VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI THỌ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG GIANG
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI THỌ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG GIANG
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành
: Quản lý kinh tế
Mã số
: 8340410
2.4. Đánh giá chung về hoạt động quản lý nhà nước đối với giảm nghèo trên địa bàn
huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam........................................................................54
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM ..................................................60
3.1. Mục tiêu và phương hướng tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo trên
địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam ...........................................................60
3.2. Các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo trên
địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam ...........................................................65
3.3. Kiến nghị ............................................................................................................72
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT
Bảo hiểm y tế
CBCC
Cán bộ công chức
CP
Chính phủ
DTTS
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Dân số qua các năm của huyện Đông Giang ............................................31
Bảng 2.2. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo của Đông Giang qua các năm .......................33
Bảng 2.3. Tổng hợp kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2017 .................34
Bảng 2.4. Nguyên nhân nghèo của hộ nghèo tại huyện Đông Giang giai đoạn 20162020 ...........................................................................................................................35
DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 1. Đánh giá về hoạt động của Ban chỉ đạo giảm nghèo các cấp .......................46
Hộp 2. Đánh giá về cán bộ chuyên trách giảm nghèo cấp huyện .............................47
Hộp 3. Đánh giá về huy động nguồn lực để thực hiện công tác giảm nghèo các cấp ...50
Hộp 4. Đánh giá về công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách giảm
nghèo của huyện ........................................................................................................52
Hộp 5. Đánh giá về công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong thực hiện công
tác giảm nghèo ..........................................................................................................54
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Kết quả khảo sát các chính sách giảm nghèo đã giúp cải thiện đời sống
cho hộ nghèo .............................................................................................................41
Hình 2.2. Kết quả khảo sát về những gặp khó khăn gặp phải trong việc tiếp cận với
các chính sách xóa đói giảm nghèo ...........................................................................42
Hình 2.3. Kết quả khảo sát về hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện công tác giảm
nghèo cấp xã ..............................................................................................................45
Hình 2.4. Kết quả khảo sát về mức độ hài lòng về thực hiện công tác giảm nghèo
của cán bộ xã .............................................................................................................47
MỞ ĐẦU
và phát huy hiệu quả tích cực, huyện đã đầu tư nhiều công trình, dự án trọng điểm
và hỗ trợ thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp góp phần phát
triển kinh tế của huyện, tăng thu nhập cho người dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo. Tính đến
cuối năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm còn 36,94%, thu nhập bình quân đầu
người đạt 19,12 triệu đồng.
Những kết quả trong công tác giảm nghèo ở huyện Đông Giang mới chỉ là
bước đầu, nên còn khá nhiều bất cập như: tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra; việc sử
dụng các nguồn lực trong giảm nghèo chưa đạt được hiệu quả như mong muốn; việc
tuyên truyền nâng cao ý thức thoát nghèo cho người dân còn hạn chế... Tuy nhiên,
làm sao để thoát nghèo nhanh nhưng bền vững ở một địa bàn với đặc điểm đại bộ
phận nhân dân sống bằng nghề nông - lâm nghiệp, sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ
đang là vấn đề đang được cả hệ thống chính trị địa phương và người dân hết sức
quan tâm.
Xuất phát từ những phân tích trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về
giảm nghèo trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt
nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, vấn đề quản lý nhà nước về giảm nghèo được nhiều nhà khoa học
quan tâm, nghiên cứu với nhiều bài viết, nhiều công trình đã được công bố, xuất bản
thành sách. Có thể chia thành 2 nhóm: Nhóm các công trình nghiên cứu về xóa đói
giảm nghèo nói chung và Nhóm các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước về
giảm nghèo ở một số địa phương.
