10m. Tất nhiên trong tương lai sẽ có những nhà
có tầng hầm sâu hơn hiện nay do nhu cầu và công nghệ xây dựng phát triển đủ để
có thể thi công được và bảo đảm yêu cầu về chất lượng.
Tầng hầm trong các nhà cao tầng sẽ là vấn đề quen thuộc trong ngành xây dựng
trên thế giới kể cả các nước đang phát triển, nó sẽ rất phù hợp cho các thành phố
tương lai được thiết kế hiện đại, đảm bảo được yêu cầu về môi sinh, môi trường
và đáp ứng sở thích của con người như là nhà có vườn treo, thành phố thông
thoáng 3 chiều hay những căn hộ được thiết kế theo dạng "biệt thự" trong các nhà

Trang 7


nhiều tầng. Ta có thể nói rằng tầng hầm trong nhà nhiều tầng là một nhu cầu
khách quan vì nó có những ưu việt ta phải tận dụng.
3. Sự cần thiết của tầng hầm trong nhà nhiều tầng :
a. Do nhu cầu sử dụng :
Ngay từ lâu ở các nước công nghiệp phát triển, nhu cầu về nhà cửa tăng
nhanh, các phương tiện giao thông cũng tăng đáng kể cộng với mức sống khá
cao đã kéo theo một loạt các hoạn động dịch vụ, trong khi đó diện tích để xây
dựng lại hạn hẹp vì thế việc ra đời của nhà nhiều tầng là hiển nhiên. Một khi
nhà nhiều tầng ra đời, nó đòi hỏi xã hội phải đáp ứng những nhu cầu do bàn
thân nó sinh ra. Nói một cách khác đi, đó chính là nhu cầu của cư dân sống
trong các khu nhà đó. Vì thế việc xây dựng tầng hầm đã ra đời và phát triển
mạnh nhằm :
• Làm kho chứa hàng hoá phục vụ sinh hoạt của cư dân trong toà nhà.
• Làm tầng phục vụ sinh hoạt công cộng như bể bơi, cửa hàng, quán bar...
• Làm gara ô tô, xe máy.

làm tăng độ ngàm của công trình vào đất, tăng khả năng chịu lực ngang như
gió, bão, lụt động đất...
d. Về an ninh quốc phòng :
Tại trụ sở các cơ quan, công sở có tầng hầm thì nó sẽ được sử dụng làm nơi
cất giữ tiền bạc kim loại quý.... Còn ở những khu định cư thì tầng hầm sẽ là nơi
tránh bom đạn tốt nhất cho cư dân mỗi khi xảy ra chiến tranh.
4. Kết luận
Qua đây ta có thể khẳng định việc thiết kế, xây dựng các công trình dân dụng
có tầng hầm ở Việt Nam là cần thiết. Chúng ta đã, đang và sẽ xây dựng nhiều toà
nhà có tầng hầm để phục vụ dân sinh. §iều này chúng ta sẽ hoàn toàn làm được vì
chúng ta có đội ngũ các Kiến trúc sư, Kỹ sư thiết kế, Kỹ sư thi công có đủ năng
lực, tiếp cận và cập nhật được các kiến thức thực tế trên thế giới cũng như máy
móc thi công và công nghệ thi công tiên tiến.
Trong giới hạn luận văn này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến lĩnh vực kỹ thuật
và tổ chức thi công nhà có tầng hầm theo các phương pháp truyền thống và đặc
biệt đi sâu về phương pháp thi công "Thi công từ trên cao xuống" còn gọi là
phương pháp "TẶP DẶWN".

Trang 9


chương ỤỤ : Công nghệ thi công tầng hầm trong nhà nhiều tầng
Việc thi công tầng hầm luôn đi đôi với việc thi công đất vì tầng hầm nằm dưới mặt
đất. Ngày nay với công nghệ thi công đất đã có rất nhiều tiến bộ chủ yếu nhờ vào
các máy móc thiết bị thi công hiện đại và các quá trình thi công hợp lý cho phép thi
công được những công trình phức tạp, ở nhũng địa hình khó khăn. §ể tiện cho việc
so sánh, ta có thể hệ thống các công nghệ thi công chính như sau đây :