- Nhóm các công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo nói chung bao
gồm:
Báo cáo đánh giá giảm nghèo Việt Nam năm 2012 của Ngân hàng thế giới
“Khởi đầu tốt, nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam
trong giảm nghèo và những thách thức mới” đã chỉ ra được nền kinh tế Việt Nam
tăng trưởng nhanh và chuyển dịch cơ cấu sâu sắc, thành tích giảm nghèo ấn tượng
theo bất cứ chuẩn mực nào. Báo cáo nhận định, Việt Nam đã đạt được những tiến
2
năm 2018 của Ngân hàng thế giới “Bước tiến mới giảm nghèo và thịnh vượng
3
chung ở Việt Nam”. Trên cơ sở kết quả cuộc Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam
năm 2016, các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã nghiên cứu, khảo sát thu thập
thông tin, số liệu, xây dựng và công bố Báo cáo cập nhật về đói nghèo và thịnh
vượng chung ở Việt Nam năm 2018. Báo cáo đã chỉ ra từ năm 2014 đến 2016, mỗi
năm Việt Nam giảm được 1,85% hộ nghèo, cao hơn mục tiêu đề ra; vùng dân tộc
thiểu số (DTTS) giảm được 4,3% hộ nghèo, đạt mức giảm cao nhất trong các năm
gần đây. Báo cáo cũng đã chỉ rõ: Nguyên nhân chủ yếu của thành tích giảm nghèo
nhanh là do nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao, mô hình tăng trưởng gắn với giảm
nghèo và tiến bộ xã hội. Trong giai đoạn 2014-2016 Việt Nam đã tạo ra được 1,4
triệu việc làm mới trong ngành chế tạo, 70 ngàn việc làm trong ngành khách sạn,
bán lẻ, xây dựng… Bên cạnh đó, Báo cáo cũng khuyến nghị một số lĩnh vực ưu
tiên nhằm thúc đẩy giảm nghèo trong thời gian tới, bao gồm: Nâng cao năng suất
lao động, tạo ra nhiều việc làm và tăng lương; cải cách giáo dục nhằm đảm bảo sự
công bằng trong tiếp cận các cơ hội giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng
của người lao động; đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp; tăng cường trao
quyền sử dụng đất cho người DTTS và nâng cao kỹ năng cho người nghèo.
Đinh Đức Thuận và cộng sự (2005), trong “Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh
kế nông thôn ở Việt Nam“, Báo cáo trong khuôn khổ Chương trình hỗ trợ ngành
Lâm nghiệp và đối tác, đã cung cấp các khuyến nghị cụ thể cho tiến trình hoạch
định chính sách làm thế nào để rừng và sản phẩm từ rừng có thể đóng góp một cách
bền vững vào việc cải thiện điều kiện sống của những người sống phụ thuộc vào
rừng ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ rõ: ngày càng có sự chú ý tới xoá
nghèo và phát triển kinh tế trên toàn đất nước. Một thực tế đã được soi sáng là các
khu vực rừng thường trùng với các khu vực nghèo thực sự và dai dẳng. Các hoạt
động hiện nay còn đứng bên ngoài và thường chưa chú trọng xem xét làm thế nào
để sử dụng, phát triển tài nguyên rừng bền vững và mang lại lợi ích cho người dân
Đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn về quá trình thực hiện quản lý nhà nước về
giảm nghèo ở địa phương có một số công trình như luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà
nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh", của tác giả Nguyễn
Thế Tân (2015) đã đề cập đến thực trạng việc thực hiện quản lý nhà nước về giảm
nghèo bền vững tại tỉnh Quảng Ninh, qua đó tác giả đã đề xuất những giải pháp
5
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại tỉnh Quảng
Ninh.
Luận văn "Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện
Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Út Ngọc Mai (2015) đã đề cập tới một số nội
dung lý luận liên quan tới giảm nghèo bền vững và cũng đề xuất được một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về giảm nghèo bền vững từ góc độ thể chế, tổ
chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, nguồn lực, hoạt động thanh tra, kiểm tra giám sát gắn
liền với địa bàn nghiên cứu.
Phạm Bình Long (2017) với luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về giảm
nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Bình Dương” đã tập trung phân tích các điều kiện
kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương, khái quát sự thành công, kết quả của sự
nghiệp giảm nghèo bền vững của tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2016, đồng thời đánh
giá những khó khăn tồn tại và nguyên nhân trong việc thực hiện quản lý nhà nước
về giảm nghèo bền vững ở tỉnh Bình Dương trong những năm qua. Qua đó đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo
bền vững ở tỉnh Bình Dương trong những năm tiếp theo trên các phương diện ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật về giảm nghèo bền vững, tổ chức bộ máy và
bố trí nguồn nhân lực; huy động nguồn tài chính; thanh tra, kiểm tra, giải quyết
khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững.
Liêu Khắc Dũng (2017) với luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về giảm
nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” đã đánh giá hoạt
động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Hà Tiên dưới
thêm một số nội dung liên quan đến quản lý nhà nước giảm nghèo bền vững cho
huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, như:
- Các quan niệm về nghèo đói và các chuẩn mực nghèo đói
- Khái niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về
giảm nghèo.
- Thực tiễn quản lý nhà nước về giảm nghèo tại một địa bàn cụ thể là huyện
Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua, đặc biệt là những năm gần đây.
- Đề xuất các giải pháp để huyện tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về
giảm nghèo từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
7
Kế thừa các kết quả của những nghiên cứu trên, trong luận văn này, tác giả sẽ
cố gắng bổ sung, phát triển để làm rõ các vấn đề nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà
nước về giảm nghèo, chỉ ra những mặt hạn chế và nguyên nhân. Từ đó đề xuất
những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Đông
Giang, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích khái quát một số vấn đề lý luận của công tác quản lý nhà nước về
giảm nghèo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về
giảm nghèo tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam để chỉ ra những thành công,
hạn chế và nguyên nhân dẫn tới hạn chế trong công tác này.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về giảm nghèo tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
tích và giải thích các vấn đề có liên quan đến nghèo đói, giảm nghèo, giảm nghèo
bền vững, từ đó khái quát hiện trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại
huyện Đông Giang để đưa ra các giải pháp cụ thể nhăm nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của hoạt động quản lý nhà nước.
Phương pháp phân tích có sự tham gia: để phân tích giảm nghèo bền vững,
bên cạnh việc phân tích các tài liệu thứ cấp, tác giả cũng sẽ phỏng vấn các cán bộ
quản lý thuộc các cơ quan có liên quan tới công tác giảm nghèo tại huyện Đông
Giang.
Phương pháp điều tra khảo sát:
Việc điều tra khảo sát được tiến hành với 3 đối tượng là: người nghèo; cán
bộ, công chức ở các xã; cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý cấp huyện. Mục đích
chính của điều tra khảo là thu thập thông tin sơ cấp cần thiết để phân tích, đánh giá
các hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững.
Đối với người nghèo: Các phiếu điều tra dành cho đối tượng là người nghèo
được thực hiện ngẫu nhiên tại 5 xã của huyện với số lượng 150 phiếu (30 phiếu/xã).
9
Phiếu trả lời sẽ được thu thập, xử lý và sử dụng vào phân tích, đánh giá các nội
dung nghiên cứu để có được các kết quả khách quan, phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Để kết quả nghiên cứu của luận văn được khách quan, khoa học và hợp lý,
ngoài việc tập trung điều tra khảo sát đối với hộ nghèo, luận văn đã xây dựng bảng
hỏi dành cho 2 đối tượng. Đối tượng thứ nhất là cán bộ, công chức cấp xã, những
người có trách nhiệm trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo (tổng
số 11 phiếu/11 xã, thị trấn) và đối tượng thứ hai là cán bộ, công chức giữ chức vụ
lãnh đạo quản lý ở huyện (bao gồm lãnh đạo huyện phụ trách giảm nghèo và
Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện) với số lượng 02 phiếu.
Ngoài ra tác giả sử dụng các phương pháp: Quan sát, so sánh, phân tích
tổng hợp, điền dã tại cộng đồng…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
có khả năng được hưởng “một cái gì đó” ở mức độ tối thiểu cần thiết, tuy nhiên
quan niệm đói nghèo chỉ mang tính chất tương đối bởi vì nó phụ thuộc vào điều
kiện không gian, địa lý, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa
phương, từng quốc gia.
* Quan niệm của các tổ chức và chuyên gia quốc tế về đói, nghèo
Tổ chức UNDP đã đưa ra những định nghĩa về nghèo [8, tr.27] như sau:
- Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như
biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.
- Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng
chi tiêu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định
như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ
yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác.
Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại BangKok (Thái Lan), các quốc gia trong
khu vực đã thống nhất cho rằng: nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không
được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa
nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa
phương.