b. X©y nhµ


về chiều sâu hố đào khi quá lớn nếu dùng biện pháp này ta sẽ phải cử thành nhiều
đợt, nhiều bậc và độ ổn định cũng như an toàn cho thi công ta phải bàn đến.
Qua thực tế ta có thể đưa ra các phương án giữ vách hố đào theo phương pháp
thi công cổ điển như :
- §ào đất theo độ dốc tự nhiên, phương pháp này chỉ áp dụng khi hố đào
không sâu, với đất dính, góc ma sát trong ϕ lớn, mặt bằng thi công rộng rãi đủ
để mở taluy mái dốc hố đào và để thiết bị thi công cũng như chứa đất được đào
lên.
- Dùng ván cừ đặt thành nhiều tầng (Không chống). Hố đào được đào thành
nhiều bậc, mở rộng phía trên áp dụng cho trường hợp khi ván cừ không đủ dài
để chống một lần hoặc khi hố đào quá sâu, thi công đào đất bằng phương pháp
thủ công và khi có yêu cầu hố đào phải thông thoáng để thi công tầng hầm.
- Dùng ván cừ có chống hoặc có neo, hố đào được đào thẳng đứng. Dùng cừ
có chống khi cột chống không ảnh hưởng đến thi công tầng hầm, còn khi có sự
đòi hỏi thoáng đãng trong hố đào để thi công tầng hầm ta phải dùng neo, neo
này được neo trên mặt đất. Loại ván cừ có chống hoặc neo dùng khi áp lực đất
lớn.

Trang 11


b. Đào đất có cừ không chống
H : Chiều sâu hố đào
h : Chiều sâu ngàm của cừ


a. Đào đất theo mái dốc
tự nhiên




Trang 12


Với những công trình mà khối lượng đào đất không lớn, hố đào không sâu
( 3 tầng hầm trở lên thì việc áp dụng các phương pháp truyền thống là không
khả thi và kém về hiệu quả về kinh tế, chính vì lẽ đó người ta đưa ra một trình tự
thi công như sau : Trước khi thi công đào đất người ta tiến hành thi công phần
tường bao của tầng hầm trước sau đó tiến hành đào đất trong lòng tường bao này
đến đáy tầng hầm (đáy móng). Trường hợp móng của công trình là cọc khoan
nhồi thi người ta cũng tiến hành thi công cọc cùng lúc với tường bao. Phần kết
cấu chính của tầng hầm cũng như của công trình được thi công từ dưới lên trên, từ
móng đến mái (Bottom-up). Ta có thể gọi đây là phương pháp thi công tường
trong đất.
Phương pháp này có ưu điểm rất lớn là không cần dùng ván cừ để giữ vách hố
đào. Trình tự thi công công trình vẫn theo thứ tự như xưa tức là xây từ dưới xây

chống có nhiệm vụ giữ cho dầm văng ổn định (giảm chiều dài tính toán).

Trang 14


H×nh 4.a a1. MÆt b»ng hÖ chèng hè ®µo b»ng hÖ dÇm cét

A

Cét chèng
b»ng thÐp
h×nh

A
DÇm ®ì
T­êng bao

a2. MÆt c¾t A-A. HÖ gi»ng chèng
DÇm ®ì

Thanh gi»ng

Thanh chèng
T­êng bao

Cét chèng
b»ng thÐp h×nh

Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán, xung quanh rất tốn
vật liệu làm xà, dầm, cột (có thể thu hồi 100%). Tuy nhiên nhược điểm của

hÇm

H×nh 4b : Chèng t­êng bao b»ng hÖ neo ngÇm

Ta thấy cả hai trường hợp neo và chống đều thi công song song với công việc
đào đất. §ào đến đâu đặt neo hay đặt cột chống tới đó. Phương pháp này tường
bao hầu như không chuyển vị áp lực đất tác dụng lên tường là áp lực tĩnh.
So sánh giữa hai phương pháp ta có thể kết luận phương pháp dùng cột dầm để
chống đỡ hố đào dễ thực hiện song nó sẽ gây nhiều cản trở cho thi công trình tầng
hầm, chỉ cần những sơ suất nhỏ có thể xẩy ra sự cố đáng tiếc. Với phương pháp
dùng neo ngầm đảm bảo một mặt bằng thi công rộng rãi, thoáng đãng song nó đòi
hỏi phải có thiết kế tính toán neo và phải có đủ thiết bị để thi công neo như bơm
bê tông, neo ứng lực trước... phương pháp này cho giá thành khá cao chỉ nên áp
dụng ở những công trình thực sự cần thiết đến hệ neo này.
3. Phương pháp gia cố nền trước khi thi công hố đào :
Khi công trình được thi công ở những vùng đất cát, việc đào đất sẽ gặp khó
khăn vì cát sẽ lở. Ngoài những biện pháp chống đỡ thành hố đào như đã nêu ở
trên ta cũng có thể áp dụng phương pháp gia cố nền hố đào trước khi đào đất. Nó
thích hợp cho công trình co mặt bằng thi công rộng và chiều sâu hố đào không
lớn.
Trang 16