11
Đây chính là một khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tính
chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về
nghèo. Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa (định lượng) được bỏ ngỏ bởi
vì còn phải tính đến sự khác biệt chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã
hội và trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất mà
khái niệm này đã đưa ra được đó chính là những nhu cầu cơ bản của con người, nếu
không được thỏa mãn thì họ chính là những người nghèo đói.
Từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói, người ta đã
Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là
những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay
mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng.
- Khái niệm đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay
gắt).
+ Đói kinh niên: Là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm
đang xét.
+ Đói cấp tính: Là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều
nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.
- Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học
hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ...
- Hộ nghèo: Là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không
đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất.
- Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở
hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, trình độ dân trí thấp
v.v..
- Huyện nghèo: là huyện có tỉ lệ hộ nghèo trên 50%.
1.1.2. Chuẩn mực nghèo đói
Trong những năm qua nước ta tồn tại song song một số phương pháp xác
định chuẩn nghèo phục vụ mục đích khác nhau. Đó là cách xác định chuẩn nghèo
của Chính phủ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố và chuẩn nghèo
của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới
13
* Cách xác định đường nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới
- Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm được xác định là chi phí cần thiết mua
rổ lương thực, thực phẩm cung cấp đủ lượng Kcalo tiêu dùng bình quân 1 người 1
ngày (2.100 Kcalo). Năm 1998 chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm được xác định
vực nông thôn.
+ Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
20kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 15kg/người/tháng đối với khu
vực nông thôn.
Chuẩn nghèo lần 2: Ban hành năm 1995, quy định: Chia hộ đói nghèo trong
cả nước thành hai loại là hộ đói và hộ nghèo, chia cả nước thành 3 vùng đói nghèo
là: thành thị, nông thôn miền núi và hải đảo, nông thôn đồng bằng và trung du,
trong đó:
+ Hộ đói: Là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
13kg/người/tháng, tính cho mọi vùng.
+ Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
15kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dưới
20kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du và dưới
25kg/người/tháng đối với khu vực thành thị.
Chuẩn nghèo lần 3: Ban hành năm 1997 (Công văn số 1751/LĐTBXH ngày
20/5/1997), quy định:
Chia hộ đói nghèo trong cả nước thành hai loại là hộ đói và hộ nghèo, chia cả
nước thành ba vùng đói, nghèo là: thành thị, nông thôn miền núi và hải đảo, nông
thôn đồng bằng và trung du, trong đó:
+ Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân quy gạo dưới 13kg/người/tháng,
tương đương 45.000 đồng, tính cho mọi vùng.
+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân quy gạo dưới
15kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng tính cho khu vực nông thôn miền núi
và hải đảo, dưới 20kg/người/tháng, tương đương 70.000đ tính cho khu vực nông
thôn đồng bằng và dưới 25kg/người/tháng, tương đương với 90.000 đồng tính cho
khu vực thành thị.
Chuẩn nghèo lần 4: Ban hành năm 2000 (Quyết định số 1143/QĐ-LĐTBXH
15
thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; (2) Có thu nhập
bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ
03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (1) Có
thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; (2) Có thu nhập
bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ
03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo
lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng
trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
1.1.3. Khái niệm giảm nghèo, giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững đã được một số nghiên cứu đề cập từ trước năm 2000.
Nhưng đến năm 2008 cụm từ "giảm nghèo bền vững" được sử dụng chính thức
trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày
27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững
đối với 61 huyện nghèo; tiếp đó là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của
Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định
số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của TTCP phê duyệt chương trình giảm nghèo
bền vững giai đoạn 2012-2015 và Nghị quyết số 15 -NQ/TW ngày 1/6/2012, Hội
nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn
2012-2020. Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm
chính thức về “giảm nghèo bền vững”, nhưng trong các báo cáo (Báo cáo giảm
nghèo quốc gia năm 2008, Báo cáo giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, báo cáo thực
hiện các mục tiêu thiên niên kỷ...) hay các văn bản hành chính thì tình trạng tái
nghèo luôn được xem là “vấn đề cơ bản” đối với giảm nghèo bền vững.
xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng...
Từ khái niệm giảm nghèo, khái niệm quản lý nhà nước có thể hiểu "Quản lý
nhà nước về giảm nghèo là sự tác động của nhà nước bằng cơ chế, chính sách của tổ
18