Ni dung ca phng phỏp ny l trc khi thi cụng o t ngi ta dựng
khoan v bm cao ỏp pht va xi mng vo nn t xung quanh h o. Khi va
xi mng rn chc s lm cho nn t cú cng tng lờn c th l tng h s
dớnh C v gúc ma sỏt trong ca nn t. Vi bin phỏp gia c ny h o cú th
o thng ng hoc nghiờng theo gúc khỏ ln.
Bơm xi măng cát


Bước 2 : Người ta tiến hành đổ sàn tầng trệt ngang trên mặt đất tự nhiên. Tầng
trệt được tỳ lên tường trong đất và cột tầng hầm. Người ta lợi dụng luôn các cột
đỡ cầu thang máy, thang bộ, giếng trời làm cửa đào đất và vận chuyển đất lên
đồng thời cũng là cửa để thi công tiếp các tầng dưới. Ngoài ra nó còn là của để
tham gia thông gió, chiếu sáng cho việc thi công đào đất... Khi bê tông đạt cường
độ yêu cầu, người ta tiến hành đào đất qua các lỗ cầu thang giếng trời cho đến cốt
của sàn tầng thứ nhất (1C) thì dừng lại sau đó lại tiếp tục đặt cốt thép đổ bê tông
sàn tầng 1C. Cũng trong lúc đó từ mặt sàn tầng trệt người ta tiến hành thi công
phần thân nghĩa là từ dưới lên. Khi thi công đến sàn tầng dưới cùng người ta tiến
hành đổ bê tông đáy nhà liền với đầu cọc tạo thành sản phẩm dưới cùng, có cũng
là phần bản của móng nhà. Bản này còn đóng vai trò chống thấm và chịu lực đẩy
nổi của lực ácimét.
Có hai phương pháp thi công sàn tầng hầm :
• Dùng hệ cột chống hầm đã thi công (tỳ lên cọc nhồi) để đỡ hệ dầm và sàn
tầng hầm.
• Dùng cột chống tạm (thường dùng tỏng thực tế là thép hình chữ Ụ có gia
cường đặt vào cọc nhồi, sau khi thi công cột xong thì dỡ bỏ.
Mỗi phương án trên đều bộc lộ những ưu điểm và nhược điểm của nó, để áp
dụng được phải tính toán một cách chặt chẽ vì không những nó liên quan đến thi
công mà cả giải pháp kết cấu nữa.
ưu điểm của phương pháp Top-down :
• Tiến độ thi công nhanh, qua thực tế một số công trình cho thấy để có thể
thi công phần thân công trình chỉ mất 30 ngày, trong khi với giải pháp
chống quen thuộc mỗi tầng hầm (kể cả đào đất, chống hệ dầm tạm, thi
công phần bê tông) mất khoảng 45 đến 60 ngày, với nhà ó 3 tầng hầm thì
thời gian thi công từ 3 --> 6 tháng.
• Không phải chi phí cho hệ thống chống phụ.
• Chống vách đất được giải quyết triệt để vì dùng tường và hệ kết cấu công
trình có độ bền và ổn định cao.
• Không tốn hệ thống giáo chống, cốppha cho kết cấu dầm sàn vì sàn thi

Đào
c1

Tường
Trong đất

Cọc nhồi
Giai đoạn 3 : Đào đất tầng ngầm c1

Giai đoạn 4 : Đổ sàn tầng ngầm c1
đổ bê tông tầng e1
e2
e1

c1

Tường
Trong đất

c2
Cọc nhồi
Giai đoạn 5 : Đào đất tầng hầm c2
Đổ bê tông cột tầng e2

Trang 19

Giai đoạn 6 : Đổ bê tông tầng đáy + đài móng
Đổ bê tông sàn tầng e2



• Thi công phải đơn giản, giá thành hạ.
• Luôn chú ý đến khả năng sử dụng lại sau khi thi công trình hoàn thành.
Sau đây là một số phương án chống vách đất có thể áp dụng được :
a) §óng cọc thưa cách nhau một khoảng từ 0,8 ÷ 1,5 M đào đến đâu thì ghép
ván đến đó. Cọc đóng thường là cọc thép hình (Ụ hay H), ván gỗ. Nó được
áp dụng khi hố không sâu, áp lực đất nhỏ, không có nước ngầm chảy
mạnh. Gỗ và cọc sau khi thi công cọ thu hồi để sử dụng lại.
Trang 20


b) §óng ván cừ thép không chống làm việc dưới dạng công-xôn, áp dụng khi
hố đào nông, có nước ngầm. Ván cừ thép sẽ được thu hồi bằng máy nhổ
cọc hay cần trục tháp sau khi đã thi công xong tầng hầm.
c) §óng cọc thép phun vữa bê tông giữ đất. Cọc thép được đóng xuống đất
hết chiều sâu thiết kế. §ào đến đâu ta tạo mặt vòm giữa các cọc luôn bằng
cách phun vữa bê tông lên vách đất tạo thành những vòm nhỏ, chân đạp
vào các cọc giữ đất lở vào hố móng. Phương án này được áp dụng khi đất
rời, không có nước ngầm hay đất dẻo. Trường hợp này giống (a) nhưng
tiết kiệm được gỗ, cọc có thể thu hồi được.
d) Dùng cọc khoan nhồi, khoan liền nhau tạo thành vách đất chống sau đó
tiến hành đào đất. Biện pháp này áp dụng khi chiều sâu hố đào lớn, áp lực
đất lớn. Công trình là nhà xây chen cần bảo vệ xung quanh khỏi bị sụt lún.
Vách chống có thể tham gia chịu lực cùng móng công trình nhưng ít khi
sử dụng nó làm tường bao tầng hầm kém vì khả năng chống thấm của nó
không tốt. Tuy nhiên biện pháp này thi công khá đơn giản (So với thi công
tường trong đất). §ộ sâu của vách có thể thi công đến chiều sâu cần thiết
để không cần có biện pháp chống giữ vách.
e) Dùng tường trong đất. Tường được thi công theo phương pháp nhồi tạo
thành vách kín bao quanh toàn bộ công trình, sau đó tiến hành đào đất.
Tường trong đất có khả năng chống thấm tốt do đó có thể dùng làm tường


Cừ Rombas

Cừ Larssen
Cừ Beval
b. Ván cừ thép không chống làm việc dạng công xôn

Trang 22


Cọc thép
c. Đóng cọc thép sau đó phun vữa bê tông dạng vòm để giữ vách đất

d. Dùng cọc khoan nhồi liền nhau
tạo thành váh chống đất

e. Dùng các tấm bê tông đúc sẵn để
làm tường chắn đất

1

2

2

f. Dùng tường trong đất thi công từng đoạn
hay thi công liên tục

3. Mt s gii phỏp kt cu ca tng trong t :
Cỏc tng trong t s tip nhn c ti trong ngang v ti trong thng ng, vỡ


1

2

3

4

5

6

7

8

9

* Số lẻ : lỗ khoan đợt 1
* Số chẵn : lỗ khoan đợt 2
c. Các đoạn hào giao nhau
1
1

1
2

1




Trong khung cốt thép phải bố trí chỗ để ống đổ bê tông, phải đặt các tai định
vị khung ở trong hào (§ể dảm bảo lớp bảo vệ lớp bảo vệ của bê tông theo đúng
yêu cầu từ 5 ÷ 7cm). ở bên trên có hàn các thanh ngang tựa lên tường định vị,
ngoài ra còn phải hàn các chi tiết chôn sẵn để liên kết tường với đáy tầng hầm
hay với các tường ngang, dầm ngang.

H×nh 9
Gi¸ ®ì cèt thÐp

èng ®æ bª t«ng
A
Chi tiÕt ch«n s½n
®Ó t¹o hèc

A

mÆt c¾t a-a
èng ®æ bª t«ng

Tai ®Þnh vÞ

Tai ®Þnh vÞ

Mác bê tông thường dùng không lớn hơn 300 #. §ộ lớn của cốt liệu ≤ 50mm.
Bê tông phải dẻo, độ sụt 16 ÷ 20cm, thời gian ninh kết là tối đa, Bê tông được
đổ theo phương pháp vữa dâng (§ổ trong nước), phải đảm bảo đúng quy trình
thi công bê tông hiện hành.
§ể việc thi công được liên tục, đảm bảo thời gian ninh kết, người ta cố gắng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status